Quan điểm, thái độ của phụ nữ về sữa và các sản phẩm từ sữa nội dành cho trẻ em - Pdf 14

Quan điểm, thái độ của phụ nữ về sữa và các sản phẩm từ sữa nội dành cho trẻ em.
PHẦN I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Ngày 7 tháng 11 năm 2006, Việt Nam chính thức ra nhập tổ chức thương
mại thế giới ( WTO), đánh dấu một bước ngoặt lớn trong nền kinh tế của đất nước.
Để hội nhập sâu rộng và phát triển nền kinh tế mạnh mẽ và bền vững, Đảng và nhà
nước ta đặc biệt quan tâm thị trường tiêu dùng trong nước. Xác định được tầm
quan trọng của thị trường nội địa, ngày 7 tháng 8 năm 2009, thường trực Ban Bí
thư, đồng chí Trương Tấn Sang đã kí , ban hành văn bản số 246 – TB/TW thông
báo kết luận của bộ chính trị về tổ chức cuộc vận động “ Người Việt Nam ưu tiên
dùng hàng Việt Nam”. Tuy nhiên việc tiến hành có đạt được kết quả hay không
còn tùy thuộc vào sự nỗ lực của các doanh nghiệp, vào sự quan tâm của Đảng, nhà
nước và vào cả chính những người tiêu dùng. Thực tế, trên thế giới đã có nhiều
nước áp dụng mô hình kinh tế này và đã thu được những kết quả như mong đợi.
Cụ thể đó là đất nước Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc. Việc học tập và áp dụng
mô hình này vào tình hình kinh tế Việt Nam là phù hợp.
Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” là một
chủ trương lớn của Bộ chính trị nên các tiêu chí có liên quan cần phải được thống
nhất rõ ràng khi bắt tay thực hiện để tăng khả năng thành công. Việc nghiên cứu
tập trung vào một mặt hàng nhất định góp phần làm rõ quan điểm, thái độ của
người tiêu dùng về mặt hàng đó là cần thiết. Cụ thể như qua việc khảo sát thị
trường trong thời gian vừa qua nổi lên những vụ việc liên quan đến sữa. Trong
năm 2008, vụ sữa bột Trung Quốc có chứa chất Melamine ảnh hưởng lớn đến tâm
lý của những người có con nhỏ đang dùng sữa bột. Điều đó có ảnh hưởng đến tâm
lý người tiêu dùng trên phạm vi rộng những nước có nhập khẩu sữa bột của Trung
Quốc, trong đó có Việt Nam. Cũng theo khảo sát, giá sữa ngoại trên thị trường
Việt Nam có giá cao nhất trên thế giới, khiến người tiêu dùng trong nước chịu
nhiều thiệt thòi. Như vậy, quyền lợi người tiêu dùng bị xâm phạm. Hơn nữa, ngày
nay do cuộc sống người dân không ngừng tăng lên, sữa và các sản phẩm từ sữa
Quan điểm, thái độ của phụ nữ về sữa và các sản phẩm từ sữa nội dành cho trẻ em.
càng trở nên gần gũi và dần trở thành thức uống dinh dưỡng không thể thiếu trong

Ngày 7 tháng 8 năm 2009, thường trực Ban Bí thư Trương Tấn Sang đã ký
ban hành văn bản số 264-TB/TW thông báo Kết luận của Bộ Chính trị về tổ chức
cuộc vận động " Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam". Mục đích cuộc
vận động nhằm phát huy mạnh mẽ lòng yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, tự tôn
dân tộc, xây dựng văn hoá tiêu dùng của người Việt Nam và sản xuất ra nhiều
hàng Việt Nam có chất lượng, sức cạnh tranh cao, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong
nước và xuất khẩu. Từ cuộc vận động của bộ chính trị, vấn đề sử dụng hàng nội địa
được đề cập đến nhiều và đã trở thành các hoạt động cụ thể.
Thông qua việc điểm luận tài liệu, tác giả thấy rằng đã có một số công trình
nghiên cứu, các bài báo đăng trên các tạp chí và các website đề cập đến vấn đề
hàng nội địa và các vấn đề liên quan đến hàng nội địa – hàng Việt Nam, về việc
người Việt ưu tiên dùng hàng Việt.
