TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA SAU ĐẠI HỌC
o0o
TIỂU LUẬN
MÔN TÀI CHÍNH QUỐC TẾ
Đề tài
:
Khủng hoảng nợ công tại Hy Lạp và bài học
kinh nghiệm cho Việt Nam
Giáo viên hướng dẫn : TS. Mai Thu Hiền
Lớp : TCNH 19ASinh viên thực hiện
: Trần Thị Quỳnh Chi (STT 10)
Trần Kim Chung (STT 12)
Phạm Thu Giang (STT 18)
Phạm Thu Hòa (STT 28)
Đặng Thị Thu Hương (STT 32)
Nguyễn Huyền Linh (STT 41)
Nguyễn Thị Thùy Linh (STT 42)
2.3 TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC CỦA KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG HY LẠP 26
2.3.1 Đối với chính Hy Lạp 26
2.3.2 Đối với ệ thống ngân hàng khu vực Châu Âu và thế giới 27
CHƯƠNG III: BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM 32
3.1 THỰC TRẠNG NỢ CÔNG Ở VIỆT NAM 32
Tiểu luận môn học tài chính quốc tế GVHD: TS. Mai Thu Hiền
2
3.1.1 Thu và chi ngân sách nhà nước 32
3.1.2 Thâm hụt ngân sách và nợ công 37
3.2 GIẢI PHÁP CHO CÔNG TÁC Q UẢN LÝ NỢ CÔNG 41
3.2.1 Công khai minh bạch thông tin về ngân sách nhà nước và nợ công 41
3.2.2 Tăng nguồn thu ngân sách và cắt giảm chi tiêu công 44
3.2.3 Nâng cao hiệu quả kinh tế 45
3.2.4 Phát triển thị trường nợ trong nước 47
KẾT LUẬN 49
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 50
Tiểu luận môn học tài chính quốc tế GVHD: TS. Mai Thu Hiền
3 MỤC LỤC BẢNG BIỂU HÌNH VẼ
Hình 1: Biểu đồ về tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm của Hy Lạp (1999-2009) 14
Hình 2: Tỷ lệ thất nghiệp của Hy Lạp (2002-2010) 15
Hình 3: Tổng nợ chính phủ so với GDP (%) 16
Hình 13: Tổng nợ công Việt Nam từ năm 2001 đến nay (% GDP) 40
Tiểu luận môn học tài chính quốc tế GVHD: TS. Mai Thu Hiền
4 LỜI MỞ ĐẦU
Khủng hoảng tài chính đang diễn ra ngày càng liên tục với cường độ
mạnh và diễn biến phức tạp gây ra những hậu quả nặng nề đối với các quốc gia
công nghiệp phát triển lẫn các nước đang phát triển. Bên cạnh khủng hoảng tài
chính, ngày nay chúng ta còn đề cập nhiều và nghiên cứu một cách nghiêm túc
hơn đến “Khủng hoảng nợ công”. Gần đây nhất, cuộc khủng hoảng nợ công
Châu Âu xuất phát từ Hy Lạp đã tốn khá nhiều giấy mực của các nhà phân tích.
Sự hiện hữu của “bóng ma” khủng hoảng nợ đã và đang làm đau đầu các
nhà lãnh đạo Liên minh Châu Âu. Chính điều đó đã đánh lên hồi chuông báo
động cho tất cả các nước trên thế giới phải suy nghĩ chin chắn về tình trạng nợ
công của chính quốc gia mình. Thiết nghĩ, việc nghiên cứu “Khủng hoảng nợ
công tại Hy Lạp và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” là việc hết sức cần thiết
và cấp bách hiện nay không chỉ ở Việt Nam mà còn trong khu vực và trên thế
giới.
