TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN
KHOA SINH-KTNN
&
SƯU TẦM, PHÂN LOẠI THUỐC CÓ
NGUỒN GỐC TỪ ĐỘNG VẬT
GV hướng dẫn:Nguyễn Văn BanQuy Nhơn tháng 11/2011
1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN
KHOA SINH-KTNN
&
Tên tác giả:
1. Hoàng Hải Châu
2. Lê Thị Hân
3. Võ Thị Trọng Hoa
4. Lê Thị Thiên Kim
5. Trần Thị Ngân
6. Võ Thị Thu Phương
7. Nguyễn Thị Trang
SƯU TẦM, PHÂN LOẠI THUỐC CÓ
NGUỒN GỐC TỪ ĐỘNG VẬT
Giáo viên hướng dẫn: TS. Nguyễn Văn Ban
Quy Nhơn tháng 11/2011
2
LỜI NÓI ĐẦU
Thuốc là những chất( dược liệu) phòng và chữa bệnh cho con người, nó có nguồn gốc từ
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1. Những nét đặc trưng của hệ động vật Việt Nam
Việt Nam là một nước nhiệt đới gió mùa. Do vị trí địa lý, Việt Nam rất đa dạng về địa
hình, kiểu đất, cảnh quan, có đặc trưng khí hậu khác nhau giữa các miền. Đặc điểm đó là cơ sở
4
rất thuận lợi để giới sinh vật phát triển đa dạng về thành phần loài, phong phú về số lượng. Tuy
nhiên, trong quá trình phát triển kinh tế -xã hội, mức độ đa dạng sinh học ở Việt Nam có nhiều
thay đổi theo thời gian.
Tập hợp các dẫn liệu nghiên cứu, điều tra cơ bản đã có từ trước đến nay, thành phần động
vật ở Việt Nam được thống kê thì bò sát có 296 loài chiếm 4,7% so với thế giới (số loài có trên
thế giới là 6.300)
Khu hệ động vật: cho đến nay đă thống kê được 307 loài giun tròn, 161 loài giun sán ký
sinh ở gia súc, 200 loài giun đất, 145 loài ve giáp, 113 loài bọ nhảy, 7.750 loài côn trùng, 260
loài bò sát, 120 loài ếch nhái, 840 loài chim, 310 loài và phân loài thú.
Trong hệ thống các khu bảo vệ vùng Đông Dương - Mã Lai của IUCN, Việt Nam được
xem là nơi giàu về thành phần loài và có mức độ đặc hữu cao so với các nước trong vùng phụ
Đông Dương. Động vật giới Việt Nam có nhiều dạng đặc hữu: hơn 100 loài và phân loài chim,
78 loài và phân loài thú đặc hữu. Riêng trong số 25 loài thú linh trưởng đă được ghi nhận thě ở
Việt Nam có tới 16 loài, trong đó có 4 loài và phân loài đặc hữu của Việt Nam, 3 phân loài chỉ
phân bố ở Việt Nam và Lào, 2 phân loài chỉ có ở vùng rừng hai nước Việt Nam - Cămpuchia.
Đa dạng loài trong hệ sinh thái đất ngập nước nội địa
- Cho đến nay đã thống kê và xác định được 794 loài động vật không xương sống. Trong đó,
đáng lưu ý là trong thành phần loài giáp xác nhỏ, có 54 loài và 8 giống lần đầu tiên được mô tả
ở Việt Nam. Riêng hai nhóm tôm, cua (giáp xác lớn) có 59 loài thì có tới 7 giống và 33 loài
(55,9% tổng số loài) lần đầu tiên được mô tả. Trong tổng số 147 loài trai ốc, có 43 loài (29,2%
tổng số loài), 3 giống lần đầu tiên được mô tả, tất cả đều là những loài đặc hữu của Việt Nam
hay vùng Đông Dương. Điều đó cho thấy sự đa dạng và mức độ đặc hữu của khu hệ tôm, cua,
trai, ốc nước ngọt nội địa Việt Nam là rất lớn.
