ĐÁP ỨNG MIỄN DỊCH CỦA VỊT, NGAN ĐƯỢC TIÊM VACCINE CÚM GIA CẦM VÀ
VIÊM GAN VỊT TẠI TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU VỊT ĐẠI XUYÊN
Nguyễn Thị Thúy Nghĩa,
1
Tô Long Thành, Đồng Thị Quyên, Đặng Thị Vui,
Nguyễn Đức Trọng, Nguyễn văn Duy
Trung tâm Nghiên cứu Vịt Đại Xuyên;
1
Trung tâm Chẩn đoán Thú y trung ương
Tóm tắt
Kết quả nghiên cứu đáp ứng miễn dịch của vịt, ngan sau khi tiêm vacxin cúm gia cầm và viêm gan vịt từ
năm 2008 đến 2010 tại Trung tâm Nghiên cứu Vịt Đại Xuyên cho thấy: Vịt có hiệu giá kháng thể trung bình
6,6log2, tỷ lệ bảo hộ 100% tại thời điểm 30 ngày sau khi tiêm vacxin H5N1 lần 2. Cả vịt và ngan có đáp ứng miễn
dịch tốt với vacxin H5N1. Sau khi tiêm vacxin viêm gan một lần duy nhất vịt có đáp ứng miễn dịch kéo dài suốt thời
gian mẫn cảm với bệnh. Đàn vịt sinh sản được tiêm vacxin lặp lại 3 lần trước khi đẻ thì đàn con của chúng có miễn
dịch thụ động cao hơn vịt mẹ được tiêm nhắc lại 2 lần.
1. Đặt vấn đề
Cúm gia cầm là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm có tốc độ lây lan rất nhanh với tỷ lệ chết
cao trong đàn gia cầm khi bị nhiễm bệnh. Bệnh xảy ra khắp nơi trên thế giới, gây thiệt hại về
kinh tế và có ảnh hưởng lớn đến tình hình chính trị xã hội.Bệnh xuất hiện lần đầu ở nước ta năm
2003 và dự đoán trong nhiều năm nữa là mối đe dọa cho sự phát triển của nghành chăn nuôi gia
cầm nước ta và sức khỏe cộng đồng.
Bệnh viêm gan vịt là một bệnh truyền nhiễm cấp tính ở vịt, không chỉ gây bệnh cho vịt
mà còn lây lan và gây bệnh cho ngan thậm chí cả ngỗng con và một số loài chim nước hoang dã
như vịt trời. Ở nước ta, bệnh được phát hiện lần đầu tiên năm 1978 từ một số giống vịt nhập
ngoại. Năm 1983-1984, dịch viêm gan vịt đã xảy ra ở một số địa phương như Hà tây, Hải
Dương, Hà Nam…làm chết hơn 6000 vịt con dưới 3 tuần tuổi. Mấy năm gần đây, bệnh viêm gan
vịt lại phát sinh, gây thành dịch qui mô lớn gây thiệt hại cho nghành chăn nuôi vịt, ngan đặc biệt
là ngan Pháp.
2.4.2. Bố trí thí nghiệm cho nội dung 2 (n=150con/đàn)
Thí nghiệm gồm 2 đàn ngan một đàn tiêm vacxin H5N1, đàn còn lại tiêm vacxin H5N9.
Sau khi tiêm nhắc lại lần thứ 3 lấy máu ở các thời điểm 30,60,90,120 ngày kiểm tra hàm lương
kháng thể kháng H5.
2.4.3. Bố trí thí nghiệm cho nội dung 3 (n=150 con/đàn)
Thí nghiệm gồm 3 đàn vịt được tiêm vacxin viêm gan siêu vi trùng của xí nghiệp thuốc
thu y Trung ương.
2.4.4. Các phương pháp nghiên cứu và kỹ thuật sử dụng
Phương pháp lấy máu vịt, ngan: dung bơm tiêm vô trùng lấy máu tĩnh mạch cánh để
nghiêng sau đó chắt huyết thanh.
