CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP 1
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài.
Trong nền kinh tế thị trường như hiện nay, để tồn tại và phát triển được
các Công ty phải tìm được chỗ đứng cho mình trên thị trường, đặc biệt với nền
kinh tế đang hội nhập như nước ta sự cạnh tranh diễn ra ngày càng gay gắt, để
đạt được mục đích kinh doanh các Công ty phải có lợi nhuận và có lãi và vấn đề
tiêu thụ sản phẩm phải được đặt lên hàng đầu. Là một trong những Công ty đầu
ngành và có thương hiệu mạnh trên thị trường thuốc và vật tư thú y Công ty
thuốc thú y TWI trong những năm qua luôn giữ vững vị trí đứng đầu của mình
và ngày càng tạo uy tín trong lòng người tiêu dùng. Được như vậy là do Công ty
đã biết khai thác tốt các nguồn lực, tiết kiệm triệt để các chi phí, từ đó có thể hạ
giá thành mà chất lượng của sản phẩm vẫn có thể cạnh tranh được với các sản
phẩm khác, sản phẩm của Công ty được tiêu thụ với khối lượng lớn, thương hiệu
thuốc và vật tư thú y của Công ty ngày càng có uy tín trên thị trường. Tuy nhiên
để cạnh tranh với các thương hiệu và sản phẩm của các Công ty khác, với sản
phẩm ngoại nhập thì cần có chiến lược phát triển và đẩy mạnh hơn nữa hiệu quả
tiêu thụ sản phẩm của Công ty. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề em
nghiên cứu đề tài “Giải pháp đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm tại Công ty
L£ THÞ THANH T¢M
Th¬ng m¹i
46b
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP 2
cổ phần thuốc thú y TWI” để có thể xây dựng chiến lược về thị trường, nghiên
cứu khách hàng và nhu cầu của khách hàng, tìm và khắc phục những nhược điểm
những nguyên nhân còn tồn tại để hạn chế bớt việc tồn kho, nhằm nâng cao hơn
nữa hiệu quả tiêu thụ sản phẩm để đạt được lợi nhuận cao đưâ Công ty ngày
càng phát triển.
Kết cấu của chuyên đề gồm có các phần:
Lời mở đầu
NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA DOANH
NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG.
1.1. Khái niệm về hoạt động tiêu thụ sản phẩm.
Tiêu thụ sản phẩm là quá trình thực hiện giá trị của hàng hoá, quá trình
chuyển hoá hình thái giá trị của hàng hoá từ hàng sang tiền, sản phẩm được coi
là tiêu thụ khi được khách hàng chấp nhận thanh toán tiền hàng. Tiêu thụ sản
phẩm là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh, là yếu tố quan
trọng quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.Tiêu thụ sản phẩm
nhằm thực hiện mục đích của sản xuất hàng hoá là sản phẩm sản xuất để bán và
thu lợi nhuận.
Trong nền kinh tế thị trường, mỗi doanh nghiệp là một chủ thể kinh tế độc
lập và phải tự mình giải quyết cả ba vấn đề cơ bản của tổ chức kinh tế. Lợi
nhuận là mục tiêu sống còn của mỗi doanh nghiệp. Muốn có lợi nhuận, doanh
nghiệp phải tiêu thụ được hàng hoá, sản phẩm của doanh nghiệp phải phù hợp
với nhu cầu của thị trường. Để tồn tại và phát triển lâu dài thì mỗi doanh nghiệp
cần xác định được chiến lược tiêu thụ sản phẩm.
L£ THÞ THANH T¢M
Th¬ng m¹i
46b
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP 4
Chiến lược tiêu thụ là định hướng có mục tiêu của doanh nghiệp và hệ
thống các giải pháp, biện pháp nhằm thực hiện mục tiêu đề ra trong tiêu thụ.
