Kết quả điều tra tình hình chăn nuôi, thú y và dịch bệnh trên đàn chó được nuôi tại Trung tâm nghiên cứu chó nghiệp vụ trường Đại học Nông nghiệp Hà nội. - Pdf 26

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 . TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Rau là loại thực phẩm không thể thiếu được trong đời sống hằng ngày.
Cùng với thức ăn động vật, rau cung cấp những dinh dưỡng cần thiết cho sự tồn
tại và phát triển của con người. Tục ngữ có câu: “Cơm không rau như đau không
thuốc”. Rau cung cấp cho cơ thể những chất dinh dưỡng, đặc biệt là các vitamin,
các axít hữu cơ, chất khoáng… Theo tính toán của nhiều nhà dinh dưỡng học,
muốn cơ thể hoạt động bình thường cần cung cấp 2300-2500 kcal mỗi ngày,
trong đó phải có 250-300 gam rau (tương đương với 7,5-8 kg/tháng hay 90-108
kg/năm – Trần Khắc Thi). Như vậy tổng nhu cầu rau của nước ta sẽ là 7.650 –
9.180 nghìn tấn, tổng sản lượng rau các loại năm 2006 đạt 9.650 nghìn tấn.
Chính vì thế, rau xanh trở thành một sản phẩm Nông Nghiệp có giá trị kinh tế
cao và có thị trường tiêu thụ rộng lớn.
Với điều kiện khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều, Việt nam có thể sản xuất rau
quanh năm. Theo thống kê 2005, diện tích sản xuất rau ở nước ta vào khoảng
635,8 nghìn ha, sản lượng 9640,3 nghìn tấn, so với năm 1999 diện tích tăng
175,5 nghìn ha (tốc độ tăng bình quân 3,61%/ năm), sản lượng tăng 3071,5
nghìn tấn (tốc độ tăng bình quân 7,55%/năm). Trong đó rau ở miền bắc vào
khoảng 249,7 ngàn ha (chiếm 39,3% tổng diện tích).[4]
Vĩnh Phúc là một trong những địa phương sản xuất khá nhiều rau trong cả
nước. Khối lượng sản xuất rau của tỉnh năm 2004 là 148.798,2 tấn trên diện tích
8.836 ha. Do vậy, ngành hàng rau của tỉnh có những ảnh hưởng nhất định tới
toàn bộ hệ thống ngành hàng rau của miền Bắc. Sản xuất rau một mặt đáp ứng
nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu đang ngày càng tăng, mặt khác là
giải pháp cho phép thúc đẩy mạnh mẽ quá trình đa dạng hoá sản xuất nông
1
nghiệp Việt Nam và nâng cao thu nhập cho người dân, chuyển đổi hiệu quả và
bền vững cơ cấu cây trồng cũng như các điều kiện sản xuất.
Sản xuất rau đòi hỏi kỹ thuật thâm canh cao, do có nhiều loại sâu bệnh gây
hại nên mức sử dụng phân bón cũng như các loại thuốc BVTV ngày càng gia
tăng. Quá trình sử dụng phân hóa học, thuốc trừ sâu chủ yếu là tự phát, kinh