Đây là đề tài khá rộng và có tính bao quát, trong giới hạn tiểu luận này,
nhóm học viên lớp Cao học 19A Tài chính Ngân hàng chỉ xin trình bày hiểu biết
khái quát về các vấn đề sau:
Chương I: Tổng quan về nợ công và khủng hoảng nợ công - Tóm tắt cơ
sở lý thuyết cho việc nghiên cứu về khủng hoảng nợ công
Chương II: Phân tích khủng hoảng nợ công tại Hy Lạp – phân tích diễn
biến cuộc khủng hoảng nợ công tại Hy Lạp và tác động của nó đến nền kinh tế
Chương III: Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam – Trình bày thực trạng
nợ công tại Việt Nam và rút ra các giải pháp hoàn thiện
Bài nghiên cứu còn nhiều thiếu sót, mong nhận được sự góp ý.
phủ trung ương và các bộ; (2) Các cấp chính quyền địa phương; (3) Các thể chế
độc lập nhưng nguồn vốn hoạt động của nó do Ngân sách nhà nước quyết định
Tiểu luận môn học tài chính quốc tế GVHD: TS. Mai Thu Hiền
6
(trên 50% vốn thuộc sở hữu nhà nước) và trong trượng hợp vỡ nợ nhà nước phải
trả nợ thay cho thể chế đó; (4) Nợ của Ngân hàng trung ương. Khái niệm nợ
công theo định nghĩa của WB được coi là thước đo toàn diện nhất
Khái niệm theo Luật quản lý nợ công Chính phủ ban hành tháng 2 năm
2009
“Nợ công được hiểu bao gồm nợ chính phủ, nợ được chính phủ bảo lãnh và
nợ chính quyền địa phương”. Trong đó:
- Nợ Chính phủ: Là các khoản nợ được ký kết, phát hành nhân danh Nhà
nước hoặc Chính phủ, các khoản nợ do Bộ Tài chính ký kết, phát hành hoặc ủy
quyền phát hành; nhưng không bao gồm các khoản nợ do NHNN Việt Nam phát
hành nhằm thực hiện mục tiêu chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ.
- Nợ được Chính phủ bảo lãnh: Là các khoản nợ của doanh nghiệp, tổ chức
kinh tế vay trong nước và nước ngoài được Nhà nước, Chính phủ đứng ra bảo
lãnh.
- Nợ của chính quyền địa phương: Là các khoản nợ do Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ký kết phát hành hoặc ủy quyền phát hành.
Vì vậy, theo Luật quản lý nợ công của Việt Nam phạm vi nợ công của nước
ta hiện nay hẹp hơn so với các tổ chức quốc tế. Nợ công không bao gồm nợ của
doanh nghiệp nhà nước, nợ của NHTW. Chính vì vậy, các số liệu thống kê về nợ
công do Chính phủ Việt Nam công bố thường có sự khác biệt so với số liệu
thông kê của các tổ chức quốc tế.
1.1.2 Bản chất kinh tế của nợ công
Nợ công xuất phát từ thâm hụt ngân sách
Xét về bản chất kinh tế, nợ công xuất phát từ thâm hụt ngân sách, hay tổng chi tiêu
của chính phủ nhiều hơn tổng các nguồn thu của mình. Để làm giảm mức thâm hụt
nhau, trong đó việc phát hành trái phiếu Chính phủ đã góp phần quan trọng tạo thêm
công cụ để ổn định và điều hòa lưu thông tiền tệ.
Tiểu luận môn học tài chính quốc tế GVHD: TS. Mai Thu Hiền
8
Thứ tư, nợ công góp phần tích cực thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế. Đối với
những khoản nợ nước ngoài sẽ tạo điều kiện cho các quốc gia vay nợ tiếp cận được
nguồn vốn mà không làm giảm đầu tư hay tiêu dùng trong nước. Hơn nữa, khi tiếp
cận với các nguồn vốn bên ngoài đòi hỏi sự nỗ lực trong việc cải cách về thể chế,
môi trường kinh doanh, cơ sở hạ tầng… của các nước vay nợ. Ngoài ra, các nước
vay nợ có thể tiếp cận đối với máy móc, thiết bị, chuyển giao công nghệ và các kỹ
năng quản lý mới. Điều này tạo điều kiện thuận lợi và cơ hội nhiều hơn để hội nhập
sâu rộng vào nền kinh tế thế giới.