Mục tiêu của chiến lược tiêu thụ sản phẩm thường bao gồm: Mặt hàng tiêu thụ,
tăng doanh số, tối đa hoá lợi nhuận, mở rộng thị trường, nâng cao uy tín của
doanh nghiệp. Chiến lược tiêu thụ sản phẩm của một doanh nghiệp giúp doanh
nghiệp nắm bắt được nhu cầu của khách hàng, từ đó chủ động đối phó với mọi
diễn biến của thị trường, giúp doanh nghiệp mở rộng thị trường mới, kế hoạch
hoá về khối lượng tiêu thụ, doanh thu, lợi nhuận, chọn kênh tiêu thụ và các đối
tượng khách hàng. Chiến lược tiêu thụ sản phẩm giữ vai trò quan trọng quyết
định sự thành công hay thất bại của chiến lược kinh doanh.
trữ và hoàn
thiện SP
Quản lý lực
lượng bán
Phối hợp và tổ
chức thực hiện
các kế hoạch
Thị
trưòng
Sản
phẩm
Dịch vụ
Giá,
doanh số
Phân phối
và giao tiếp
Thị
trường
Nghiên cứu
thị trường
Lập các kế
hoạch tiêu
thụ sản phẩm
Thông tin
thị
trường
Tổ chức bán
hàng & cung
cấp dịch vụ
Ngân
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP 7
nhằm mục tiêu nhận biết và đánh giá khái quát khả năng xâm nhập và tiềm năng
của thị trường để định hướng quyết định lựa chọn thị trường tiềm năng và chiến
lược tiêu thụ của doanh nghiệp. Đồng thời nghiên cứu thị trường để trả lời các
câu hỏi: Sản xuất những sản phẩm gì? Sản xuất như thế nào? Sản phẩm bán cho
ai? Nghiên cứu thị trường là xác định khả năng tiêu thụ những loại hàng hoá
( hoặc nhóm hàng hoá ) trên một địa bàn nhất định trong một khoảng thời gian
nhất định. Trên cơ sở đó nâng cao khả năng cung cấp để thoả mãn nhu cầu của
thị trường.Nghiên cứu thị trường có ý nghiã đặc biệt quan trọng, vì đây là nhân
tố có ảnh hưởng trực tiếp đến khối lượng, giá bán, mạng lưới và hiệu quả của
công tác tiêu thụ. Nghiên cứu thị trường còn giúp doanh nghiệp biết được xu
hướng, sự biến đổi nhu cầu của khách hàng, sự phản ứng của họ đối với sản
phẩm của doanh nghiệp, thấy được các biến động của thu nhập và giá cả, từ đó
có các biện pháp điều chỉnh cho phù hợp. Đây là công tác đòi hỏi nhiều công sức
và chi phí. Đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa có cán bộ chuyên nghiên cứu
thị trường, thì cán bộ kinh doanh thường phải đảm bảo công việc này. Khi
nghiên cứu thị trường sản phẩm, doanh nghiệp phải giải đáp được các vấn đề
sau:
- Đâu là thị trường có triển vọng đối với sản phẩm của doanh nghiệp?
- Khả năng tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường đó ra
sao?
- Doanh nghiệp cần phải xử lý những biện pháp gì có liên quan và có thể
sử dụng những biện pháp nào để tăng khối lượng sản phẩm tiêu thụ?
- Những mặt hàng nào, thị trường nào có khả năng tiêu thụ với khối
lượng lớn phù hợp với năng lực và đặc điểm sản xuất của doanh
nghiệp?
L£ THÞ THANH T¢M
Th¬ng m¹i
46b
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP 8
khi lập kế hoạch tiêu thụ sản phẩm cần phải xây dựng chiến lược tiêu thụ sản
phẩm.
1.2.2.1. Những căn cứ xây dựng chiến lược tiêu thụ sản phẩm.
Do tác động của nhiều yếu tố nên khi xây dựng chiến lược tiêu thụ sản
phẩm cần xuất phát từ nhiều căn cứ khác nhau. Có ba căn cứ chủ yếu mà người
ta gọi là tam giác chiến lược đó là: Căn cứ vào khách hàng; căn cứ vào khả năng
của doanh nghiệp và căn cứ vào đối thủ cạnh tranh.