“ Điều tra, khảo sát thị trường trong nước năm 2009” là một trong những
nhiệm vụ của Chương trình "Xúc tiến thị trường thương mại nội địa năm 2009”
do Bộ Công Thương giao cho Viện Nghiên cứu Thương mại tổ chức và triển khai
với các mặt hàng lương thực - thực phẩm, dệt may – da giầy và đồ gia dụng. Mục
đích bước đầu của cuộc khảo sát nhằm cung cấp thông tin để các doanh nghiệp xây
dựng kế hoạch sản xuất, chiến lược kinh doanh, marketing và mạng lưới bán hàng
của mình trong thời gian tới. Nội dung thứ nhất của cuộc điều tra xoay quanh tâm
lý, nhận thức, hành vi mua sắm của người tiêu dùng đối với hàng sản xuất trong
nước của Việt Nam. Nội dung thứ hai của cuộc điều tra là mạng lưới phân phối: về
số lượng, quy mô, loại hình, phân bố, xu hướng phát triển của các cơ sở kinh
doanh. Nội dung thứ ba là điều tra thương nhân: về năng lực kinh doanh, nhu cầu
nâng cao kiến thức quản lý, kỹ năng kinh doanh của thương nhân trong các khẩu
phân phối: bán buôn, bán lẻ. Kết quả khảo sát cho thấy thực trạng người dân trong
nước khá coi trọng mặt hàng nội địa có thương hiệu và họ có nhu cầu sử dụng
những mặt hàng nội địa có chất lượng và đảm bảo giá thành. Tuy nhiên, một bộ
phận người vẫn chưa có niềm tin vào hàng nội bởi nhiều lý do về chất lượng, hàng
Quan điểm, thái độ của phụ nữ về sữa và các sản phẩm từ sữa nội dành cho trẻ em.
hóa không đủ tiêu chuẩn…Về phía doanh nghiệp và những nhà sản xuất có nhu

giữa các vùng, miền là khác nhau. Tuy nhiên như vậy thì vẫn chung chung vì
chúng ta còn tìm hiểu các yếu tố tác động đến thái độ của người tiêu dùng như về
chất lượng, giá cả, mẫu mã. Bên cạnh đó, hạn chế của nghiên cứu là khảo sát người
dân ở những thành phố lớn với những nhãn hiệu hàng Việt Nam đã được khẳng
định chất lượng mà chưa nghiên cứu thái độ của người tiêu dùng ở khu vực nông
thôn, khu vực chiếm tới gần 70 % dân số của cả nước.
Vào năm 2010, Viện Nghiên cứu Dư luận xã hội, Ban Tuyên giáo Trung
ương tiến hành điều tra về kết quả một năm thực hiện cuộc vận động "Người Việt
Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam" cho thấy: Có đến 59% người tiêu dùng tự
xác định khi mua hàng hoá sẽ ưu tiên dùng hàng Việt Nam ; 38% người tiêu dùng
khuyên người thân trong gia đình, bạn bè, người quen biết nên mua hàng Việt
Nam; 36% người tiêu dùng trước đây có thói quen mua hàng có nguồn gốc xuất
xứ ở nước ngoài, nay đã dừng mua (hoặc ít mua hơn), thay bằng mua hàng Việt
Nam. Nhiều nhóm hàng hoá sản xuất trong nước được người Việt Nam ưa chuộng
hơn so với những năm trước đây như: sản phẩm dệt may, quần áo, giày dép sản
xuất trong nước có tới 80% người tiêu dùng ưa chuộng; thực phẩm, rau quả là
58%; các sản phẩm đồ gia dụng là 49%; vật liệu xây dựng, đồ nội thất là 38%; đồ
chơi, dụng cụ học tập dành cho cho trẻ em là 34%; văn phòng phẩm là 33%; các
sản phẩm điện tử, điện lạnh là 26%; thuốc men, dược phẩm, dụng cụ y tế là 26%;
ô tô, xe máy là 18%; hoá mỹ phẩm là 10%. Nhìn vào kết quả của những cuộc điều
tra ta thấy các mặt hàng được xét trong danh sách lựa chọn của người tiêu dùng
chưa đề cập đến mặt hàng cụ thể mà chỉ chung cho tất cả các hàng nội địạ.