- Theo các dẫn liệu thống kê, thành phần loài cá các thủy vực nước ngọt nội địa Việt Nam bao
gồm trên 700 loài và phân loài, thuộc 228 giống, 57 họ và 18 bộ. Riêng họ cá chép có 276 loài
Mường Tè, Điện Biên Phủ ở cực Tây bắc đến Trung bộ và Nam bộ) và Hoa Nam (vùng Bắc
bộ). Địa hình đa dạng và phức tạp với hai vùng đồng bằng lớn là châu thổ Sông Hồng ở phía
bắc và Sông Cửu long ở phía nam, có hai dãy núi lớn là Hoàng Liên Sơn và Trường Sơn với
nhiều vùng có độ cao trên 2.000m và các cao nguyên nhỏ như Đồng Văn, Mộc Châu, Sơn La,
Gia Lai-Kon Tum, Đắc Lắc, Di Linh, vv. Ở phía Bắc, hầu hết các dãy núi đều thấp dần từ Bắc
xuống Nam và có hướng chung với các dãy núi ở phía Nam Trung Quốc. Điều này tạo điều
kiện cho sự xâm nhập của các yếu tố hệ động vật vào miền Bắc Việt như các loài tắc kè,
hoẵng, bọ cạp, các loại gấu, báo,
6
Việt Nam nằm ở vành đai khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa với tổng lượng bức xạ đạt 110-
120 calo/cm
2
/năm, nhiệt độ trung bình năm khác nhau giữa miền Bắc (23,4
0
C - Hà Nội) và
miền Nam (27
0
). Các yếu tố địa chất, địa hình và khí hậu đa dạng như vậy dẫn đến Việt Nam
có hệ động vật khá phong phú, từ các loài động vật quý hiếm đến động vật có số lượng lớn ,
lượng mưa trung bình hàng năm nói chung vượt 1.500 mm nhưng phân bố không đều trong
năm, lượng mưa thường lớn hơn 2 lần lượng bốc hơi. Khí hậu nhiệt đới gió mùa có mùa Đông
lạnh ở miền Bắc (từ vĩ tuyến 18
0
Bắc trở ra) và khí hậu nhiệt đới gió mùa ở phía Nam. Điều
này làm cho động vật phân bố khá rộng và đặc trưng theo vùng.
2.1.2. Điều kiện xã hội
Việt Nam là nơi giao lưu của các dân tộc và các nền văn hoá trong đó quan trọng nhất là
hai luồng văn hoá Trung Hoa và Ấn Độ, là ngôi nhà chung của 54 dân tộc, thuộc 3 họ ngôn ngữ
và 8 nhóm khác nhau là Việt-Mường, Môn-Khme, Tày-Thái, H'Mông- Dao, Khađai, Malayo-
Polynesian, Hán, Tạng-Miến. Trong đó cộng đồng người Việt (Kinh) có dân số lớn nhất, chủ
sống, chẳng hạn như các loại côn trùng (tằm, dế, ve sầu…); các lớp thân mền (ốc, hến…);
lớp giáp xác (bò cạp, tôm, cua… )…Đây không những là nguồn thức ăn bổ dưỡng mà
còn được con người sử dụng làm nguồn dược liệu vô cùng quí giá.
− Động vật có xương sống:
Đây là ngành lớn nhất của động vật có dây sống và bao gồm phần lớn các động vật
mà nói chung rất quen thuộc đối với con người: cá, lưỡng cư, bò sát, chim, động vật có
vú. Chúng có khu phân bố rộng và chiếm số lượng lớn khoảng 57.739 loài. Trong số đó
các loài được dùng làm thuốc chiếm số lượng tương đối lớn chẳng hạn như: cóc chữa
bệnh suy dinh dưỡng ở trẻ em; ếch chữa bệnh nhiệt, phù thũng; cá trắm chữa bệnh suy
nhược, biếng ăn, cảm lạnh, đau đầu; chim bồ câu chữa bệnh mất ngủ, thần kinh suy
nhược;…
Tóm lại, thuốc có nguồn gốc từ động vật đã, đang và được con người đưa vào sử dụng
rộng rãi, dần dần được thay thế bởi các loại thuốc được tổng
hợp bằng con đường hóa học.
2. Phương pháp nghiên cứu
2.1. Nghiên cứu qua thực tế kinh nghiệm
Qua tham khảo các ý kiến của các bác sĩ, người thân, bạn bè đã từng sử dụng
thuốc có nguồn gốc từ động vật để chữa bệnh, từ đó học hỏi những kinh nghiệm sẵn có
để áp dụng vào thực tiễn. Sau đó đưa ra các bài thuốc từ động vật nhằm mục đích phòng
và chữa bệnh một cách có hiệu quả.