Thứ nhất căn cứ vào khách hàng: Trong nền kinh tế thị trường, đặc biệt
trong điều kiện xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu tiêu dùng hàng hoá dịch
vụ giữa các nhóm dân cư càng bị phân hoá, bởi thế không còn thị trường đồng
nhất. Để tồn tại và phát triển, mỗi nhóm doanh nghiệp có thể và cần phải chiếm
được các mảng khác nhau của thị trường, nếu không chiếm được khách hàng thì
doanh nghiệp không có đối tượng để phục vụ và sẽ không thực hiện kinh doanh
được. Do vậy, chiến lược khách hàng là cơ sở của mọi chiến lược, là yếu tố
xuyên suốt quá trình xây dựng, triển khai và thực hiện chiến lược tiêu thụ của bất
cứ doanh nghiệp nào.
Thứ hai căn cứ vào khả năng của doanh nghiệp: Khai thác thế mạnh của
doanh nghiệp là một yêu cầu quan trọng, vì bất cứ một doanh nghiệp nào nếu so
sánh với doanh nghiệp khác cũng có mặt mạnh và mặt yếu. Khi hoạch định chiến
lược tiêu thụ, doanh nghiệp có thể và cần phải khai thác triệt để mặt mạnh và
nhìn thẳng vào những vấn đề hạn chế. Mặt khác doanh nghiệp cần phải biết phân
bổ các nguồn lực một cách có hiệu quả. Nguồn lực của doanh nghiệp bao gồm
tài sản và nguồn nhân lực. Nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng nhất mà doanh
L£ THÞ THANH T¢M
Th¬ng m¹i
46b
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP 10
nghiệp phải chú ý khi xây dựng chiến lược tiêu thụ, đây chính là lực lượng quyết
định sự phát triển về chiều sâu của doanh nghiệp.
Thứ ba căn cứ vào đối thủ cạnh tranh: Cơ sở của căn cứ này là so sánh khả
46b
Thực sự đi vào
thị trường
Thăm dò triển
vọng tăng
trưởng. Nếu
không có dấu hiệu
của sự tăng
trưởng thì rút lui.
Tăng trưởng có
chọn lọc
Chọn những khu
vực doanh nghiệp
có thể duy trì thế
mạnh và tập chung
vào những khu vực
đó.
Cuộc đấu tranh
dốc toàn lực
Tập chung toàn bộ
nỗ lực để duy trì thế
mạnh chiếm lĩnh thị
trường.
Mở rộng có hạn
chế hoặc co cụm
có tăng trưởng
Tìm cách mở rộng
kinh doanh với
điều kiện không
rủi ro. Nếu không
diện
Chuyển đổi nhanh
từ chi phí cố định
sang chi phí biến
đổi.
Thu hoạch hạn chế
Tìm cách bảo vệ
được doanh lợi,
giảm rủi ro tới mức
tối thiểu.
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP 12
Độ hấp dẫn của thị trường.
Trung bình.
Thấp
Thấp Trung bình Cao
Thế mạnh của doanh nghiệp so với đối thủ
Đó là nội dung của chiến lược tổng quát. Bên cạnh đó chiến lược tiêu thụ
sản phẩm của công ty bao gồm một loạt các chiến lược bộ phận như: Chiến lược
sản phẩm, chiến lược giá cả, chiến lược phân phối, chiến lược giao tiếp và
khuyếch trương,…
1.2.2.3. Lựa chọn và quyết định chiến lược tiêu thụ sản phẩm.
Việc đánh giá và lựa chọn chiến lược dự kiến là công việc cuối cùng có
tầm quan trọng quyết định đến mức độ đúng đắn của chiến lược tiêu thụ. Khi
thẩm định chiến lược tiêu thụ cần phải tuân thủ nhưng nguyên tắc sau:
- Thứ nhất: Chiến lược tiêu thụ phải đảm bảo mục tiêu bao trùm của
doanh nghiệp. Trong kinh doanh thường có nhiều mục tiêu, các chiến lược tiêu
thụ dự kiến có thể khác nhau về số lượng và mức độ các mục tiêu nhưng không
thể khác nhau mục tiêu bao trùm.