Muốn phát triển và mở rộng hệ thống hàng nội địa, trước hết cần có hệ
thống phân phối bán lẻ mà ở đó, hàng nội chiếm được bày bán nhiều hơn so với
hàng ngoại. Bài báo “Người Việt Nam dùng hàng Việt Nam: Phải là quốc sách”
của tác giả Đặng Loan đăng trên trang Hanoimoi.com.vn, ngày 19 tháng 2 năm
2011 đề cập đến việc tổng kết một năm thực hiện cuộc vận động người Việt dùng
hàng Việt, trong đó có đề cập đến hệ thống phân phối hàng nội ở các siêu thị. Tỷ lệ
Quan điểm, thái độ của phụ nữ về sữa và các sản phẩm từ sữa nội dành cho trẻ em.
hàng Việt tiêu thụ trong hệ thống Co.opMart, Co.opFood và cửa hàng Co.op tăng

chuẩn và Bảo vệ người tiêu dùng (Vinastas) phát động ngày 18/8/2009 tại
Tp.HCM. Bài báo cùng tên "Người Việt ưu tiên dùng sữa Việt" đăng trên
Dantri.com, ngày 18 tháng 8 năm 2009 của tác giả P.V có viết: mục đích chương
trình là vận động người tiêu dùng lựa chọn, mua và sử dụng sữa nội có chất lượng
tốt do các doanh nghiệp trong nước sản xuất. Sữa là mặt hàng được Vinastas chọn
làm tiên phong trong hưởng ứng cuộc vận động bởi sữa nội có chất lượng tốt và
giá rẻ. Phó chủ tịch Vinastas Hồ Tất Thắng cho biết, sở dĩ Vinastas chọn mặt hàng
sữa làm tiên phong hưởng ứng cuộc vận động dùng hàng Việt bởi sữa nội có chất
lượng tốt và giá rẻ nhưng vẫn bị “lép vế” trước sữa ngoại, đặc biệt là sữa cho trẻ
em. Thị trường sữa bột dành cho trẻ em tại Việt Nam hiện nay khá đa dạng và
phong phú khiến các bà mẹ khó có sự lựa chọn các loại sữa thích hợp với con của
họ và hợp với túi tiền của gia đình. Có quá nhiều quảng cáo, tiếp thị, khuyến mại
của các hãng sữa khác nhau tác động vào tâm lý của các bà mẹ trong việc lựa chọn
các sản phẩm sữa. Tuy nhiên chưa có một khảo sát cụ thể nào tìm hiểu về quan
điểm, thái độ, của các bà mẹ khi lựa chọn các sản phẩm sữa cho con mình.
Để so sánh chất lượng các loại sữa nội và ngoại tiêu biểu trên thị trường,
Hội Tiêu chuẩn và bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam đã khảo sát và công bố kết
quả chỉ tiêu an toàn, chất lượng dinh dưỡng một số sản phẩm sữa ngoại bán tại
Tp.HCM năm 2010. Theo đó, giá bán lẻ của sữa nhập khẩu cao hơn 46% so với giá
sữa sản xuất trong nước. Giá bán lẻ trung bình của sữa nước ngoài là 32.100
đồng/lít, giá sữa nước sản xuất tại Việt Nam 22.000 đồng/lít. Kết quả thử nghiệm
trên 9 mẫu sữa sản xuất tại Việt Nam và 7 mẫu sữa nhập khẩu cho thấy, các chỉ
tiêu về an toàn vi sinh vật, kim loại nặng và hàm lượng dinh dưỡng của sữa nội và
sữa ngoại tương đương nhau đều đạt mức quy định của Bộ Y tế. Về giá sữa bột
nguyên hộp nhập khẩu của một số hãng tại nước ta với các nhãn sữa cùng loại
được bày bán tại nhiều nước trên thế giới và trong khu vực - do Cục Quản lý cạnh
tranh (Bộ Công Thương) tiến hành mới đây - cho thấy: so với một số nước trong
khu vực như Thái Lan, Malaysia, Indonesia, giá sữa nhập khẩu của Việt Nam nhìn
Quan điểm, thái độ của phụ nữ về sữa và các sản phẩm từ sữa nội dành cho trẻ em.