9
2.2. Qua sách báo, internet
Chúng tôi đã thông qua các sách y học, báo chí, internet… để tổng hợp nên các
bài thuốc có nguồn gốc từ động vật để phục vụ cho muchj đích chữa bệnh của con người.
Chẳng hạn như: sách y học cổ truyền, giáo trình động vật có xương sống, giáo trình động
vật không xương sống, tạp chí y dược; Các trang web: đông dược, sức khỏe đời sống, các
diễn đàn y học, tailieu.vn, y học dược liệu…Các báo: báo sức khỏe, việt báo…
Bài học:
Thông qua việc tìm hiểu các loại thuốc từ động vật chúng tôi muốn giới thiệu cho
mọi người biết thêm giá trị của những động vật có ở xung quanh mình. Từ đó, giúp
đau, nôn khan.
Ở một số tỉnh miền núi như Cao Bằng, Lạng Sơn, Yên Bái, người ta tìm tổ ong bò
vẽ để lấy nhộng ong và ong non về làm thức ăn bồi dưỡng cho trẻ nhỏ gầy yếu, kém ăn,
chậm lớn.
1.3. Một số bài thuốc:
11
Ong vò vẽ 100-150 con vặt bỏ cánh, rũ sạch đất cát, ngâm vào 1 lít rượu 40-50 độ,
để càng lâu càng tốt. Ngày uống 2-3 lần, mỗi lần một chén nhỏ, giúp chữa đau khớp,
nhức xương; hoặc xoa bóp chữa tụ máu, bầm tím. Người bị bệnh thận, phổi và tim không
nên dùng.
Dịch chiết từ ấu trùng ong được pha chế thành dạng nước uống có tên là VAAM
(Vespa amino acid mixture) có tác dụng làm tăng và bền sức rất mạnh. Thuốc được dùng
cho những vận động viên chạy đường dài (marathon).
2. KIẾN ĐEN (Polyrhachis dives Smith)
2.1. Mô tả: Là côn trùng không cánh ,
toàn thân dài 1,3-1,5 cm, màu đen bóng. Sống
thành đàn lớn ở rừng núi, làm tổ dưới đất; đến
mùa mưa lũ, lại kéo nhau lên cây để xây tổ
tránh lụt.
2.2. Công dụng:
Kiến đen chứa 40-67% protein gồm nhiều
loại acid amin, trong đó có 8 chất không thay thế được. Tên thuốc trong y học cổ truyền
là hắc mã nghị, được dùng sống. Dược liệu có vị mặn, cay, hơi độc, có tác dụng thanh
nhiệt, giải độc, tiêu thũng, giảm đau.
2.3. Cách dùng:
Hằng ngày, lấy kiến đen rửa sạch, xào với mướp đắng ăn; kết hợp lấy kiến ngâm
dầu (dầu thầu dầu hoặc dầu lạc) để một thời gian, dùng xoa bóp chữa viêm khớp, tê thấp,
viêm gan mạn tính. Dùng ngoài, giã nát kiến đen đắp chữa mụn nhọt, rắn cắn.
Trứng kiến đen thường được đồng bào các dân tộc miền núi ở phía Bắc thu về để
thổi xôi ăn hằng ngày làm thuốc bổ, tăng cường thể lực. Phụ nữ cho rằng ăn nhiều trứng
13
- Trường hợp người già tiểu tiện khó khăn: Dế mèn 4 con, dế dũi 4 con. Nếu không có
đủ hai loại dế thì dùng 8 con, một loại cũng được. Đem ngắt bỏ chân cánh, bỏ đầu, rút
ruột.
4. NHỆN
4.1. Nhện nâu:
Mô tả: Còn gọi là tri thù, võng công, võng trùng, nguyên
thù có tên khoa học là Anaea ventricosa (L.Kock),
thuộc họ nhện tròn – Argiopidae.
4.1.1 Tính chất: Theo dược học cổ truyền, nhện nâu
vị đắng, tính lạnh, có độc.
4.1.2 Công dụng và cách làm:
Có công dụng giải độc tiêu thũng, chỉ thống khứ phong, được dùng để chữa các chứng
sa tinh hoàn, trúng phong miệng méo, trẻ em kinh giật, cấm khẩu, cam tích, tràng nhạc,
đinh thũng, lở ngứa, vết thương do rắn rết, ong, bò cạp đốt Trong sách Lĩnh Nam bản
thảo, Hải Thượng Lãn Ông đã viết: "Tri thù tục gọi là con nhện; ít độc, hơi hàn nên phân
biện; chữa ôn ngược, đinh, mụn, trúng phong; trẻ em bụng to, lợi tiểu tiện".