L£ THÞ THANH T¢M
46b
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP 14
Quảng cáo và khuyến khích bán hàng: Mục đích của quảng cáo là tạo điều
kiện để các cá nhân và tập thể người tiêu dùng thuận tiện mua sản phẩm của
doanh nghiệp quảng cáo. Vì thế, những thông tin về sản phẩm trong quảng cáo
phải nhằm mục đích bán được hàng. Điều đó có nghĩa là: Trước tiên nó phải
nhằm khuyến khích mua hàng chứ không phải tạo cơ hội để người mua so sánh
một cách có hệ thống giữa sản phẩm nọ với sản phẩm kia.
Các doanh nghiệp có thể lựa chọn các hình thức quảng cáo khác nhau.
Quảng cáo bằng áp phích, qua báo, đài hoặc vô tuyến truyền hình, điều đó phụ
thuộc vào tính chất của sản phẩm hay của giới, tầng lớp, cộng đồng người
mua( Ví dụ: Khi sản xuất giấy thì không quảng cáo trên đài, và người sản xuất
rượu thì không quảng cáo trong tạp chí của thiếu nhi).
Chất lượng và mẫu mã sản phẩm: Không chỉ những nhà kỹ thuật mà cả
các nhân viên bán hàng đều có ảnh hưởng đến mẫu mã và chất lượng sản
phẩm(trước hết là sản phẩm tiêu dùng). Trong công nghiệp xe hơi thường có
hiện tượng là mỗi lần chi phí cho quảng cáo lớn đều giới thiệu một hình mẫu
mới. Cái mới ở đây chủ yếu là ngoại hình( ví dụ, thay đổi một chút về vỏ xe hay
đổi từ đèn tròn sang đèn vuông ) trong khi về kỹ thuật, máy móc hầu như có ít
cải tiến. Thông qua việc thay đổi thường xuyên về kiểu dáng mà không thay đổi
về tình trạng kỹ thuật đã xuất hiện tình trạng làm mới mặt hàng một cách giả tạo.
Điều đó có nghĩa rằng giá trị sử dụng về mặt thời gian bị giảm. Có thể dễ thấy là
ngày nay ô tô nhanh gỉ hơn trước đây.
Quyết định giá: Giá đòi hỏi không chỉ bù đắp những chi phí trong sản xuất,
mà còn phải đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp. Vì thế, doanh nghiệp phải nắm
chắc các thông tin về chi phí sản xuất thông qua hạch toán giá thành. Doanh
nghiệp cũng phải biết rõ sản phẩm cần phải bán được với giá nào. Để tăng sản
L£ THÞ THANH T¢M
Th¬ng m¹i
46b
nhiều khi làm tốc độ chu chuyển của vốn lưu động chậm hơn…
Kênh tiêu thụ gián tiếp là hình thức mà doanh nghiệp xuất bán sản phẩm
của mình cho người tiêu dùng cuối cùng có qua khâu trung gian. Sự tham gia
nhiều hay ít của người trung gian trong quá trình tiêu thụ sẽ làm cho kênh tiêu
thụ gián tiếp dài hay ngắn khác nhau. Với hình thức tiêu thụ này các doanh
nghiệp có thể tiêu thụ được một khối lượng lớn hàng hoá trong thời gian ngắn
nhất, từ đó thu hồi vốn nhanh, tiết kiệm chi phí bảo quản hao hụt…Tuy nhiên
hình thức tiêu thụ này làm cho thời gian lưu thông hàng hoá dài hơn, tăng chi phí
tiêu thụ và doanh nghiệp khó có thể kiểm soát được các khâu trung gian…Như
vậy, mỗi hình thức tiêu thụ sản phẩm đều có ưu nhược điểm nhất định, nhiệm vụ
của phòng kinh doanh là phải lựa chọn hợp lý các hình thức tiêu thụ sản phẩm
sao cho phù hợp với tình hình thực tế của doanh nghiệp.