chung cao hơn từ 20-60%. Cá biệt có trường hợp còn cao hơn từ 100-150%. Trong

kỹ năng bán hàng cho hơn 2.767 tiểu thương tại địa phương. Có
1680 lượt doanh nghiệp, 188 doanh nghiệp đã tham gia chương trình và
Gần 50 cơ quan truyền thông cùng đồng hành.
Cuộc vận động Người Việt ưu tiên dùng hàng Việt đã thu được những
thành công nhất định và còn được tiếp tục phát huy để những kết quả bước đầu
được nhân rộng nhiều lần hơn nữa. Đảng và nhà nước có những ưu ái nhất định
cho những đơn vị, doanh nghiệp, xí nghiệp, công ty phân phối sản phẩm của mình
ở thị trường nông thôn.
Theo Thông tư số 207/2009/TT-BTC do Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần
Văn Hiếu ký ban hành ngày 28/10/2009, các hoạt động tổ chức hội chợ hàng nông
sản, làng nghề phía Nam và phía Bắc sẽ được hỗ trợ 70% chi phí cấu thành gian
hàng trên cơ sở giá đấu thầu. Đối với hoạt động đưa hàng Việt về bán tại nông
thôn, các khu công nghiệp và đô thị: Hỗ trợ 70% chi phí vận chuyển, quầy hàng và
nhân công phục vụ. Chi cho các hoạt động truyền thông tạo nhận thức chung cho
cộng đồng hướng về hàng Việt: Hỗ trợ 100% kinh phí thực hiện bài viết và phát
hành trên các phương tiện thông tin đại chúng.
Với ngành sữa, có nhiều hội thảo diễn ra nhằm thu hút người tiêu dùng sử
dụng sữa nội. Bên cạnh đó, các hãng sữa nội trong đó có hãng sữa Vinamilk đã
hợp tác với châu Âu nhằm nâng cao chất lượng dinh dưỡng sữa bột cho trẻ em Việt
Nam. Như vậy, ngành sữa Việt Nam rất cố gắng nâng cao chất lượng nhằm đáp
ứng được nhu cầu về chất lượng và dinh dưỡng các loại sữa dành cho trẻ em.
Qua tổng quan tài liệu nghiên cứu cho thấy vấn đề liên quan hàng nội còn ít
công trình nghiên cứu, chủ yếu là các bài báo bài viết trên phần nào đã nêu lên
được thực trạng và sự tác động trực tiếp của nhà nước, doanh nghiệp với việc
khuyến khích người dân sử dụng hàng trong nước. Các nghiên cứu hay bài viết về
chủ đề này chủ yếu hay đề cập đến thực trạng, và thái độ người tiêu dùng với hàng
Việt so sánh với hàng ngoại mà chưa đi sâu tìm hiểu kĩ các vấn đề liên quan đến
Quan điểm, thái độ của phụ nữ về sữa và các sản phẩm từ sữa nội dành cho trẻ em.
nhận thức, quan điểm của người dân đến một mặt hàng là sữa Việt Nam. Tác giả
với hướng tiếp cận nghiên cứu của mình một mặt tiếp thu những kinh nghiệm của

Nam Sách, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương.
4.3. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian : Địa bàn huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương.
- Xã Hợp Tiến
- Thị trấn Nam Sách
Thời gian nghiên cứu : từ tháng 3 đến tháng 5 năm 2011.
5. GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
- Phần lớn phụ nữ có con nhỏ từ 6 tháng tuổi đến 10 tuổi trong địa bàn nghiên cứu
đều sử dụng sữa và các sản phẩm từ sữa nội dành cho trẻ.
- Phụ nữ có đông con và có con càng lớn tuổi thì càng có xu hướng ủng hộ sữa nội,
đặc biệt là về giá cả.
