A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế, tự do hóa thương mại là xu thế
nổi bật của kinh tế thế giới hiện nay. Quá trình này đang diễn ra mạnh mẽ,
thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của hầu hết các quốc gia trên thế giới
trong một sân chơi tự do cạnh tranh, công bằng. Hòa mình trong xu thế đó, từ
khi tiến hành đổi mới và chuyển sang xây dựng nền kinh tế thị trường,Việt
Nam đã tích cực tham gia vào các tổ chức của khu vực và thế giới như Hiệp
hội các quốc gia Đông Nam Á(ASEAN), Diễn đàn hợp tác Á- Âu (ASEM),
Diễn đàn hợp tác Kinh tế Châu Á- Thái Bình Dương (APEC), tham gia vào
CEPT và khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) và gần đây nhất là tổ chức
thương mại thế giới WTO(7/11/2006). Đây là cột mốc quan trọng đánh dấu
tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Bên cạnh đó, việc ký kết các
hiệp định thương mại tự do song phương cũng như đa phương đã tạo ra cơ hội
mở rộng quan hệ kinh tế, giao lưu với nhiều nước trên thế giới, đồng thời, cũng
đặt ra nhiều thách thức đối với Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế thế
giới. Nhất là trong bối cảnh tự do thương mại, hàng hóa từ các quốc gia khác
nhau có thể xâm nhập thị trường nội địa một cách tự do, bình đẳng và không
bị hạn chế nhằm tìm kiếm cơ hội kinh doanh, thu lợi nhuận. Từ đó đã nảy
sinh ra những tiêu cực do cạnh tranh gây ra, nhiều doanh nghiệp sản xuất
đứng trước nguy cơ phá sản, đổ vỡ do sự xâm nhập ồ ạt của hàng hóa nhập
khẩu vào thị trường trong nước khi năng lực cạnh tranh của nhiều ngành sản
xuất nội địa còn yếu kém. Đây không chỉ là khó khăn đối với Việt Nam mà
còn là thách thức đối với nhiều nước đang phát triển. Do đó, bên cạnh xây
dựng thương hiệu thì tự vệ thương mại được xem là giải pháp hữu hiệu để bảo
hộ sản xuất trong nước.
Tiền thân của WTO là GATT đã đề ra biện pháp khẩn cấp đối với việc
nhập khẩu một số sản phẩm nhất định để bảo vệ nền sản xuất nội địa. Trên cơ
sở đó, WTO đã mở ra nhiều điều khoản liên quan đến các biện pháp tự vệ
1
thương mại trong hiệp định tự vệ thương mại cho phép các nước thành viên áp
các thầy cô để khóa luận của em được hoàn thiện hơn.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận đúng như tên gọi của nó: Các biện
pháp tự vệ trong thương mại quốc tế.
Về phạm vi nghiên cứu:
Khóa luận nghiên cứu, tìm hiểu những vấn đề cụ thể của chế định biện
pháp tự vệ trong thương mại quốc tế, đó là:
- Pháp luật về tự vệ theo quy định của tổ chức thương mại thế giới (WTO).
- Pháp luật về tự vệ của một số quốc gia, khu vực điển hình trên thế giới.
- Pháp luật và thực tiễn sử dụng biện pháp tự vệ thương mại của Việt
Nam trong thời gian qua.
3. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của khóa luận là :
- Nghiên cứu những vấn đề cụ thể của chế định các biện pháp tự vệ trong
thương mại quốc tế theo quy định của WTO, theo pháp luật một số nước và
pháp luật Việt Nam.
- Tìm hiểu thực tiễn áp dụng của Việt Nam trong thời gian và những
nguyên nhân của thực trạng đó.
- Đưa ra những kiến nghị, giải pháp để hoàn thiện pháp luật về tự vệ
thương mại của Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả của việc áp dụng các biện
pháp tự vệ thương mại trong thời kỳ mở cửa, hội nhập.
4. Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận sử dụng phương pháp tiếp cận để làm sáng tỏ từng vấn đề
tương ứng, đó là các phương pháp nghiên cứu như so sánh, phân tích, tổng
hợp, thống kê…dựa trên sự vận dụng các công trình nghiên cứu khoa học đã
được công bố, các văn bản pháp luật quốc tế, của các nước có liên quan và
Việt Nam, các tài liệu tham khảo. Qua đó cho phép tìm hiểu các quy định
pháp luật liên quan đến tự vệ thương mại của Tổ chức thương mại thế giới,
quy định của pháp luật về tự vệ thương mại của một số nước, quy định của
pháp luật và thực tiễn áp dụng biện pháp tự vệ của Việt Nam để từ đó có cái
tính chất toàn cầu hóa, nhất là các quốc gia có trình độ kém phát triển thì
những tác động của chính sách tự do hóa được thể hiện rõ rệt nhất. Tổ chức
thương mại thế giới (WTO) trong các Hiệp định đa biên của mình, ngoài việc
thiết lập những quy định mang tính chất nghĩa vụ thì cũng đã mở ra nhiều
điều khoản nhằm giải thoát các nước thành viên trong những trường hợp đặc
biệt. Đó là những ngoại lệ cho phép Chính phủ các nước thành viên thực hiện
những hành động nhất định nhằm bảo vệ quyền lợi của mình khi bị tác động
bởi chính sách tự do hóa thương mại.
Điều XIX GATT 1994 quy định:
Biện pháp khẩn cấp đối với việc nhập khẩu các sản phẩm nhất định
5
1. a) Nếu do hậu quả của những diễn tiến không lường trước được và
do kết quả của những nghĩa vụ, trong đó có những nhân nhượng thuế quan
của một bên ký kết theo Hiệp định này, một sản phẩm được nhập khẩu vào
lãnh thổ của bên ký kết đó với số lượng gia tăng và với các điều kiện đến mức
gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại nghiêm trọng cho các nhà sản xuất
những sản phẩm tương tự hay sản phẩm cạnh tranh trực tiếp trong nước, bên
ký kết đó có quyền ngừng hoàn toàn hay một phần các cam kết của mình, rút
bỏ hay điều chỉnh nhân nhượng thuế quan, đối với sản phẩm đó và trong thời
gian cần thiết để ngăn chặn hoặc khắc phục tổn hại đó.
b) Nếu một bên ký kết đã chấp nhận một sự nhân nhượng liên quan tới
một sự ưu đãi và sản phẩm là đối tượng ưu đãi được nhập khẩu vào lãnh thổ
của bên ký kết có tình huống như nêu tại điểm a) của khoản này tới mức mà
nhập khẩu đó đã gây tổn hại hoặc đe doạ gây tổn hại nghiêm trọng cho các
nhà sản xuất những sản phẩm tương tự hay trực tiếp cạnh tranh là các nhà
sản xuất trên lãnh thổ của bên ký kết đang được hưởng hay đã được hưởng
sự ưu đãi đó, bên ký kết này có thể đề nghị bên ký kết đang nhập khẩu và bên
ký kết đang nhập khẩu có quyền tạm ngừng hoàn toàn hay một phần các cam
kết của mình, rút bỏ hay điều chỉnh nhân nhượng thuế quan đối với sản phẩm
đó và trong thời gian cần thiết để ngăn ngừa và khắc phục tổn hại đó ”
thương mại công bằng.
Biện pháp tự vệ theo tinh thần của GATT và Hiệp định tự vệ thì tự vệ
thương mại là biện pháp khẩn cấp đối với việc nhập khẩu một sản phẩm nhất
định khi mà sản phẩm đó được nhập vào nước nhập khẩu với số lượng gia
tăng đột biến và với các điều kiện đến mức gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt
hại nghiêm trọng cho nhà sản xuất những sản phẩm tương tự hoặc sản phẩm
cạnh tranh trực tiếp trong nước.
Thiệt hại nghiêm trọng ở đây được hiểu là sự giảm sút đáng kể của
ngành công nghiệp trong nước. Để xác định có hay không thiệt hại nghiêm
trọng cần phải làm rõ và căn cứ vào các chỉ tiêu như lượng hàng hóa nhập
khẩu tăng tuyệt đối hay tương đối; lượng gia tăng nhập khẩu lấy đi bao nhiêu
phần trăm thị phần trong nước; sự giảm sút thực tế về sản lượng, doanh số, thị
phần, lợi nhuận, lỗ, năng suất, tỷ suất đầu tư, nhân công, việc làm
Ngành công nghiệp trong nước bị thiệt hại do sản phẩm nhập khẩu cạnh
tranh không chỉ là những mặt hàng giống hệt nhau về nội dung mà còn mở
rộng ra đối với những hàng hóa tương tự, những hàng hóa có khả năng cạnh
7
tranh trực tiếp với hàng hóa nhập khẩu của nước đó.