huyện, cung cấp rau cho thị trấn cũng như các khu vực lân cận. Nhu cầu thị hiếu
của người dân về rau ngày càng gia tăng, rau bán trên thị trường trước hết phải
có mẫu mã đẹp, xanh, non, mà không bị sâu bệnh. Vì vậy, đòi hỏi người sản
xuất cần phải tăng hàm lượng sử dụng thuốc BVTV, diệt trừ hết sâu bệnh để
đảm bảo rau của mình dễ dàng được người dân sử dụng. Tuy nhiên, việc lạm
dụng thuốc BVTV trong sản xuất rau đã làm ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng
thực sự của rau cũng như chất lượng môi trường do lượng dư các hóa chất
BVTV này, qua đó ảnh hưởng tới sức khỏe con người.
Do vậy , việc tìm hiểu thực trạng sản xuất rau trong khu vực, thực trạng sử
dụng thuốc BVTV trong sản xuất rau của thị trấn là điều rất quan trọng và hết
sức cần thiết. Để từ đó đưa ra được những biện pháp quản lý và kiểm soát cũng
như các biện pháp kỹ thuật phù hợp trong sản xuất rau vừa đáp ứng được nhu
cầu rau trong khu vực, vừa đảm bảo được chất lượng rau cũng như chất lượng
môi trường xung quanh.
Xuất phát từ lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Thực trạng sử dụng thuốc BVTV cho sản xuất rau tại thị trấn Gia
Khánh, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc”
3
1.2. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng sử dụng thuốc BVTV trong sản xuất rau tại thị trấn Gia
Khánh, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc. Từ đó đề xuất ra một số giải pháp
để nâng cao mức độ an toàn thuốc BVTV đối với rau và bảo vệ môi trường
sinh thái.
1.2.2 Yêu cầu của đề tài
- Thu thập số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội phải thể hiện tính
khoa học, chính xác, khách quan phù hợp với tình hình thực tế của địa phương.
- Thông tin thu thập về tình hình sử dụng thuốc BVTV trên địa bàn phải
chính xác, phù hợp với thực tế của địa phương.
- Sử dụng đúng thông tư, nghị định, quy định hiện hành về thuốc BVTV để

Năm Chỉ tiêu Diện tích (ha)
Năng suất
(tấn/ha)
Sản lượng
(triệu tấn)
1997
+Toàn thế giới
+ Châu Á
+ * Tỷ lệ (%)
37,759
25,003
66,21
161,06
163,47
101,50
608,146
408,724
67,21
1998
+Toàn thế giới
+ Châu Á
+ * Tỷ lệ (%)
39,740
26,745
67,30
158,79
159,85
100,67
631,031
427,519

+ * Tỷ lệ (%)
43,023
29,539
68,66
162,27
164,95
101,65
698,134
487,246
69,79
* Tỷ lệ (Châu Á/Thế giới )% Nguồn FAO – Databases, 2002
Riêng ở Châu Á, sản lượng rau năm 2001 đạt khoảng 487,246 triệu tấn.
Trong đó, Trung Quốc là nước có sản lượng rau cao nhất, đạt 70 triệu tấn/năm;
thứ 2 là Ấn Độ với sản lượng rau đạt 65 triệu tấn/năm. Nhìn chung, mức tăng
trưởng sản lượng rau Châu Á qua các năm đạt khoảng 3%/năm, tương đương
khoảng 5 triệu tấn/năm.
6
2.1.2 Tình hình tiêu thụ rau trên thế giới
Rau được dùng kết hợp với các loại hoa quả thực phẩm rất tốt cho sức
khoẻ do có chứa các loại vitamin, các chất chống ôxi hoá tự nhiên, có khả năng
chống lại một số bệnh như ung thư. Do vậy nhu cầu tiêu thụ rau quả ngày càng
tăng. Người dân Nhật Bản tiêu thụ rau quả nhiều hơn người dân của bất cứ quốc
gia nào trên thế giới, mỗi năm Nhật Bản tiêu thụ 17 triệu tấn rau các loại, bình
quân mỗi người tiêu thụ 100 kg/năm. Xu hướng hiện nay là sự tiêu thụ ngày
càng nhiều các loại rau tự nhiên và các loại rau có lợi cho sức khoẻ. Trung bình
trên thế giới mỗi người tiêu thụ 154 - 172g/ngày (FAO, 2006 [FAO start
database, 2006]). Theo dự báo của Bộ nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA) do tác động
của các yếu tố như sự thay đổi cơ cấu dân số, thị hiếu tiêu dùng và thu nhập dân
cư, tiêu thụ nhiều loại rau sẽ tăng mạnh trong giai đoạn 2005 - 2010, đặc biệt là
rau ăn lá. Việc tiêu thụ rau diếp và các loại rau ăn lá khác tăng 22 - 23%, trong