- Thái độ và nhận thức của phụ nữ đối với sữa nội hiện nay khá tích cực, tuy nhiên
vẫn còn một bộ phận phụ nữ có thu nhập khá, điều kiện kinh tế gia đình tốt vẫn có
xu hướng ủng hộ sữa ngoại hơn sữa nội.
- Sự chủ động tìm hiểu thông tin về sữa trên các PTTTĐC có ảnh hưởng mạnh mẽ
đến quan điểm, thái độ của phụ nữ về sữa và các sản phẩm từ sữa nội dành cho trẻ.
Quan điểm, thái độ của phụ nữ về sữa và các sản phẩm từ sữa nội dành cho trẻ em.
6. KHUNG LÝ THUYẾT
Thao tác hóa các biến số.
Biến số độc lập
* Đặc điểm nhận khẩu học người trả lời :
- Nơi ở
Quan
điểm, thái
độ của
phụ nữ về
sữa và
các sản
phẩm từ
sữa nội

- Trình độ học vấn
- Nghề nghiệp
* Đặc điểm kinh tế của người trả lời :
- Điều kiện nhà ở
- Các tiện nghi sinh hoạt trong gia đình
- Thu nhập của cá nhân và của gia đình
- Chi tiêu
* Đặc điểm xã hội của người trả lời :
- Nơi ở
- Mức độ tham gia các hoạt động cộng đồng
* Mức độ tiếp cận các thông tin về sữa trên các phương tiện truyền thông đại
chúng.
Biến số phụ thuộc
Quan điểm, thái độ của phụ nữ có con từ 6 tháng tuổi đến 10 tuổi về sữa nội.
Tuy nhiên nghiên cứu này, tác giả sẽ khảo sát quan điểm, thái độ của phụ nữ về
sữa và các sản phẩm từ sữa trên một số khía cạnh : chất lượng, giá cả, thương hiệu,
chủng loại, chế độ tiếp thị và khuyến mại của các hãng sữa nội.
Biến số can thiệp
- Những chính sách khuyến khích sử dụng hàng nội địa của Đảng, nhà nước
- Các chương trình thu hút người tiêu dùng hàng nội địa của nhà sản xuất,
doanh nghiệp.
7. PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
7.1 Phương pháp luận
Quan điểm, thái độ của phụ nữ về sữa và các sản phẩm từ sữa nội dành cho trẻ em.
Phương pháp luận chung nhất mà đề tài sử dụng đó là phương pháp luận
Macxit làm kim chỉ nam trong suốt quá trình nghiên cứu.
Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng với tư cách là phép biện chứng
tự nhiên khi xem xét về quan điểm, thái độ của phụ nữ về sữa và các sản phẩm từ
sữa không tách rời với các điều kiện của gia đình, bản thân, bạn bè và xã hội.
Sử dụng quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử với tư cách là phép biện

tròn k = 5. Vậy người thứ nhất được lấy ở vị trí số 5, và tiếp tục lấy với k = 5, lấy
ra 150 người.
7.2.2 Phương pháp nghiên cứu định tính.
- Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu dựa trên các công trình
nghiên cứu, các báo cáo khoa học của tập thể và cá nhân, số liệu thống kê của Cục
chăn nuôi, Hội tiêu chuẩn và bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam. Các tài liệu, bài
báo liên quan đến cuộc vận động “ Người Việt ưu tiên dùng hàng Việt” và “ Người
Việt ưu tiên dùng sữa Việt” của bộ chính trị và các báo cáo của các tổ chức của
ngành sữa nhằm làm rõ các khái niệm cơ bản của đề tài. Đó cũng là tiền đề, cơ sở
cho nghiên cứu và giúp tác giả có định hướng đúng đắn khi tiến hành và phân tích
nghiên cứu của mình.