Tác động tiêu cực
Nợ công tác động đến sự tăng trưởng kinh tế và ổn định môi trường kinh tế vĩ mô
Nếu nợ công được thực hiện bằng nguồn vay nợ trong nước sẽ đẩy mặt bằng lãi suất
lên cao, kết quả làm tăng chi phí đầu tư, giảm nhu cầu đầu tư của nền kinh tế và có
thể dẫn đến “hiệu ứng thoái lui đầu tư”. Vay nước ngoài, tác động thoái lui đầu tư có
thể được hạn chế do giảm bớt căng thẳng về lãi suất nhưng lại có thể gây ra sự bất ổn
về tỷ giá, từ đó, khiến cho hoạt động đầu tư bị sụt giảm, điều này tác động làm suy
giảm kinh tế cùng với sự gia tăng lãi suất trong nước. Bên cạnh đó, việc lệ thuộc quá
nhiều vào các khoản nợ nước ngoài cũng sẽ làm giảm vị thế chính trị của quốc gia,
ảnh hưởng đến ổn định môi trường kinh tế vĩ mô.
Nợ công tác động làm tăng lãi suất, tạo áp lực gây ra lạm phát.
Lạm phát được tạo ra bởi hai nguyên nhân chính: do tổng cầu tăng hoặc do chi phí
đẩy. Chính phủ tăng vay nợ bằng phát hành trái phiếu, một mặt làm tiêu dùng của
chính phủ tăng lên, một mặt sẽ tạo áp lực đẩy lãi suất lên cao. Khi tăng vay nợ trong
nước, lãi suất tăng làm tăng chi phí đầu tư, tăng giá thành và giá bán sản phẩm. Khi
chính phủ tăng vay nợ nước ngoài, một dòng ngoại tệ lớn sẽ chảy vào trong nước có
thể giảm sức ép cân đối ngoại tệ trong ngắn hạn. Về mặt dài hạn, áp lực trả nợ cả gốc
Khủng hoảng nợ công là tình trạng nợ công tăng cao (vỡ nợ), làm chao đảo nền kinh
tế do sự mất cân đối giữa thu và chi ngân sách quốc gia. Nhu cầu chi quá nhiều,
trong khi thu không đáp ứng nổi, chính phủ đi vay tiền thông qua nhiều hình thức
như phát hành công trái, trái phiếu, hiệp định tín dụng,… để chi, từ đó dẫn đến tình
Tiểu luận môn học tài chính quốc tế GVHD: TS. Mai Thu Hiền
10
trạng nợ không có khả năng hoàn trả. Thâm hụt ngân sách kéo dài làm cho nợ công
gia tăng. Nợ không trả sớm, để lâu thành "lãi mẹ đẻ lãi con" và ngày càng chồng chất
thêm.
1.2.2 Nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng nợ công
Nợ chồng lên nợ và sự tham nhũng của chính quyền
Một trong những nguyên nhân của khủng hoảng nợ là do sự cộng dồn của các
món nợ. Lãi chồng lên lãi, cộng vào gốc và lại tiếp tục bị tính lãi cho khoản gốc mới.
Không có biện pháp nào với thời gian ân hạn dài hơn, lãi suất thấp hơn hoặc các
khoản trả dần lâu hơn thực sự đem lại thành công giúp các nước nghèo thoát khỏi
khối nợ nần chồng chất.
Một lý do khác cho những món nợ khổng lồ là sự tham nhũng và tham ô tiền bạc
của một nhóm người ở các nước đang phát triển. Rất nhiều khoản cho vay đi kèm
cùng các điều kiện bao gồm ưu tiên xuất khẩu…Hệ lụy là nhiều tiền hơn chảy ra
khỏi các nước đang phát triển thay vì được về. Hầu hết các quốc gia có hệ số nợ cao
đều là các nuớc nghèo, trình độ dân trí thấp, chính quyền quan liêu, tham nhũng…
Nợ trong quá khứ
Lịch sử hình thành nên các món nợ của các nước thế giới thứ ba là lịch sử của
những nguồn tài chính quốc tế khổng lồ được chuyển dịch từ những dân tộc nghèo
đói nhất. Quy trình này là một vòng xoáy dai dẳng của những khoản nợ phát sinh và
cứ thế được nhân lên với qui mô lớn hơn từ món gốc ban đầu và nó chỉ thực sự chấm
dứt nếu như khoản nợ thực sự được hủy bỏ. Theo như tài liệu nghiên cứu “Effects of
debt on human rights” của Mr. El Hadji Guissé for current UN Sub Commission on
Human Rights (E/CN.4/Sub.2/2004/27)”, nợ công của các nước đang phát triển một
18,4%), lạm phát cao chưa từng thấy. Tỷ lệ lạm phát trung bình của các nước Mỹ
Latin năm 1982 là 86%; 1984 là 175%, thậm chí mức lạm phát của Bolivia năm này
lên tới 2300%.