1.1.2 Đặc điểm của các biện pháp tự vệ
Thứ nhất, tự vệ trong thương mại là biện pháp được áp dụng đối với
hàng hóa, không áp dụng đối với dịch vụ, sở hữu trí tuệ hay đầu tư.
2
Mỗi nước nhập khẩu là thành viên của WTO đều có quyền áp dụng biện
pháp tự vệ miễn là tuân thủ theo các quy định chung của WTO về điều kiện
thủ tục, cách thức áp dụng biện pháp tự vệ. Các doanh nghiệp có thể yêu cầu
Chính phủ áp dụng biện pháp này để bảo vệ lợi ích của mình trước hàng hóa
nhập khẩu từ nước ngoài tràn vào trong những tình huống cụ thể.
Thứ hai, biện pháp tự vệ trong thương mại là một trong ba trụ cột của hệ
thống các biện pháp phòng vệ thương mại (chống bán phá giá, chống trợ cấp,
tự vệ) và được áp dụng để bảo vệ thị trường nội địa trước sự xâm nhập của
Có mối quan hệ nhân quả giữa hiện tượng nhập khẩu tăng đột biến và thiệt
hại hoặc đe dọa thiệt hại nói trên
4
. Biện pháp tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa
được áp dụng một cách không phân biệt đối xử về xuất xứ hàng hóa nhập
khẩu liên quan.Việc tăng đột biến lượng nhập khẩu gây thiệt hại nói trên phải
là hiện tượng mà nước nhập khẩu không thể lường trước được khi đưa ra cam
kết trong khuôn khổ WTO.
1.1.4 Ý nghĩa của việc áp dụng các biện pháp tự vệ trong thương
mại quốc tế
Được thừa nhận là một công cụ bảo hộ thương mại hợp pháp, một biện
pháp tự vệ khi được sử dụng sẽ đem lại những tác động sau:
Thứ nhất, biện pháp tự vệ được xem là “chiếc van an toàn” giúp nước
nhập khẩu có thể hạn chế tạm thời luồng nhập khẩu, giảm nhẹ hay trợ giúp
khắc phục thiệt hại gây ra do việc nhập khẩu hàng hoá tăng một cách bất
thường, không thể lường trước vào thị trường nội địa nhằm tránh những đổ vỡ
cho ngành sản xuất nội địa.
Khi thực hiện các cam kết về tự do hoá thương mại, các nước phải chấp
nhận từ bỏ sự bảo hộ của mình đối với các mặt hàng sản xuất trong nước và
chấp nhận rằng hàng hoá nhập khẩu từ nước ngoài vào sẽ được hưởng các lợi
ích tương tự và bình đẳng như hàng hoá trong nước theo nguyên tắc đối xử
quốc gia. Tuy nhiên, trong các quy định của WTO còn có những ngoại lệ nhất
định nhằm đảm bảo quyền lợi của các thành viên trong những trường hợp
4
xem Biện pháp tự vệ trong thương mại quốc tế, Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam tr.4.
9
khẩn cấp như cho phép các bên tham gia ký kết sử dụng các biện pháp tự vệ
trong một khoảng thời gian hạn chế nhất định, không nhằm mục đích bảo hộ
lâu dài cho sản xuất nội địa mà chỉ để khắc phục hay giảm nhẹ những thiệt hại
cho các doanh nghiệp trong nước trước tình huống bất thường từ việc hàng
giảm khả năng cạnh tranh, phát triển thương hiệu của ngành sản xuất nội địa.
Ngoài ra, việc áp dụng biện pháp tự vệ sẽ làm giảm lượng hàng nhập khẩu, hạn
chế cơ hội chongười tiêu dùng lựa chọn sản phẩm tương tự với giá rẻ hơn.