1.2.5. Tổ chức các hoạt động xúc tiến yểm trợ cho công tác bán hàng.
Xúc tiến bán hàng là hoạt động Marketing tới khách hàng tiềm năng của
doanh nghiệp. Các thông tin bao gồm thông tin về doanh nghiệp, về sản phẩm,
về phương thức phục vụ và những lợi ích mà khách hàng sẽ thu được khi mua
sản phẩm của doanh nghiệp, cũng như những tin tức cần thiết từ phía khách
hàng, qua đó để doanh nghiệp tìm ra cách để thoả mãn tốt nhất nhu cầu của
khách hàng. Trong hoạt động kinh doanh có các hoạt động xúc tiến mua hàng và
hoạt động xúc tiến bán hàng.
Hoạt động xúc tiến bán hàng là toàn bộ hoạt động nhằm tìm kiếm và thúc
đẩy cơ hội bán hàng trong hoạt động tiêu thụ sản phẩm. Xúc tiến bán hàng chứa
đựng trong đó các hình thức, cách thức và những biện pháp nhằm đẩy mạnh khả
năng bán ra của doanh nghiệp. Xúc tiến bán hàng có ý nghĩa quan trọng trong
L£ THÞ THANH T¢M
Th¬ng m¹i
46b
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP 17
việc chiếm lĩnh thị trường và nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá trên thương
trường, nhờ đó quá trình tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp được đẩy mạnh cả
Sau mỗi chu kỳ kinh doanh, doanh nghiệp cần phải phân tích, đánh giá
hoạt động tiêu thụ sản phẩm nhằm xem xét khả năng mở rộng hay thu hẹp thị
trường tiêu thụ, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, các
nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả tiêu thụ… nhằm kịp thời có các biện pháp
thích hợp để thúc đẩy quá trình tiêu thụ sản phẩm. Đánh giá hiệu quả của hoạt
động tiêu thụ có thể xem xét trên các khía cạnh như: Tình hình tiêu thụ sản phẩm
theo khối lượng, mặt hàng, trị giá, thị trường và giá cả các mặt hàng tiêu thụ.
Kết quả việc phân tích, đánh giá, quá trình tiêu thụ sản phẩm sẽ là căn cứ
để doanh nghiệp có các biện pháp thúc đẩy tiêu thụ và hoàn thiện quá trình hoạt
động sản xuất kinh doanh trên mọi phương diện. Vì vậy, mỗi doanh nghiệp cần
phải tổ chức tốt công tác, đồng thời phải làm rõ được những điểm mạnh, điểm
yếu, cơ hội và thách thức của doanh nghiệp trong quá trình thực hiện kế hoạch
tiêu thụ.
(Giáo trình Thương mại doanh nghiệp)
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp.
1.3.1. Các yếu tố bên trong doanh nghiệp.
1.3.1.1. Sản phẩm và lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp thương mại.
Sản phẩm và lĩnh vực kinh doanh quy định đối tượng, phạm vi hoạt động
của doanh nghiệp thương mại. Đồng trường. Việc lựa chọn loại sản phẩm nào
tham gia vào thị trường là rất quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp thương mại.
Mỗi khu vực thị trường, mỗi nhóm khách hàng có những sở thích thị hiếu tiêu
dùng khác nhau. Và do đó đòi hỏi những tiêu chuẩn về sản phẩm rất đa dạng.
L£ THÞ THANH T¢M
Th¬ng m¹i
46b
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP 19
Tính quy luật của khách hàng trong muathời cũng là đối tượng chịu những sức
ép cạnh tranh của các đối thủ cạnh tranh trên thị sắm hàng hoá chi phối mạnh
đến việc doanh nghiệp quyết định đưa vào kinh doanh khối lượng và cơ cấu hàng
hoá, những khả năng đáp ứng nhất định các nhu cầu của họ. Nếu xác định đúng
tượng, bản vẽ hoặc kết hợp các yếu tố trên với nhau để nhận biết một sản phẩm.