Tiểu luận môn học tài chính quốc tế GVHD: TS. Mai Thu Hiền
12
Khủng hoảng nợ làm cho tình hình chính trị bất ổn. Trong cuộc khủng hoảng nợ
những năm 1980, có rất nhiều các chính thể cầm quyền bất lực ở một số nước Mỹ La
Tinh đã bị lật đổ trước sức ép của kinh tế trong cuộc khủng hoảng nợ ví dụ như Chi
Lê, Bra- xin…
Khủng hoảng nợ đẩy các nước đang phát triển vào tình thế lệ thuộc càng sâu sắc
hơn về mặt kinh tế và chính trị vào thế giới tư bản. Các nước giàu càng có dịp mở
rộng hơn nữa quyền bóc lột và cơ hội can thiệp và chính sách đối nội của các nước
đang phát triển, làm xói mòn sự tự chủ về kinh tế và tiến bộ xã hội. Điển hình trong
cuộc khủng hoảng nợ những năm 1980, Mỹ có ý định biến Mỹ La Tinh trở thành
“sân sau” của mình.
Khủng hoảng nợ khiến cho người dân ngày càng nghèo đói. Vào những năm
1970 , những nước nghèo nhất thế giới (khoảng 60 nước có thu nhập thấp nhất theo
WB) gánh chịu một khoản nợ 25 triệu USD. Đến năm 2002, con số này là 523 triệu
USD, trong đó nợ IMF và WB khoảng 153 triệu USD.
Đối với các nước chủ nợ
Nền kinh tế của các nước tư bản chủ nợ trong thời kỳ diễn ra khủng hoảng nợ
cũng thường khá u ám. Theo tính toán của các nhà kinh tế, nếu trong một năm Bra-
xin không trả nợ thì GDP của Mỹ sẽ giảm 2.5 tỷ USD. Cuộc khủng hoảng nợ những
năm 1980 đã làm cho hơn 1 triệu người Mỹ thất nghiệp do Mỹ La Tinh giảm nhập
khẩu các mặt hàng từ Mỹ, tương đương với việc mất 150 000 chỗ làm ở Mỹ. Thêm
vào đó để có nguồn tài chính giúp các nước khủng hoảng, Mỹ đã tăng thuế thu nhập
ở trong nước. Kinh tế, xã hội các nước chủ nợ cũng bị ảnh hưởng từ khủng hoảng
nợ.
Khi các nước con nợ lớn như Brazil hay Mexico tuyên bố ngừng trả nợ thì có
quân giai đoạn 2000-2009, GDP của Hy Lạp tăng khoảng 3,1%. GDP năm 2009 đạt
khoảng 333 tỷ USD, thu nhập bình quân đầu người đạt khoảng 15360 USD/năm
(khoảng 29000 USD/năm theo PPP).
Hình 1: Biểu đồ về tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm của Hy Lạp (1999-2009)
Tiểu luận môn học tài chính quốc tế GVHD: TS. Mai Thu Hiền
15
Nguồn: TradingEconomics.com; NSS
Kinh tế Hy Lạp tăng trưởng hàng năm từ 2004-2007 khoảng 4% do một phần
là chi tiêu cho Thế vận hội Athens 2004 và phần còn lại là sự gia tăng của tín dụng
mà đóng góp đáng kể là sự gia tăng của tín dụng tiêu dung. Năm 2008, tốc độ tăng
trưởng của Hy Lạp chỉ còn là 0,7%. Năm 2009 GDP tăng trưởng âm đạt mức -2,5%
là kết quả của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới, các biện pháp tín dụng và thất bại
của Athens để giải quyết thâm hụt ngân sách ngày càng tăng, gây ra do các nguồn
thu của nhà nước không kịp với nhu cầu chi tiêu của chính phủ, thậm chí một số loại
thuế còn phải chịu áp lực cắt giảm do nhiều nguyên nhân khác nhau.