Kiểm tra hiệu giá kháng thể cúm gia cầm trong huyết thanh vịt ngan bằng phản ứng HI
(phản ứng ngăn trở ngưng kết hồng cầu).
Kiểm tra kháng thể viêm gan siêu vi trùng vịt bằng phản ứng trung hoà trên phôi trứng.
Phương pháp công cường độc virus viêm gan vịt trong phòng thí nghiệm
Phương pháp xử lý số liệu: Số liệu được xử lý theo phương pháp thống kê sinh học và
phần mềm Excel.
3. Kết quả và thảo luận
3.1. Đáp ứng miễn dịch và độ dài miễn dịch của vịt được tiêm vacxin cúm gia cầm
3.1.1. Đáp ứng miễn dịch và độ dài miễn dịch của vịt sau khi tiêm vaccin H5N1 lần 2 Để xác định đáp ứng miễn dịch và độ dài miễn dịch của vịt được tiêm vacxin H5N1
Trung quốc, tiến hành lấy mẫu ở các đàn vịt được tiêm vacxin tại trung tâm. Thời điểm lấy mẫu
sau khi tiêm mũi 2 là 30 ngày, 60 ngày, 90 ngày, 120 ngày. Huyết thanh được chuyển kịp thời về
Trung tâm Chẩn đoán Thú y trung ương, để xác định hiệu giá kháng thể. Các mẫu đều đạt yêu
cầu xét nghiệm. Kết quả kiểm tra được trình bày ở bảng 1 dưới đây:
Bảng 1. Hiệu giá kháng thể trung bình và tỷ lệ bảo hộ của vịt được tiêm vacxin H5N1
Thời điểm lấy mẫu sau
tiêm vacxin mũi 2(ngày)
Tổng số
27
20
66
3,9
(STT-số thứ tự, GMT-hiệu giá kháng thể trung bình)
Qua kiểm tra cho thấy: Tại thời điểm 30 ngày sau khi tiêm phòng mũi 2 đáp ứng miễn
dịch đạt cao nhất với hiệu giá kháng thể 6,6 log
2
, tỷ lệ bảo hộ 100%. Sau đó đáp ứng miễn dịch
giảm dần, tại thời điểm 120 ngày sau khi tiêm phòng mũi 2, hiệu giá kháng thể 3,9 log
2
, tỷ lệ bảo
hộ 66%. Theo tiêu chuẩn của OIE thì hiệu giá kháng thể tối thiểu phải có trong huyết thanh đàn
gia cầm là 4 log
2
và tỷ lệ bảo hộ 70% thì đàn gia cầm đó mới được bảo hộ. Như vậy đàn vịt sau
khi tiêm phòng vacxin H5N1 đã cho đáp ứng miễn dịch đạt ngưỡng bảo hộ và kéo dài được 4
tháng kết quả nghiên cứu này phù hợp với nghiên cứu của Ninh Văn Hiểu (2006).
3.1.2. Đáp ứng miễn dịch và độ dài miễn dịch của từng giống vịt sau khi tiêm vaccin H5N1
lần 3
Để xác định thời điểm thích hợp tiêm nhắc lại cho từng giống vịt chúng tôi tiến hành xác
định hiệu giá kháng thể của vịt sau khi tiêm phòng lần thứ 3 (khi vịt vào đẻ). Đáp ứng miễn dịch
của từng giống vịt được thể hiện ở bảng 2.
Bảng 2. Hiệu giá kháng thể trung bình của đàn vịt sinh sản sau khi tiêm phòng lần 3
Giống vịt
Hiệu giá kháng thể tại các thời điểm sau tiêm phòng (log2)
30 ngày
60 ngày
90 ngày
Qua bảng 2 cho thấy hiệu giá kháng thể trung bình của các giống vịt tại các thời điểm sau
khi tiêm phòng lần 3 thấp hơn hiệu giá kháng thể của vịt sau khi tiêm phòng lần 2 nhưng độ dài
miễn dịch của một số giống vịt kéo dài đến 5 tháng vẫn đạt mức bảo hộ (>4log2) Vịt CV. Supper
M hiệu giá kháng thể và độ dài miễn dịch ngắn nhất chỉ đạt mức 4 tháng. Như vậy, thời điểm
tiêm nhắc lại trong giai đoạn sinh sản thích hợp nhất cho vịt Khaki Campbell và Triết giang (vịt
chuyên trứng) là 5 tháng, vịt CV. Supper M sau 4 tháng. 3.2. Đáp ứng miễn dịch và độ dài miễn dịch của ngan khi được tiêm vacxin H5N1 và H5N9
Mỗi đàn ngan được tiêm phòng một loại vacxin theo đúng hướng dẫn của nhà sản xuất,
kết quả được trình bày ở bảng 3.