Nhãn hiệu thường gắn liền với sản phẩm mua bán của từng doanh nghiệp với
khách hàng. Một nhãn hiệu có uy tín, phổ biến trên thị trường đem lại lợi thế
cạnh tranh lớn cho doanh nghiệp. Khi phân tích yếu tố này doanh nghiệp cần
nhận thức chính xác mức độ chấp nhận của khách hàng với sản phẩm đang kinh
doanh. Việc nhận biết mức độ quen thuộc của nhãn hiệu sản phẩm khi phân tích
trạng thát sản phẩm kinh doanh là rất quan trọng. Hoạt động nghiên cứu và phát
triển ở các công ty cần tăng cường năng lực nghiên cứu các tiến bộ khoa học
công nghệ để giúp lãnh đạo quyết định các phương án chiến lược sản phẩm
nhằm đổi mới, phát triển sản phẩm, không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm,
đa dạng hoá sản phẩm, kéo dài chu kỳ sống và uy tín nhãn hiệu sản phẩm của
doanh nghiệp trên thị trường.
1.3.1.2. Nề nếp văn hoá tổ chức của doanh nghiệp.
Mỗi doanh nghiệp đều có một nề nếp tổ chức nhất định phù hợp với điều
kiện cụ thể của mình để định hướng cho các hoạt động của doanh nghiệp. Nề nếp
tổ chức đó là biểu tượng cho nề nếp văn hoá kinh doanh của doanh nghiệp. Nó
ảnh hưởng rất lớn đến phương thức hình thành và thông qua các quyết định của
nhà quản trị, đến quan điểm của họ đối với các chiến lược và các yếu tố môi
trường kinh doanh. Yếu tố này tạo nên sức mạnh, nhưng cũng có thể là một cản
trở cho sự thành công của daonh nghiệp. Một doanh nghiệp có thể có nề nếp văn
L£ THÞ THANH T¢M
Th¬ng m¹i
46b
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP 21
hoá kinh doanh tốt, tích cực sẽ có nhiều cơ hội để đạt được các mục tiêu của
mình và ngược lại.
Nề nếp văn hoá kinh doanh trong doanh nghiệp là tổng hợp các kinh
nghiệm, cá tính của từng con người trong tổ chức, bầu không khí nội bộ. Các yếu
tố này khi đã được kết hợp chặt chẽ với nhau sẽ tạo thành một phương thức hành
động nhất định để thực hiện các mục tiêu kinh doanh. Nề nếp văn hoá kinh
quản trị cấp cao), hoặc của cả tập thể doanh nghiệp. Các câu chuyện về các hiện
tượng, hành động tốt của các cá nhân, tập thể doanh nghiệp có sức thuyết phục
rất mạnh mẽ đến công chúng, khách hàng, và nó tạo ra cho doanh nghiệp thế
đứng vững chắc hơn.
1.3.1.3. Hoạt động xúc tiến bán hàng của doanh nghiệp.
biết, hiểu biết của khách hàng về doanh nghiệp và các sản phẩm hàng hoá mà
doanh nghiệp đang kinh doanh. Thế mạnh, lợi thế của doanh nghiệp sẽ đạt được
khi các hoạt động xúc tiến được thực hiện có hiệu quả. Khi đánh giá hoạt động
xúc tiến cần tập trung vào các nội dung chủ yếu như: các loại hình hoạt động xúc
tiến (quảng cáo, tham gia hội chợ triển lãm; hội nghị khách hàng, các chính sách
hỗ trợ bán hàng, chính sách khuyến mãi,…) việc lựa chọn các hình thức phương
thức tiến hành; chi phí dành cho các hoạt động xúc tiến và hiệu quả của các hoạt
động đó.