Nợ công, lạm phát, thất nghiệp của Hy Lạp luôn ở mức cao so với khu vực
Eurozone. Năm 2009, tình trạng thất nghiệp tăng cao lên đến 9,4% là do những tác
động của khủng hoảng tài chính.
Hình 2: Tỷ lệ thất nghiệp của Hy Lạp (2002-2010) Nguồn: TradingEconomics.com; European Commission
Đến tháng 2/2009 thủ tướng Hi Lạp thừa nhận rằng nền kinh tế Hi Lạp đang
trong tình trạng cần đặc biệt quan tâm khi bộ trưởng tài chính Châu Âu nhấn mạnh
mối lo ngại về qui mô khoản nợ công rất lớn của đất nước này.
Tiểu luận môn học tài chính quốc tế GVHD: TS. Mai Thu Hiền
16
cho thấy tính nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng tại Hy Lạp. Nguy hiểm hơn, nền
kinh tế lớn thứ 27 thế giới này rất có thể chỉ là kíp nổ của toàn bộ hệ thống tài chính,
tiền tệ châu Âu.
So sánh thâm hụt ngân sách (thanh màu đỏ) và nợ (thanh màu vàng) của Hy
Lạp với một số quốc gia châu Âu trong năm 2009.
Hình 4: Thâm hụt ngân sách và tỷ lệ nợ của một số quốc gia Châu Âu 2009
Nguồn: EC
Chúng ta có thể thấy thâm hụt ngân sách và tỷ lệ nợ so với GDP của Hi Lạp
rất lớn và đứng đầu so với các nước. Các tỷ lệ này cho thấy các tiêu chí của thành
viên EU ở ngay cả Đức cũng không được thực hiện đúng (nợ lớn hơn 60% GDP và
thâm hụt ngân sách 3.5% GDP)
Kể từ cuối năm 2009, niềm tin của các nhà đầu tư vào chính phủ Hiy Lạp trở
nên lung lay. Sau khi công bố tỷ lệ thâm hụt ngân sách quá lớn ở ngưỡng 12,7%
GDP, trái phiếu của Hy Lạp đã bị đánh tụt hạng bởi ba nhà xếp hạng tín dụng hàng
đầu. Các nước có nợ nước ngoài lớn như Hy Lạp là mối quan tâm hàng đầu của các
nhà đầu tư. Nhiều luận điệu về việc chính phủ Hy Lạp đã làm giả các số liệu thống
kê và không minh bạch mức độ nợ thông qua các công cụ tài chính phức tạp cũng
Tiểu luận môn học tài chính quốc tế GVHD: TS. Mai Thu Hiền
18
góp phần làm mất lòng tin cho các nhà đầu tư. Trước khủng hoảng nợ, lợi tức trái
phiếu 10 năm của Hy Lạp là 10 đến 40 điểm cơ bản , lớn hơn trái phiếu 10 năm của
Đức. Chênh lệch điểm mua bán cao thể hiện sự mất lòng tin của các nhà đầu tư vào
nền kinh tế Hy Lạp.
Hình 5: Lợi suất trái phiếu 10 năm của Hy Lạp so với trái phiếu cùng loại của Đức.
Ngày 3/11/2009, Ủy ban Châu Âu (EC) dự báo mức thâm hụt ngân sách của
Hy Lạp là 12,7% trong năm 2009 và 12,2% trong 2010. Ngày 8/12/2009 khủng
hoảng leo thang khi trái phiếu của quốc gia này sụt giảm nhanh chóng sau khi bị tổ
(tương đương 2.07 tỷ usd) vào giữa tháng 4/2010 dù ở mức lãi suất khá cao. Tuy
nhiên, Hy Lạp vẫn cần phải vay thêm 54 tỷ euro (tương đương 71.8 tỷ USD) để trả
các món nợ đến hạn và trả lãi vào năm 2010, do đó vẫn tồn tại những lo ngại về khả
năng của chính phủ.