ngày càng có tính chuyên canh cao. Ở các tỉnh phía bắc, diện tích trồng rau vụ
đông năm 2005 đạt 137,4 nghìn ha( bằng 95.5%), năng suất đạt 153,5 tạ/ha(tăng
5,6%) và sản lượng đạt 2,1 triệu tấn(tăng 1,1%) so với vụ đông năm 2004 các
tỉnh phía nam, năm 2006 gieo trồng được khoảng 235,182 ha rau các loại, tăng
22,959 ha so với năm 2005 và tăng chủ yếu ở khu vực Đồng bằng sông Cửu
Long( 20.504 ha). Năng suất bình quân là 154,85 tạ/ha, sản lượng đạt 3.641.896
tấn, tăng hơn năm 2005 là 363.837 tấn [2].
Tính đến năm 2009, diện tích trồng rau cả nước là 735.335 ha, năng suất
đạt 161,6 tạ/ha, sản lượng đạt 11.885.067 tấn, tăng 30,02 % so với năm
2001( 514.600 ha), tăng gấp đôi so với 10 năm trước( năm 1996 à 342,6 nghìn
ha).đây là một trong nhóm cây trồng có tốc độ tăng diện tích gieo trồng nhanh
nhất trong một thập kỷ qua [17].
8
Bảng 2.2. Diện tích, sản lượng rau ở Việt Nam phân theo địa phương
TT
Địa phương
2007 2008 2009
Diện
tích
(ha)
Sản lượng
(tấn)
Diện
tích
(ha)
Sản lượng
(tấn)
Diện
tích
(ha)

9
Sản xuất rau theo hướng nông nghiệp công nghệ cao đã bước đầu được
hình thành như: sản xuất trong nhà màn, nhà lưới chống côn trùng, sản xuất
trong nhà plastic không cố định để hạn chế tác hại của các yếu tố môi trường bất
lợi, trồng rau bằng kỹ thuật thủy canh, màng dinh dưỡng, nhân giống và sản xuất
các loại cây quý hiếm, năng suất cao bằng công nghệ nhà kính của Israel có điều
khiển kiểm soát các yếu tố môi trường [21].
2.2.2 Tình hình tiêu thụ rau tại Việt Nam
Nhìn chung, ngành trồng rau đã đóng góp một khối lượng sản phẩm đáng
kể cho xuất khẩu ở nước ta. Từ năm 1957, rau quả Việt Nam đã có mặt tại
Trung Quốc. Thời kỳ 1986 – 1990, thực hiện Hiệp định hợp tác đã ký giữa hai
Chính phủ Việt Nam và Liên Xô cũ (01/1985) về xuất khẩu sản phẩm rau quả
sang Liên Xô, một khối lượng lớn rau đã được bán, góp phần không nhỏ vào
kim ngạch xuất khẩu cho đất nước.
Bảng 2.3. Kim ngạch xuất khẩu rau quả năm 1990 – 2004 (Triệu USD)
Năm Kim ngạch Năm Kim ngạch
1990 52,3 1997 68,2
1991 33,3 1998 53,0
1992 32,2 1999 104,9
1993 23,6 2000 213,126
1994 20,8 2001 329,972
1995 56,1 2002 218,521
1996 102,2 2003 182,554
Nguồn: Tổng cục thống kê, 1997
Tính đến năm 2002, nước ta có khoảng 60 cơ sở chế biến rau quả với tổng
công suất 290.000 tấn sản phẩm/năm, trong đó,doanh nghiệp nhà nước chiếm
khoảng 50%, doanh nghiệp tư nhân 16% và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài 34%. Ngoài ra còn hàng chục ngàn hộ gia đình làm chế biến rau quả với
quy mô nhỏ [18].
Hiện nay, sản phẩm rau tươi được tiêu thụ chủ yếu ở thị trường trong nước