Một số bài thuốc đơn giản sử dụng nhện nâu:
- Đinh thũng ác sang: (1) Nhện lượng thích hợp giã nát đắp vào chỗ đau. (2) Nhện bỏ đầu
lượng thích hợp giã nát với một chút đường đỏ rịt vào tổn o thương. (3) Nhện bỏ đầu
lượng thích hợp trộn với một ít cơm chua và muối ăn rồi giã nát, đắp vào chỗ đau.
- Nha cam tẩu mã: Nhện 1 con, gỉ đồng nửa tiền, một chút xạ hương, tất cả đâm nát xát
vào tổn thương.
- Polip mũi: Nhện và đường đỏ lượng vừa đủ, giã nát bôi vào tổn thương.
- Viêm amidan: Nhện 7 con, bọ ngựa 1 con, móng tay người 3g, xà thoái 1 cái, tất cả sao
tồn tính, tán bột, mỗi lần dùng một chút thổi vào trong họng.
14
- Đái dầm: Ăn nhện nướng thật chín.
- Rết, bọ cạp đốt: lấy nhện nghiền lấy nước bôi. Người bị ong châm, rết cắn có nọc độc,
bắt nhện còn sống để vào chỗ đau cho nó hút hết nọc độc, sau đó cho vào nước lạnh
4.3.2 Tính chất: tương tự
4.3.3 Công dụng:
- Khi bệnh nhân đang lên cơn suyễn, thở rất khó khăn, thì bắt nhện nhà nướng chín
và cho ăn ngay, chỉ trong 2 phút sau thì bệnh nhân hết suyễn ngay lập tức. Nếu bệnh nhân
đã bị suyễn trên 19 hoặc 20 năm cũng chỉ ăn 19 đến 20 con nhện là hết bệnh và người
bệnh sẽ tăng cân khoảng 10 - 15kg trong vòng một năm, phục hồi sức khoẻ liền sau đó.
- Chữa đái dầm trẻ em: bắt mấy con nhện nhà, loại to, nướng thật chín, cho các
cháu ăn, thì sẽ khỏi.
5. TẰM:
5.1 Bạch cương tàm:
16
5.1.1 Mô tả: Những con tằm tự nhiên bị bệnh mà chết thường được sấy khô dùng làm
thuốc, gọi là bạch cương tàm. Bạch cương tàm dài chừng 3,5 cm, đường kính 5 mm,
hình cong queo, bề ngoài màu trắng bẩn (hoặc màu nâu, hơi lốm đốm trắng); chất cứng
nhưng giòn; khi bẻ đôi, vết bẻ có màu xanh nâu.
Tên khoa học: Bombyx mori L., họ Tằm tơ (Bombycidae)
5.1.2 Tính chất: Mùi nặng, vị hơi đắng.
5.1.3 Công dụng và cách làm: Bạch cương tàm có tác dụng chữa nhiều bệnh như vết
đen sạm trên mặt, viêm amiđan cấp tính. Dân gian dùng bạch cương tàm để chữa nhiều
bệnh của trẻ em như kinh giản, co giật, khóc đêm. Nó cũng có thể chữa cảm, mất tiếng,
xuất huyết não, cổ họng sưng đau, liệt dương, băng huyết, khí hư trắng hay đỏ, đẻ xong
đau bụng. Sau đây là 3 bài thuốc cụ thể.
- Vết đen sạm trên mặt: Bạch cương tàm tán nhỏ, hòa với nước, bôi vào vết sạm; những
vết này sẽ mất dần.
- Thiên đầu thống (glaucoma): Bạch cương tàm 4-8 g tán nhỏ, hòa với nước chè uống,
thỉnh thoảng uống cùng với nước hành.
- Viêm amiđan cấp tính: Bạch cương tàm 10 g, phèn chua 5 g, phèn đen 5 g. Tất cả trộn
đều, tán thật mịn, cho vào lọ để dành. Khi dùng, lấy lá bạc hà 5 g, sinh khương 5 g, sắc
với ít nước (đã hòa tan 2 g bột nói trên). Lấy nước này chùi vào cổ họng cho nôn ra thật
nhiều đờm.
ta lấy ngài tằm bỏ đầu, chân và cánh, sấy
khô, sao vàng, tán thành bột để làm thuốc.