Cuối tháng 3/2010, các thành viên của liên minh châu Âu thông qua cam kết
tài trợ tài chính cho Hy Lạp phối hợp cùng với IMF nếu cần thiết và nếu chính phủ
Hy Lạp yêu cầu. Vào giữa tháng 4/2010, chi tiết gói cứu trợ trong năm được thông
qua: 1/3 khoản vay trong năm trị giá 30 tỷ euro (40 tỷ usd) với mức lãi suất 5%, cao
hơn so với các nước nam Âu vay, nhưng thấp hơn tỷ suất từ các nhà đầu tư tư nhân
đối với trái phiếu Hy Lạp. Người ta kỳ vọng rằng với sự dàn xếp của IMF, các khoản
Tiểu luận môn học tài chính quốc tế GVHD: TS. Mai Thu Hiền
20
vay theo chuẩn IMF nhằm mục đích giúp các nước giải quyết những khó khăn trong
cán cân thanh toán trị giá 15 tỷ euro (khoảng 20 tỷ usd) trong năm sẽ được rót trước
cho Hy Lạp bởi các thành viên EU.Tuy nhiên các nhà đầu tư lại một lần nữa lo ngại
khi Eurostat đưa ra ước tính về thâm hụt ngân sách của Hy Lạp ở mức 13.6% GDP,
cao hơn báo cáo của chính phủ Hy Lạp đưa ra vào tháng 10/2009. Điều này lại dẫn
đến lo ngại về khả năng thanh toán nợ của Hy Lạp, với 8.5 tỷ euro (khoảng 11.1 tỷ
usd) đến hạn vào giữa tháng 5/2010. Ngày 23/4/2010, chính phủ Hi Lạp đã trịnh
trọng yêu cầu các gói cứu trợ tài chính từ IMF và các nước khác của khu vực châu
Âu. Cộng đồng châu Âu loại trừ Đức đã yêu cầu việc cắt giảm ngân sách của Hy Lạp
cho các năm 2010, 2011 và 2012 phải được thông qua trước khi đưa ra các gói cứu
trợ.
2.2 NGUYÊN NHÂN CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG NỢ
Tác nhân bên ngoài và rõ nét nhất thường được các nhà lãnh đạo EU đề cập là
tác động của cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008. Để cứu vãn nền kinh tế khỏi cơn
suy thoái, chính phủ Hy Lạp đã tung ra những gói hỗ trợ khổng lồ nhằm kích thích
kinh tế phát triển. Gói hỗ trợ này làm gia tăng chi ngân sách và nợ công một cách
đáng kể. Tuy nhiên thực trạng này diễn ra ở hầu hết các nước trên thế giới không chỉ
70% lên 80% là khá cao và tương tự là quyền được hưởng toàn bộ trợ cấp lương hưu
chỉ đòi hỏi 35 năm đóng góp so với 40 như nhiều nước khác. Hơn thế nữa, tổng các
khoản thanh toán cho trợ cấp công cộng của Hy Lạp dự đoán là sẽ tăng từ
11.5%GDP năm 2005 lên 24% GDP vào 2050.
Ngược lại với khoản chi, các khoản thu sụt giảm cũng góp phần vào thâm hụt
ngân sách Hy Lạp. Nhiều nhà kinh tế chỉ ra rằng vấn nạn trốn thuế và nền kinh tế
không được ghi chép của nước này là nhân tố chính cho việc mất khả năng thanh
toán. Họ cho rằng Hy Lạp phải giải quyết vấn đề này nếu muốn tăng thu cần thiết để
nâng cao vị thế tài chính. Một vài nghiên cứu đã ước lượng nền kinh tế ngầm ở Hi
Lạp chiếm 25-30% GDP.