cùng với xu hướng đô thị hóa và công nghiệp hóa ngày càng mạnh, con người
chỉ có cách duy nhất: Thâm canh để tăng sản lượng cây trồng. Khi thâm canh
cây trồng, một hậu quả tất yếu không thể tránh được là mất cân bằng sinh thái,
kéo theo sự phá hoại của dịch hại ngày càng tăng. Để giảm thiệt hại do dịch hại gây
ra, con người phải đầu tư thêm kinh phí để tiến hành các biện pháp phòng trừ, trong
đó biện pháp sử dụng thuốc bảo vệ thực vật được coi là quan trọng [13].
Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) hay nông dược là những chất độc có nguồn
gốc tự nhiên hay hóa chất tổng hợp được dùng để bảo vệ cây trồng và nông sản,
chống lại sự phá hoại của những sinh vật gây hại đến tài nguyên thực vật.
Những sinh vật gây hại chính gồm sâu hại, bệnh hại, cỏ dại, chuột và các tác
nhân khác [19].
Thuốc BVTV là những hợp chất hóa học (vô cơ, hữu cơ), những chế phẩm
sinh học (chất kháng sinh, nấm, vi khuẩn, siêu vi trùng, tuyến trùng…), những
chất có nguồn gốc thực vật, động vật, được sử dụng để bảo vệ cây trồng và nông
sản, chống lại sự phá hoại của các sinh vật gây hại (côn trùng, nhện, tuyến trùng,
chim, chuột, thú rừng, nấm, vi khuẩn, rong rêu, cỏ dại…). Theo quy định tại
điều 1, chương 1, điều lệ quản lý thuốc BVTV (ban hành kèm theo Nghị định số
58/2002/NĐ – CP ngày 03/06/2002 của Chính phủ), ngoài tác dụng phòng trừ
sinh vật gây hại tài nguyên thực vật, thuốc BVTV còn bao gồm cả những chế
phẩm có tác dụng điều hòa sinh trưởng thực vật, các chất làm rụng lá, làm khô
12
cây, giúp cho việc thu hoạch mùa màng bằng cơ giới được thuận tiện (thu hoạch
bông vải, khoai tây bằng móc…). Những chế phẩm có tác dụng xua đuổi hoặc
thu hút các loài sinh vật gây hại tài nguyên thực vật đến để tiêu diệt. Trong các
nhóm thuốc BVTV trên đây được sủ dụng phổ biến hơn cả là thuốc trừ sâu,
thuốc trừ bệnh và thuốc trừ cỏ dại. Tuy nhiên, , các nhóm thuốc BVTV chỉ tiêu
diệt được một số loài dịch hại nhất định, chỉ phát huy hiệu quả tối ưu trong
những điều kiện nhất định về thời tiết, đất đai, cây trồng, canh tác…[1].
2.2.2.2. Phân loại HCBVTV
* Phân loại dựa vào đối tượng phòng chống

- Nhóm 6: Dithiocarbamat gồm Cartap (Padan)…
- Nhóm 7: Các hợp chất Nitro mạch vòng.
- Nhóm 8: Triazin.
- Nhóm 9: Các hợp chất chứa Nitơ
- Nhóm 10: Các hợp chất vô cơ.
- Nhóm 11: Các hợp chất chứa Ure.
- Nhóm 12: Các loại thuốc còn lại.
Ngoài 3 cách phân loại trên còn có nhiều cách phân loại khác nhằm phục vụ
cho mục đích sử dụng hay nghiên cứu.
Theo Nguyễn Trần Oánh, Nguyễn Văn Viên (1996), [12] thì việc phân loại
như trên mang tính quy ước vì một loại thuốc có thể trừ được nhiều loại dịch
hại, chúng lại có khả năng xâm nhập khác nhau vào cơ thể sinh vật và trong
phân tử của chúng lại có các nhóm nguyên tố hay các nguyên tố mà người ta xếp
chyungs vào những nhóm khác nhau.
2.2.2. Tình hình sử dụng thuốc BVTV trên thế giới
Trong sản xuất nông nghiệp, ngoài nước tưới, phân bón, giống là 3 yếu tố
tạo năng suất và sản lượng cây trồng cao thì thuốc BVTV cũng rất quan trọng.
14
Thuốc BVTV có thể được coi như sử dụng đầu tiên là dung dịch huyền phù
Boocđo (1881). Trong một thời gian dài, người ta dùng các chất vô cơ như
HCN, Đồng Asenat, Chì Asenat…làm thuốc trừ dịch hại cây trồng.
Theo một số tác giả thì từ năm 1013 ở Đức, hợp chất thủy ngân hữu cơ đầu
tiên được sử dụng để bảo quản hạt giống. Năm 1924, Zeidler đã tổng hợp được
DDT nhưng phải đến năm 1939, Muler mới phát hiện ra khả năng diệt sâu hại
của nó. Điều đó đặt nền móng cho việc sử dụng các hợp chất hữu cơ, hữu cơ –
vô cơ vào mục đích làm HCBVTV. Sau đó là các hợp chất Clo hữu cơ,
Carbamat, các hợp chất Photpho hữu cơ được phát hiện và dùng rộng rãi ở nhiều
nước trên thế giới.
Năm 1972, người ta đã thành công trong việc sản xuất từ cây cỏ tự nhiên
nhóm hoạt chất Pyrethroid, đây là nhóm hóa chất diệt côn trùng mới và có ý