- Chữa đái buốt do chứng lậu: Mỗi lần uống 8 g bột ngài tằm với rượu vào lúc đói.
- Chữa chứng phong chúm miệng, cứng lưỡi, khóc không ra tiếng ở trẻ em: Lấy bột ngài
tằm hòa với mật ong, bôi vào trong mồm.
- Chữa liệt dương, mộng tinh, vô sinh: Ngài tằm 7 con (sao giòn), tôm he (bóc vỏ) 20 g.
Tất cả giã nát, trộn với trứng gà (2 quả), dùng dưới dạng thức ăn như rán hoặc hấp chín.
- Chữa lãnh cảm, rối loạn kinh nguyệt hoặc tắt kinh sớm: Ngài tằm (bỏ đầu, chân và
cánh, sấy khô, sao vàng) 100g, ngâm với 500 ml rượu trắng trong 7-10 ngày (càng lâu
càng tốt), thỉnh thoảng lắc đều. Ngày uống hai lần, mỗi lần 30 ml.
6. XÁC VE SẦU:
6.1 Mô tả: Xác ve sầu hay còn gọi là thuyền thoái, thiền
thoái, thuyền thuế, là xác lột của con ve sầu. Ve sầu phân
bố ở nhiều nơi trên thế giới, chủ yếu ở vùng nhiệt đới,
thường sống trên các cây to. Ở nước ta, ve sầu có ở hầu
khắp các vùng miền, từ Bắc đến Nam, nhất là ở vùng
19
rừng núi và các thành phố, các miền quê. Xác ve khô xác và trong suốt, màu nâu vàng,
sáng bóng, có hình hài như một con ve sầu.
6.2 Tính chất: Theo YHCT, thuyền
thoái có vị mặn, ngọt, tính hơi hàn.
6.3 Công dụng: Quy vào kinh can, phế, có tác dụng phát tán phong nhiệt, giải biểu
nhiệt, giải kinh, tuyên phế, thấu đậu chẩn, phong chẩn, phá thương phong, tiêu viêm, tiêu
phù thũng.
* Sau đây xin giới thiệu các bài thuốc chữa bệnh có dùng xác ve sầu:
- Để trị cảm mạo phong nhiệt, ho, nhiều đờm, mất tiếng: Thuyền thoái 3g, ngưu bàng tử
10g, cam thảo 3g, cát cánh 5g, dưới dạng thuốc sắc, ngày một thang.
- Trị sốt cao co giật ở trẻ em: Đối với trẻ em bị sốt cao, có thể do nhiều nguyên nhân
khác nhau, như viêm amidan, viêm họng, cảm mạo phong nhiệt đôi khi dẫn đến co giật,
7. BỌ NGỰA (Mantis religiosa L.)
7.1 Bọ ngựa
7.1.1 Mô tả: Bọ ngựa (Mantis
religiosa L.) thuộc họ bọ ngựa
(MANTIDAE), có tên khác là bù cào,
ngựa trời, đường lang, là một loài côn
trùng cỡ lớn, toàn thân màu xanh lục
nhạt, sống ở bờ bụi, lùm cây, thích
nghi với môi trường ẩm và sáng.
21
7.1.2. Tính chất: Toàn thân bọ ngựa vị mặn, tính
ấm.
7.1.3. Công dụng: trị kinh giản (động kinh), hầu họng sưng đau, trĩ sa viêm loét.
- Để chữa bệnh động kinh, trong dân gian, người ta thường bắt bọ ngựa về, bứt bỏ cánh,
đầu, chân, ruột rồi rang chín, tán thành bột mịn, mỗi ngày uống 6-12 g. Hoặc dùng bọ
ngựa 5 g, cương tàm 9 g, toàn yết 2 g, ngô công 5 g, bột trân châu mẫu 30 g, bán hạ chế
30 g, nam tinh chế 20 g. Tất cả sấy khô tán bột, trộn đều với nhau, mỗi ngày uống 2 lần,
mỗi lần 2g.
7.2. Tổ bọ ngựa:
7.2.1 Mô tả: Tổ bọ ngựa là bao đựng trứng đính trên cành những cây nhỏ, thường
dùng tổ ở cây dâu tằm với tên gọi dân dã là ổ cào cào đeo dâu, tên thuốc là tang phiêu
tiêu.