- Phương pháp phỏng vấn sâu, mẫu được chọn có chủ đích, trong đó phỏng vấn sâu
16 đối tượng và chọn có chủ đích, gồm 4 đại diện doanh nghiệp sản xuất sữa trong
nước để làm rõ khái niệm sữa nội và tham khảo các chiến lược sản xuất, kinh
doanh, phân phối sữa và các sản phẩm từ sữa nội hiện nay. Phỏng vấn sâu 10 phụ
nữ, trong đó 4 phụ nữ có con nhỏ từ 6 tháng tuổi đến 2 tuổi thường xuyên và thi
thoảng sử dụng sữa và các sản phẩm từ sữa cho trẻ. Trong 4 phụ nữ này, tác giả
lựa chọn những người có đặc điểm kinh tế gia đình, thu nhập, nghề nghiệp khác
nhau nhằm tìm hiểu, lý giải sâu hơn cho các kết quả phân tích trong nghiên cứu
định lượng. Tương tự với cách lựa chọn mẫu có đặc điểm như trên, phỏng vấn sâu
4 phụ nữ có con lớn hơn 2 tuổi và ở các độ tuổi khác nhau. Phỏng vấn sâu 2 phụ
nữ, trong đó 1 phụ nữ luôn luôn sử dụng các sản phẩm sữa ngoại và một phụ nữ
Quan điểm, thái độ của phụ nữ về sữa và các sản phẩm từ sữa nội dành cho trẻ em.
luôn luôn sử dụng các sản phẩm sữa nội nhằm tìm hiểu nguyên nhân, ưu và nhược
điểm của sữa nội so với sữa ngoại.
7.3 Phương pháp xử lý thông tin
- Xử lý thông tin định lượng bằng phần mềm SPSS 16.
- Xử lý thông tin định tính bằng phần mềm Nvivo 7.
8. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
8.1 Ý nghĩa lý luận

CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Quan điểm, thái độ của phụ nữ về sữa và các sản phẩm từ sữa nội dành cho trẻ em.
1.1Thao tác hóa các khái niệm
1.1.1 Quan điểm
Trong từ điển tiếng Việt thông dụng do Nguyễn Như Ý, Nguyễn Văn
Khang, Phan Xuân Thành, nhà xuất bản giáo dục Việt Nam, tái bản lần thứ 6, năm
2009 có định nghĩa . Quan điểm 1 : Chỗ đứng để xem xét, nhìn nhận vấn đề. Có
quan điểm giai cấp, quan điểm quần chúng. Quan điểm 2: Là ý kiến, cách nhìn
nhận riêng, trình bày quan điểm của mình, mỗi người có một quan điểm, hay thống
nhất quan điểm với nhau.
1.1.2 Thái độ
Theo từ điển tiếng Việt, thái độ được hiểu theo hai cách :
Thứ nhất : thái độ là tổng thể nói chung biểu hiện ra bên ngoài (bằng nét mặt, cử
chỉ, hành động, lời nói) của ý nghĩ, tình cảm đối với ai hoặc sự vật nào đó.
Thứ hai : thái độ là cách nghĩ, cách nhìn nhận, hành động theo một hướng nào đó
trước một vấn đề, một tình hình.
Theo tâm lý học, thái độ là nền tảng ứng xử của cá nhân, định hướng hành
động của con người theo một hướng nào đó trước một sự kiện. Thái độ của một
người trước một sự kiện xã hội thông qua sự tán thành hoặc phản đối, thông qua
hành vi tham gia hoặc không tham gia vào sự kiện đó. Thái độ của một người được
quy định bởi các yếu tố xã hội, phụ thuộc vào các khuôn mẫu xã hội. Trước một sự
kiện xã hội con người đối chiếu với một khuôn mẫu xã hội đã được lĩnh hội, nếu
nó đúng thì tán thành, và ngược lại nếu nó không đúng thì không tán thành.
- Thuật ngữ Thái độ ( Attitude ) có nghiều định nghĩa khác nhau. Theo
Shaver ( 1977 ) thì thái độ là “ một tâm thế ủng hộ hay phản đối đối với một nhóm
đối tượng nhất định”. Hay theo Fishbein và Ajzen ( 1975 ) thì đó là “ một vị trí
trong thang lưỡng cực về tình cảm hoặc đánh giá.”