hưởng đến sức khỏe. Theo tổ chức sức khỏe thế giới ước tính thì hàng năm có
khoảng 3% nhân lực nông nghiệp bị nhiễm độc hóa chất BVTV theo nhiều con
đường khác nhau [11].
2.2.3. Thực trạng sử dụng thuốc BVTV cho rau tại Việt Nam
Ở Việt Nam, thuốc BVTV thực sự có ý nghĩa trong sản xuất nông nghiệp
trong hơn 40 năm qua (miền Bắc từ năm 1956 và miền Nam từ năm 1962). Tuy
lịch sử sử dụng thuốc BVTV ở nước ta chưa dài song bước đi cũng giống như
nhiều nước khác [5].
Thời gian đầu, từ cuối những năm 50 đến cuối thập kỷ 60, thuốc BVTV
mới được đưa vào sản xuất nhưng người ta hết lòng ca ngợi chúng, do đó đã nảy
sinh tình trạng lạm dụng thuốc. Theo số liệu của chi cục BVTV, năm 1990 nước
ta chỉ sử dụng khoảng 10.000 tấn thuốc BVTV, đến năm 1998 lượng này đã tăng
lên gấp 3 lần tức 30.000 tấn hóa chất BVTV. Có 30% cơ sở kinh doanh thuốc
16
BVTV không có giấy phép tiếp sức cho việc lạm dụng thuốc tràn lan. Theo viện
BVTV 1998, tại Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Ninh, Hải Dương…Monitor, Wofatox
bị cấm trên rau nhưng người dân vẫn sử dụng với lượng khá lớn, gấp 6,45 lần/vụ
với rau họ thập tự, trên đậu đỗ là 5,73 lần/vụ. Về chủng loại, người dân dừng
phổ biến 30 loại, trong đó, ở miền bắc là 13 loại, miền nam là 17 loại chỉ dùng
cho rau [16].
Cho đến năm 2002 đã có 354 hoạt chất với 1113 tên thuốc thương phẩm
đang được phép lưu hành. Trên các chánh đồng rau vùng Hà Nội, Vĩnh Phúc, Hà
Tây thì các loại thuốc trừ sâu thuộc nhóm lân hữu cơ được dùng phổ biến. Tỷ lệ
các loại thuốc BVTV được sử dụng trên rau ở Hà Nội, Vĩnh Phúc, Hà Tây được
thể hiện trong bảng 2.4:
17
Bảng 2.4. Tỷ lệ các loại thuốc BVTV được sử dụng trên rau họ HTT vùng
Hà Nội, Vĩnh Phúc, Hà Tây 1997 – 2001
Tên hoạt chất
Tên thương