Đàn ngan được tiêm vaccine H5N1 có đáp ứng miễn dịch với hiệu giá kháng thể và độ
dài miễn dịch cao hơn hẳn đàn ngan được tiêm vaccine H5N9. Hiệu giá kháng thể trung bình
giữa hai loại vacxin có sự sai khác rõ rệt. Sau khi tiêm vacxin H5N1 lần 3 đàn ngan có miễn dịch
kéo dài 5 tháng. Theo nhiều kết quả nghiên cứu khác, ngan là loài có đáp ứng miễn dịch không
cao đối với vacxin cúm H5N9 được sử dụng tại Việt Nam và phải tiêm nhắc lại nhiều lần mới tạo
được miễn dịch đạt đến mức bảo hộ như vacxin H5N1 được dùng cho ngỗng và ngan tại Trung
Quốc (Trần Hoa Lan, tư liệu cá nhân). Theo Nguyễn Hoàng Đăng (2008), tỷ lệ bảo hộ của
vacxin H5N9 đối với ngan rất thấp (17,22%). Như vậy, sau 5 tháng phải tiêm vacxin nhắc lại để
đàn ngan được bảo hộ với bệnh cúm gia cầm.
Bảng 3.Hiệu giá kháng thể TB và tỷ lệ bảo hộ của ngan được tiêm vacxin H5N1, H5N9
Đàn
Loại
vacxin
Chỉ tiêu
Thời gian sau tiêm phòng (ngày)
30
60
90
120
3.3. Đáp ứng miễn dịch của vịt sau khi tiêm vacxin viêm gan siêu vi trùng
Theo Crighton (1978), vịt con mới nở khi tiêm vaccine nhược độc typ I, sau 48-72 giờ vịt
có miễn dịch, miễn dịch kéo dài trong suốt giai đoạn vịt mẫn cảm với bệnh.
Theo Trần Thị Liên (2008), vịt được sử dụng vacxin theo các đường tiêm bắp, tiêm dưới
da hoặc nhỏ mắt hoặc nhỏ mũi đều có đáp ứng miễn dịch tốt, miễn dịch kéo dài đến 30 tuần tuổi.
Để làm rõ khả năng kích thích sinh miễn dịch của vacxin viêm gan siêu vi trùng kết quả
thí nghiệm được trình bày ở bảng 4.
Bảng 4. Đáp ứng miễn dịch của đàn vịt được tiêm vacxin viêm gan siêu vi trùng
Đàn
Ngày tuổi
tiêm vacxin
Liều
số mẫu
kiểm tra
số mẫu (-)
Số mẫu
(+)
Tỷ lệ bảo
hộ (%)
1
1
1
5
0
5
100
2
1
1
5
Vịt mẹ được tiêm vacxin 3 lần: Vịt con nở từ trứng sau khi đẻ 1 tháng cho tỷ lệ bảo hộ
lúc 3 ngày tuổi là 100%, sau 3 tháng 80%, sau 6 tháng còn 70%.
Vịt mẹ được tiêm vacxin 2 lần: Sau khi đẻ 1 tháng cho đàn con có tỷ lệ bảo hộ 90%, sau 3 tháng
70%, sau 6 tháng còn 40%.