Vấn đề chính sách và năng lực cạnh tranh
Tiểu luận môn học tài chính quốc tế GVHD: TS. Mai Thu Hiền
22
Nền công nghiệp của Hy Lạp đang trải qua sự sự giảm sút về cạnh tranh quốc
tế. Các nhà kinh tế cho rằng vấn đề tiền lương và năng suất lao động thấp cũng là
những tác nhân chính. Theo bảng bên dưới, chúng ta có thể thấy rằng mức độ cạnh
tranh của Hy Lạp rất thấp chỉ xếp thứ 109 về những quốc gia thuận lợi kinh doanh
năm 2009 bị bỏ xa so với các nước trong khu vực và đặc biệt là Ai Len.
Bảng 1: Mức độ cạnh tranh của một số nước châu Âu năm 2009
Country Ranking
Greece 109
Ireland 7
Italy 78
Potugal 48
Spain 62
Nguồn: WB (theo Anne Sibert, Birbeck, University of London and CEPR - The Greek
sovereign debt crisis and the Eurosystem)
Theo một nghiên cứu, mức độ chi tiền công của Hy Lạp đã tăng khoảng 5%
là nhân tố góp phần vào mức độ nợ cao của Hy Lạp. Năm 1997, các thành viên EU
đã thông qua hiệp ước này nhằm nâng cao mức độ giám sát và tuân theo các qui tắc
tài chính được tạo lập trong hiệp định Maastricht 1992. Theo như qui định thì thâm
hụt ngân sách không được vượt quá 3% GDP và nợ không được quá 60% GDP.
Hiệp ước cũng chỉ rõ qui trình thâm hụt quá mức được phép của các thành viên. Nếu
như các nước thành viên không thể áp dụng được theo phương pháp của ủy ban châu
Âu trong giai đoạn thâm hụt quá mức, thì mức tốt nhất được đưa ra là 0.5%GDP.
Tuy nhiên khi số lượng thành viên gia tăng việc tuân thủ theo những giới hạn
được đặt ra theo hiệp định trở nên khó khăn. Từ năm 2003, có hơn 30 trường hợp
thâm hụt quá mức và những thành viên bị khiển trách đã buộc phải hứa hẹn sẽ thắt
chặt tài chính, nhưng EU chưa bao giờ can thiệp bằng những biện pháp tài chính vào
các thành viên để xảy ra tình trạng phá bỏ những giới hạn cho phép về thâm hụt ngân
sách. Việc thiếu tính tuân thủ vào hiệp định về sự phát triển và ổn định đã giới hạn
Tiểu luận môn học tài chính quốc tế GVHD: TS. Mai Thu Hiền
24
vai trò của nó trong việc ngăn ngừa các nước khỏi tình trạng nợ công quá cao như Hi
Lạp.
Ủy ban châu Âu đã bắt đầu những thẩm định về thâm hụt ngân sách đối với
Hy Lạp vào 2004 khi Hy Lạp báo cáo về tình hình thâm hụt ngân sách của nước này
vào năm 2003 là 3.2% GDP. Trong báo cáo của mình ủy ban đã chỉ ra rằng “chất
lượng của các số liệu công là không thỏa đáng”, không chỉ có phòng thống kê của
EU mà của Eurostat cũng không công nhận hay là có những yêu cầu sửa đổi số liệu
do cục thống kê quốc gia của Hy Lạp đưa ra từ năm 2000. Xem xét lại các báo cáo
thống kê từ 2004 đến 2007 cho thấy Hy Lạp đã vượt quá 3% giới hạn mỗi năm kể từ
2000, đạt mức cao nhất là 7.9% GDP năm 2004 . Ủy ban cũng thông báo rằng nợ
công của Hy Lạp trên mức 100% GDP từ khi Hy Lạp ra nhập các nước sử dụng
đồng euro, những con số này đã đẩy mức nợ công lên cao vọt. EU đóng thẩm định
về thâm hụt nợ vào năm 2007 với thông báo thỏa đáng rằng Hy Lạp thâm hụt ngân
sách là 2.6% GDP năm 2006 và 2.4% năm 2007.