(TTS) dùng trên rau họ hoa thập tự (HTT). Padan 95 SP (Cartap) cũng được sử
dụng khá phổ biến trên các loại rau họ hoa thập tự.
Do thói quen và tâm lý sợ mất mùa nên đa số nông dân chỉ dùng những loại
TTS gây chết nhanh. Ngược lại nhiều loại thuốc trừ sâu sinh học như Bt, có hiệu
18
lực trừ sâu cao, ít độc hại với người và vật nuôi nhưng lại chỉ có ít người sử
dụng chỉ chiếm 11,82%.
Tình trạng buôn bán hóa chất, đặc biệt là thuốc BVTV trên thị trường rất
phức tạp. Theo thống kê, trên thị trường có khoảng 22000 cửa hàng buốn bán
thuốc BVTV, trung bình mỗi tỉnh có 400 – 500 của hàng, rải đều trên diện rộng
ở tất cả các xã, phường vùng sâu vùng xa nên việc quản lý là rất khó khăn. Là
mặt hàng hạn chế kinh doanh nhưng theo thống kê của cục BVTV, hiện nay mới
chỉ có 80% cá nhân buôn bán thuốc được cấp chứng chỉ hành nghề. 20% hoạt
động buôn bán không có chứng chỉ, chủ yếu tập trung ở các của hàng nhỏ lẻ,
vùng sâu, vùng xa rất khó kiểm soát [15].
Thời gian cách ly thuốc BVTV là 1 vấn đề lớn nhất trong giai đoạn hiện
nay. Ở nước ta, vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm đó là cần có thời gian cách ly
sau khi sử dụng thuốc BVTV trên rau và các loại cây thực phẩm khác. Theo điều
tra của cục BVTV, hầu hết nông dân đều vi phạm thời gian cách ly theo quy
định sau khi phun thuốc. Sự vi phạm lớn nhất là trên nhóm rau ăn quả như cà
chua, đậu đỗ, tiếp theo là đến các loại rau ăn lá.
Bảng 2.5. Thực trạng thời gian cách ly thuốc BVTV đối với rau
Địa điểm Số hộ
điều
Tỷ lệ (%) số hộ nông dân thực hiện ở
khoảng thời gian cách ly (ngày)
1 – 3 4 – 6 7 – 10 11 – > 15
19
tra
15

(thuộc nhóm clo hữu cơ) song thực tế người dân vẫn sử dụng. Nguyên nhân chủ
yếu là do giá rẻ, phổ diệt rộng và hiệu quả diệt sâu tương đối cao [11].
2.2.4. Ảnh hưởng của thuốc BVTV đối với môi trường và sức khỏe con người
Hóa chất BVTV là những hợp chất độc có nguồn gốc tự nhiên hoặc tổng
hợp được dùng để phòng và trừ nhiều loại sinh vật gây hại cây trồng và nông sản
phẩm. Hóa chất BVTV gồm nhiều nhóm khác nhau, gọi theo tên nhóm sinh vật
20
gây hại, như thuốc trừ sâu, thuốc trừ bệnh…Trừ một số trường hợp, còn nói
chung mỗi nhóm thuốc chỉ có tác dụng đối với sinh vật gây hại thuộc nhóm đó.
Hóa chất BVTV nhiều khi còn được gọi là thuốc trừ dịch hại và khái niệm
này bao gồm cả thuốc trừ các loại ve, bét, rệp hại vật nuôi và côn trùng y tế,
thuốc làm rụng lá cây, thuốc điều hòa sinh trưởng cây trồng [8].
Dư lượng là phần còn lại của hóa chất, các sản phẩm chuyển hóa của chúng
và các thành phần khác có trong thuốc, tồn tại một thời gian trên cây trồng, nông
sản, đất, nước, dưới tác động của các hệ sống và điều kiện ngoại cảnh (ánh sáng,
nhiệt độ, độ ẩm…). Dư lượng của hóa chất được tính bằng mg thuốc có trong
một kg nông sản, đất, nước (mg/kg).
Tất cả các bộ phận sinh trưởng của cây trồng đều có khả năng hấp thụ
thuốc, vận chuyển và tích lũy thuốc trong cây. Dưới tác dụng của ánh sáng mặt
trời, nhiệt độ, độ ẩm không khí và hoạt động của enzim trong cây, thuốc chuyển
hóa và phân giải thành những sản phẩm không hoặc ít có hại và bài tiết ra ngoài
cây ở thể khí qua khí khổng ở lá hoặc dạng hòa tan trong nước qua nhỏ giọt. Tốc
độ giải độc tùy thuộc vào đặc tính hóa học, lý học của hóa chất, thời kỳ sinh
trưởng của cây, thành phần và tỷ lệ các hợp chất tinh dầu trong thực vật và các
điều kiện ngoại cảnh. Các hợp chất, clo hữu cơ chậm phân giải hơn các hợp chất
carbarmat và lân hữu cơ. Cây đang ở thời sinh trưởng mạnh thuốc bị phân giả
chậm hơn. Nông sản có nhiều tinh dầu như cà rốt thường chậm phân giải. Đặc
biệt với các hợp chất lân hữu cơ, quá trình chuyển hóa trong cây hình thành
nhiều hợp chất trung gian độc hơn chất ban đầu nhiều lần. Do đó trong thời gian
thuốc chưa phân giải hết độc, người ăn nông sản có thể bị nhiễm độc.