7.2.2. Tính chất: Tổ được thu hoạch vào tháng 10-1, lấy về đem đồ khoảng 30 phút
cho chín trứng bên trong, rồi nướng vàng hoặc sao giòn, tán bột, rây mịn. Có khi còn sao
với rượu, giấm hoặc đốt tồn tính. Dược liệu có vị ngọt, mặn, hơi tanh, tính bình, không
độc.
7.2.3. Công dụng và cách dùng:
- Bổ thận, ích tinh, giảm đau, chữa mồ hôi trộm, đái nhiều lần nhất là về đêm, xuất tinh
sớm, liệt dương, di tinh, đau lưng, khí hư, trẻ em đái dầm, người cao tuổi đái són, phụ nữ
kinh bế.
có độc. Ngọc thư dược giải nói vị cay hơi ôn. Bản thảo cương mục nói nhập quyết âm
kinh. Y lâm soạn yếu thâm nguyên nói nhập can, tâm.
8.3. Công dụng: Theo Đông y, tác dụng dược lý của ngô công là tức phong chỉ kinh
(chống co giật), giải độc, tán kết, thông lạc, chỉ thống (cầm đau). Chủ trị các chứng kinh
phong cấp hay mạn, phong đòn gánh, trúng phong, động kinh, sang độc, loa lịch ác sang,
rắn độc cắn, đau đầu khó khỏi, phong thấp tý thống Trong y thư cổ như sách Bản kinh
nói chủ trị các chứng độc do rắn cắn, trùng, cá. Danh y biệt lục nói trị tâm phúc hàn nhiệt
kết tụ, trụy thai, khử ác huyết. Bản thảo cương mục nói trị trẻ em co giật, tề phong, cấm
khẩu, đơn độc, loa lịch, trĩ lậu, rắn cắn.
8.4. Các phương thuốc thường dùng
- Trị trẻ quấy khóc, chân tay co giật: dùng ngô công, toàn yết và chu sa 3 thứ lượng bằng
nhau, tán bột mịn trộn đều.
- Trị uốn ván: dùng phương ngô công tán, gồm ngô công, chế nam tinh, phòng phong,
bong bóng cá, các vị có lượng bằng nhau tán bột mịn, trộn đều, mỗi lần uống 2 - 4g chiêu
với rượu. Hoặc dùng khương hoạt 10g, xuyên khung 10g, đại hoàng 10g, bán hạ 10g,
phòng phong 10g, chế xuyên ô 10g, cương tằm 10g, chế nam tinh 10g, bạch chỉ 10g, ngô
công 3 con, xác ve 10g, bạch phụ tử 12g, toàn yết 10g, thiên ma 10g, cam thảo 10g. Cho
nước vào sắc mỗi thang làm 3 lần, lấy mỗi lần 1 bát (3 lần 3 bát ứng với 600ml). Ngoài ra
lấy hổ phách 3g, chu sa 3g, tán bột mịn chia 3 phần. Uống 3 lần trong ngày. Mỗi lần uống
200ml nước thuốc sắc cùng một phần thuốc bột này. Cách 6 - 8 giờ lại uống 1 lần.
- Trị liệt thần kinh mặt: ngô công 1- 2 con (ứng với 1 - 2g rết khô), cam thảo 3g, tán bột
mịn, trộn đều uống với nước sôi để nguội.
24
- Trị liệt thần kinh mặt, đau nhức tê thấp, trẻ em cấm khẩu không bú được: lấy rết (bỏ
đầu, chân), tán bột mịn, trộn với lượng bột cam thảo bằng với bột rết hồ làm viên. Ngày
uống 3 lần, mỗi lần 0,5g chiêu với nước lọc.
- Trị mụn nhọt: dùng rượu rết (lấy con rết ngâm vào rượu cồn 900 để ít nhất 1 tuần hãy
dùng). Dùng bông thấm vào rượu rết, bôi vào nơi mụn nhọt, ngày 2 - 3 lần.
- Trị rắn cắn, mụn, chốc lở đầu ở trẻ em: dùng dầu rết, lấy rết sống (8 phần) và 2 phần
muối cho vào dầu vừng (mè) ngâm trong 2 tuần là sử dụng. Lấy dầu này bôi vào vết rắn