- Một định nghĩa gần đây của Tourangcau và Rasinksi ( 1988 ) thì cho rằng
thái độ là “những mạng lưới của những niềm tin liên kết đan chéo nhau vốn được
lưu giữ lâu dài trong trí nhớ của chúng ta và được kích hoạt khi chúng ta gặp đối

là thông tin trực tiếp phát ra từ đối tượng, cũng có thể là gián tiếp do người khác
cấp cho. Thái độ của một người trước một sự kiện xã hội thông qua sự tán thành
Quan điểm, thái độ của phụ nữ về sữa và các sản phẩm từ sữa nội dành cho trẻ em.
hoặc phản đối, thông qua hành vi tham gia hoặc không tham gia sự kiện đó. Thái
độ của một người bị quy định bởi các yếu tố xã hội.
Tóm lại, trong nghiên cứu này, tác giả không đi tìm hiểu quan điểm, thái độ
của những người được hiểu với tư cách là các cá nhân riêng lẻ. Bằng phương pháp
nghiên cứu chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống phân cụm, nghiên cứu cố gắng tìm hiểu,
khái quát quan điểm, thái độ của các nhóm phụ nữ khác nhau trong xã hội nói
chung về sữa và các sản phẩm từ sữa nội dành cho trẻ em.
1.1.3 Thương hiệu
Thương hiệu là dấu hiệu để phân biệt hàng hóa dịch vụ cùng chủng loại của
các cơ sở sản xuất, kinh doanh khác nhau. Theo tác giả Richard Moore, thương
hiệu là “ một từ, một kí hiệu, họa tiết, biểu tượng, logo hay khẩu hiệu để xác định
và phân biệt dịch vụ với các sản phẩm và dịch vụ khác”[ 20,tr.36].
Thương hiệu đáp ứng 3 mục đích quan trọng :
+ Xác định nguyên bản gốc của sản phẩm.
+ Cung cấp một sự đảm bảo chất lượng
+ Tạo ra sự trung hòa trong khách hàng ( được biết đến như là
danh tiếng ) [23,tr.56].
Như vậy thương hiệu có thể là logo, uy tín, từ ngữ, hình ảnh hay sự kết hợp
các yếu tố đó được thể hiện bằng một hay nhiều màu sắc, nhằm phân biệt một sản
phẩm với sản phẩm khác nhằm bảo vệ những lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp
với sản phẩm.
1.1.4 Hàng hóa
Theo giáo trình kinh tế chính trị : Hàng hoá là sản phẩm của lao động có thể
thoả mãn nhu cầu nào đó của con người và đem trao đổi, mua, bán. Hàng hóa là
một phạm trù kinh tế có thể phản ánh mối quan hệ giữa người sản xuất và trao đổi
hàng hóa. Sản phẩm mang hình thái hàng hóa khi nó trở thành đối tượng mua –
bán trên thị trường . [ 20,tr.39]

quốc thông qua ngày 20/11/1989: “ Trong phạm vi công ước này, trẻ em có nghĩa
Quan điểm, thái độ của phụ nữ về sữa và các sản phẩm từ sữa nội dành cho trẻ em.
là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật áp dụng đối với trẻ em có quy định
tuổi thành niên sớm hơn”.
Theo điều 1 Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em năm 2004 của Việt
Nam thì quy định “ Trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi”.
Trong đề tài nghiên cứu này, tác giả giới hạn nghiên cứu về quan điểm, thái độ của
những bà mẹ có con từ 6 tháng tuổi đến10 tuổi.
1.2 Một số lý thuyết được sử dụng trong đề tài
1.2.1 Lý thuyết hành động xã hội
Max Weber (1864-1920) là người có công đầu xây dựng xã hội học hiện đại
với tư cách là một khoa học có vị trí rõ ràng, độc lập. Một trong những khái niệm
quan trọng nhất của xã hội học Weber là khái niệm hành động xã hội. Quan niệm
của Weber cho thấy hành động xã hội là đối tượng nghiên cứu của xã hội học.