Một số có độ bền cao (DDT, 666…) có thể tồn tại vài chục năm trong đất khi
điều kiện thuận lợi [11]. Theo Phạm Bình Quyền, kết quả giám định dư lượng
thuốc BVTV ở tỉnh Khánh Hòa cho thấy:
- Trong 423 mẫu đất phân tích có 39% số mẫu chứa hóa chất trừ sâu vượt
ngưỡng cho phép 2 – 40 lần.
22
- Trong 120 mẫu nước, có 36,6% số mẫu có dư lượng hóa chất trừ sâu vượt
ngưỡng 2 – 40 lần.
- Trong 728 mẫu rau có 24,7% số mẫu chứa dư lượng hóa chất BVTV vượt
ngưỡng cho phép 2 – 6 lần [11].
Tồn dư hóa chất BVTV cũng như nhiều chất độc khác sẽ ảnh hưởng đến
chuỗi dinh dưỡng của con người. Động vật thủy sinh (cá, tôm…) chịu tác động
của dư lượng hóa chất BVTV qua thức ăn, nước uống. Người ta phát hiện được
vết Dioxin trong cá, tôm nuôi tại hò Phú Nham. Nghiên cứu, điều tra các loại
động vật thủy sinh ở 3 điểm nước tưới là Phùng Khoan (Hà Nội), Đông Quang
(hà Tây), và Mai Dịch (Hà Nội) cho thấy, mương tưới Mai Dịch (nhiễm bẩn hóa
chất BVTV) chỉ có 32 loài động vật thủy sinh trong đó các loại thân mềm và
giáp xác vắng hoàn toàn; mương tưới Phùng Khoan và Đông Quang khá sạch,
không nhiễm bẩn hóa chất BVTV có từ 57 – 61 loài động vật thủy sinh (Phạm
Bình Quyền và CTV, 1995).
Theo Mai Thanh Tuyết, hóa chất BVTV là tên gọi chung cho tất cả các
thuốc trừ rầy, thuốc sát trùng, thuốc diệt cỏ dại, thuốc trừ nấm…Đa số các hóa
chất này là do một hay nhiều nguyên tố Benzen kết hợp với nguyên tố clo, nói
chung các hợp chất này có tính độc hại lên con người tương tự như Dioxin, do
đó có tên gọi là Dioxin – tương đương. Bẹnh ưng thư là một trong những ảnh
hưởng của các hóa chất gây ra cho con người. Thêm nữa, một số hóa chất
BVTV còn chứa nguyên tố Asen và thủy ngân, mức nguy hại cho đến nay vẫn
chưa được các khoa học gia kết luận một cách chính xác [9].
Thanh tra cục BVTVHN cho biết: sử dụng thuốc BVTV lâu dài có thể gây
ra ngộ độc, biểu hiện ở việc suy kiệt cơ thể, mệt mỏi, chán ăn, mất ngủ, thiếu

bộ HTX nông nghiệp, chủ tịch hội nông dân, cán bộ phòng địa chính…với
những nội dung đã được chuẩn bị trước để nắm được tình hình sản xuất, quản lý
rau và thuốc BVTV tại địa phương.
3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
Tài liệu thứ cấp được thu thập tại UBND thị trấn Gia Khánh, HTX sản xuất
nông nghiệp Gia Khánh, thư viện trường ĐHNNHN và các website liên quan.
Nguồn tài liệ thu thập bao gồm: tài liệu thống kê về diện tích, năng suất,
tiêu thụ sản phẩm và thuốc BVTV, báo cáo tổng kết của UBND thị trấn, HTX
sản xuất nông nghiệp
3.2.3 Phương pháp khảo sát thực địa
3.2.4 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status