1.3.1.4. Hệ thống thông tin của doanh nghiệp.
Hệ thống thông tin của doanh nghiệp có vai trò rất quan trọng trong các
hoạt động quản trị theo chiến lược của doanh nghiệp. Nhà quản trị chỉ có thể đưa
ra những quyết định đúng đắn trong từng thời kỳ dài hạn hoặc ngắn hạn nếu có
được các thông tin thích hợp, chính xác, đầy đủ. Bởi vậy, muốn quản lý chiến
L£ THÞ THANH T¢M
Th¬ng m¹i
46b
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP 23
lược một cách có hiệu quả, đòi hỏi doanh nghiệp phải thu thập và sử lý các
nguồn thông tin một cách rộng rãi, toàn diện về các yếu tố môi trưởng kinh
doanh của doanh nghiệp. Hệ thống thông tin được xem là một nguồn tiềm năng,
một thế mạnh quý giá, quan trọng của doanh nghiệp. Việc tổ chức thu thập và sử
lý thông tin được gọi là quản lý thông tin. Quản lý thông tin cung cấp cho nhà
quản trị các dữ liệu quan trọng, cần thiết để hoạch định các chiến lược hữu hiệu
(cấp doanh nghiệp, cấp bộ phận chiến lược, cấp trực tiếp kinh doanh). Nguồn
thông tin của doanh nghiệp còn tham gia tích cực vào việc tạo ra ưu thế cạnh
là động lực thúc đẩy tinh thần trách nhiệm của mọi thành viên đối với hoạt động
của doanh nghiệp. Một hệ thống đãi ngộ,chăm sóc người lao động đúng đắn,
bình đẳng sẽ góp phần thúc đẩy lao động sáng tạo, tích cực, có chất lượng và
hiệu quả. Đó là thế mạnh của doanh nghiệp.
+ Đảm bảo các điều kiện vật chất kỹ thuật cần thiết cho các hoạt động lao
động. Các điều kiện này là những yếu tố không thể thiếu trong quá trình lao
động. Việc đảm bảo tốt các yếu tố vật chất khĩ thuật kết hợp với cách thức tổ
chức lao động khoa học tạo động lực phát huy hết tiềm năng của đội ngũ lao
động trong doanh nghiệp. Cần xem xét việc trang bị các phương tiện, thiết bị,
cung ứng vật tư hàng hoá cho hệt thống mạng lưới kinh doanh cũng như cho
công tác quản lý. Sự đảm bảo hợp lý kịp thời các yếu tố vật chất là một trong
những yếu tố làm tăng năng suất lao động và hiệu quả lao động trong mỗi bộ
phận công tác.
+ Bộ máy quản trị doanh nghiệp
Cơ cấu tổ chức bộ máy quản trị doanh nghiệp là mô hình liên kết các chức
năng, nhiệm vụ quyền hạn, trách nhiệm của những bộ phận riêng lẻ độc lập
L£ THÞ THANH T¢M
Th¬ng m¹i
46b
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP 25
tương đối trong hệ thống quản trị nhằm thực hiện các chức năng của quản trị
doanh nghiệp. Bộ máy quản trị tốt là một bộ máy gọn nhẹ, linh hoạt, có trình độ
chuyên môn cao, hoạt động hiệu quả. Bộ máy quản trị tác động rất mạnh mẽ đến
hoạt động lao động sáng tạo, có trách nhiệm, có chất lượng, hiệu quả của đội ngũ
lao động. Bầu không khí và nề nếp tổ chức, hệ thống thông tin trong hệ thống,
việc ra các quyết định quản trị, điều hành hoạt động doanh nghiệp; hệ thống
kiểm soát, đánh giá hoạt động quản trị, năng lực của cán bộ quản trị v.v…
+ Đánh giá hoạt động lao động. Hoạt động lao động được đánh giá thông
qua chỉ tiêu năng suất lao động và chỉ tiêu hiệu quả lao động. Có nhiều cách xác
định năng suất lao động trong các doanh nghiệp thương mại như xác định năng