Weber đã chỉ ra sự khác nhau giữa hành động xã hội và những hành vi và hoạt
động khác của con người. Hành động xã hội được Weber tổng quát định nghĩa là
hành động được chủ thể gắn cho nó một ý nghĩa chủ quan nào đó, là hành động có
tính đến hành vi của người khác, và vì vậy được định hướng tới người khác, trong
đường lối, quá trình của nó. Weber phân biệt 4 loại hành động xã hội, đó là:
• Hành động duy lý – công cụ
• Hành động duy lý giá trị
• Hành động cảm tính (xúc cảm)
• Hành động theo truyền thống
Xã hội học nghiên cứu hành động xã hội, thực chất là tập trung vào nghiên
cứu loại hành động duy lý – công cụ - một trong bốn loại hành động. Theo Weber,
đặc trưng quan trọng nhất của xã hội hiện đại là hành động xã hội của con người
ngày càng trở nên duy lý, hợp lý với tính toán chi li, tỉ mỉ, chính xác về mối quan
hệ giữa công cụ /phương tiện và mục đích /kết quả.
Vận dụng lý thuyết này vào nghiên cứu, tác giả nhận thấy việc lựa chọn mua
loại sữa nào gắn với mức giá nhất định và có phù hợp với cơ thể trẻ hay không đều

Quan điểm, thái độ của phụ nữ về sữa và các sản phẩm từ sữa nội dành cho trẻ em.
1.2.3 Lý thuyết văn hóa tiêu dùng.
Theo lý thuyêt văn hóa tiêu dùng thì sự tiêu dùng không chỉ đơn giản là
hành vi mua sắm, sử dụng, lựa chọn các loại hàng hóa mà văn hóa tiêu dùng được
nhìn nhận “là một hiện tượng văn hóa” ( Mile 1998:3 ) và theo M.Cracken (1990 :
XI) thì “nếu không có văn hóa hàng hóa, xã hội sẽ mất đi một phương tiện then
chốt để tái sản xuất và nhận biết văn hóa của họ”.
Lý thuyết này nhấn mạnh rằng hành động của mỗi cá nhân được coi là một
thông điệp và thông qua mỗi thông điệp ấy, cá nhân sẽ thể hiện lối sống của mình.
Theo đó, hành vi lựa chọn các hãng sữa ngoại sử dụng cho trẻ em của các bà mẹ
thể hiện tâm lý “sính ngoại”, dùng sữa ngoại vì nghĩ rằng hàng ngoại luôn tốt và
tâm lý “ tiền nào của ấy”, sữa ngoại đắt thì chất lượng tốt. Bên cạnh đó, việc chọn
dùng sữa ngoại của các bà mẹ còn thể hiện đẳng cấp tiêu dùng của gia đình mình.
CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG SỬ DỤNG SỮA VÀ CÁC SẢN PHẨM TỪ
SỮA CHO TRẺ EM.
2.1 Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu
Nam Sách là một huyện thuộc tỉnh Hải Dương và có lịch sử phát triển khá lâu
đời. Huyện gồm 18 xã và 1 thị trấn, với dân số 114.635 người, diện tích tự nhiên là
Quan điểm, thái độ của phụ nữ về sữa và các sản phẩm từ sữa nội dành cho trẻ em.
109 km2. Theo báo cáo tổng kết năm 2010 của huyện, tốc độ tăng trưởng kinh tế
của huyện đạt 10,8% /năm. Cơ cấu thu nhập theo ngành nghề, nông nghiệp đóng
góp 30,2% trong tổng thu nhập toàn huyện. Công nghiệp đóng góp 25,8%, buôn
bán, dịch vụ đóng góp 44% trong tổng thu nhập toàn huyện chia theo cơ cấu ngành
nghề. Thu nhập bình quân một người là 10.5 triệu đồng / năm. Huyện đã có khu
công nghiệp Nam Sách được Chính phủ phê duyệt với trên 63 ha và cụm công
nghiệp An Đồng đã được tỉnh phê duyệt trên 35 ha. Khu công nghiệp thu hút khá
đông lực lượng lao động tham gia sản xuất trong khu vực công nghiệp.
Thị trấn Nam Sách nằm ở trung tâm huyện và được hình thành từ rất sớm. Về
vị trí địa lý, phía Bắc giáp xã Nam Trung, xã Quốc Tuấn, phía Tây giáp xã Nam
Hồng và Hồng Phong, phía Nam giáp xã Đồng Lạc và phường An Châu thuộc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status