Bảng 5. Ảnh hưởng của số lần dùng vacxin ở vịt mẹ đến miễn dịch thụ động ở vịt con
Thời
gian
thu
trứng
Đối
tượng
Kết quả công cường độc
Vịt mẹ tiêm vacxin 2 lần
Vịt mẹ tiêm vacxin 3 lần
Số vịt
TN
(con)
Số vịt
chết
(con)
Số vịt
sống
sót
(con)
Tỷ lệ
bảo hộ
(%)
Số vịt
TN
(con)
TN
10
3
7
70
10
2
8
80
ĐC
5
5
0
0
5
5
0
0
6
TN
10
6
4
40
10
3
7
70
ĐC
5
cường
độc
Đàn mẹ dùng vacxin
Đàn mẹ không dùng vacxin
Số vịt
thí
nghiệm
Số vịt
ốm
Số
sống
xót
TLBH
(%)
Số vịt
thí
nghiệm
Số vịt
ốm
Số
sống
xót
TLBH
(%)
1
1
5
1
4
80
60
21
5
2
3
60
5
1
4
80
7
7
5
1
4
80
5
5
0
0
10
5
3
2
40
5
4
1
20
14
3
60
14
5
4
1
20
21
5
2
3
60
28
5
0
5
100
- Vịt, ngan có đáp ứng miễn dịch tốt khi được tiêm vacxin cúm gia cầm H5N1. Trong giai
đoạn sinh sản, vịt hướng trứng và ngan có thời gian miễn dịch cao, miễn dịch kéo dài hơn so với
vịt chuyên thịt.
- Vịt được tiêm vacxin viêm gan siêu vi trùng một lần cho đáp ứng miễn dịch với tỷ lệ
bảo hộ từ 80-100%. Vịt con sinh ra từ đàn bố mẹ được phòng bệnh 3 lần ở những thời điểm 7, 28
ngày tuổi và lúc vào đẻ có miễn dịch thụ động với tỷ lệ bảo hộ lúc 3 ngày tuổi là 70-100% tuỳ
thuộc vào thời điểm sinh sản sau khi tiêm vacxin. Vịt con sinh ra từ đàn bố mẹ không được tiêm
phòng có đáp ứng miễn dịch tương đương nhau khi dùng vacxin ở thời điểm 1 và 7 ngày tuổi.
Vịt con sinh ra từ đàn bố mẹ có miễn dịch có đáp ứng miễn dịch cao nếu tiêm vacxin ở 7-10
ngày tuổi.
Qua kết quả nghiên cứu trên có thể khuyến cáo lịch tiêm phòng cho từng loại vịt, ngan
như sau:
- Đối với vịt ngan thương phẩm: Tiêm vacxin viêm gan siêu vi trùng một lần duy nhất
lúc 1 ngày tuổi nếu đàn bố mẹ không được tiêm phòng, lúc 7 ngày tuổi nếu đàn bố mẹ đã có
miễn dịch.
- Đối vịt, ngan sinh sản:
Tiêm vacxin viêm gan 3 lần trước khi vào đẻ ở các thời điểm 7, 28 ngày tuổi, lúc vào đẻ.
Trong thời gian sinh sản 5-6 tháng tiêm vacxin nhắc lại.
+ Vịt chuyên thịt tiêm vacxin H5N1 nhắc lại trong giai đoạn sinh sản sau mỗi 4 tháng.
+ Vịt chuyên trứng và ngan tiêm vacxin H5N1 nhắc lại trong giai đoạn sinh sản sau mỗi 5
tháng.
4.2. Đề nghị Công nhận lịch tiêm phòng vacxin H5N1 và vacxin viêm gan siêu vi trùng vịt là TBKT.
Tài liệu tham khảo
1. Ninh Văn Hiểu (2006). Tình hình dịch cúm gia cầm và Kết quả tiêm vacxin H5N2, H5N1 của Trung Quốc
để phòng bệnh cho gà, vịt trên địa bàn tỉnh Nam Định, Luận văn Thạc sĩ NN, Trường Đại học Nông
nghiệp Hà Nội.
2. Tô Long Thành, Nguyễn Hoàng Đăng, Hoàng Đăng Huyến (2008). Đáp ứng miễn dịch trên gà và vịt của