Mặt khác, về nguyên tắc, các biện pháp tự vệ không đánh vào hàng xuất
khẩu của một nước cụ thể mà áp dụng với một hàng hóa cụ thể của hàng loạt
các nước xuất khẩu vào thị trường nội địa. Điều này có thể dẫn đến các nước
có mặt hàng bị áp dụng phát đơn kiện, làm ảnh hưởng đến quan hệ thương
mại giữa các quốc gia với nhau. Hơn nữa, nước nhập khẩu có thể bị trả đũa
khi các bên không đi đến thỏa thuận về việc bồi thường do áp dụng biện pháp
tự vệ.
1.1.5 Nguyên tắc áp dụng các biện pháp tự vệ
1.1.5.1 Nguyên tắc không phân biệt đối xử
Đây là nguyên tắc cơ bản của thương mại quốc tế, thể hiện sự bình đẳng
giữa các quốc gia trong quan hệ hợp tác kinh tế mà nội dung chủ yếu của nó
đặt ra yêu cầu các quốc gia không được phân biệt đối xử đối với hàng hóa,
dịch vụ của nhà cung cấp quốc gia khác. Theo nguyên tắc này, biện pháp tự
vệ sẽ được áp dụng lên một loại hàng hóa nhập khẩu không phân biệt xuất xứ
của hàng hóa đó.
Tuy nhiên, nguyên tắc này cũng có ngoại lệ nhất định: Hiệp định về tự
vệ thương mại của WTO quy định “ Trong trường hợp hạn ngạch được phân
bổ giữa các nước xuất khẩu, Thành viên áp dụng hạn chế này có thể tìm kiếm
một thỏa thuận liên quan tới việc phân bổ hạn ngạch cho tất cả các Thành
viên có lợi ích cung cấp chính yếu đối với sản phẩm. Trong trường hợp không
áp dụng được phương pháp này, Thành viên nhập khẩu sẽ phân bổ cho các
Thành viên có lợi ích cung cấp chủ yếu đối với sản phẩm này theo thị phần,
11
tính theo tổng giá trị hay số lượng sản phẩm được nhập từ các Thành viên
này trong một thời gian đại diện trước đó và có tính đến bất cứ một yếu tố
đặc biệt nào đã hoặc có thể ảnh hưởng đến thương mại hàng hóa này”
5
thống thương mại đa biên. Để thực hiện nguyên tắc này, WTO có những quy
định mang tính chất linh hoạt và ưu đãi nhất định cho các nước đang phát
triển, các nước có nền kinh tế chuyển đổi trong việc thực hiện các hiệp định
của WTO như dành thêm một số quyền và không phải thực một số nghĩa vụ.
Theo nguyên tắc này, Hiệp định SG quy định: “Các biện pháp tự vệ không
được áp dụng để chống lại hàng hóa có xuất xứ từ một Thành viên đang phát
triển, nếu thị phần hàng hóa có liên quan được nhập từ Thành viên này không
vượt quá 3%, với điều kiện là tổng số thị phần nhập khẩu từ các Thành viên
đang phát triển, có thị phần nhập khẩu riêng lẻ nhỏ hơn 3%, không vượt quá
9% tổng kim ngạch nhập khẩu nhập khẩu của hàng hóa liên quan”
6
. Ngoài ra,
một Thành viên đang phát triển có quyền kéo dài thời hạn áp dụng biện pháp tự
vệ trong thời hạn không quá 2 năm sau khi hết thời hạn tối đa là 8 năm.
1.1.5.4 Nguyên tắc đảm bảo bồi thường tổn thất thương mại
Biện pháp tự vệ trong nhập khẩu là một biện pháp “khắc phục thương
mại”, được áp dụng trong điều kiện cạnh tranh hoàn toàn bình thường, nên
khác với chống bán phá giá, chống trợ cấp của Chính phủ là những hành vi
cạnh tranh không lành mạnh. Do đó, một nước thành viên khi áp dụng biện
pháp tự vệ phải đảm bảo bồi thường thỏa đáng cho nước bị áp dụng do những
thiệt hại mà biện pháp này gây ra cho nhà sản xuất nước ngoài.
1.2 Pháp luật về tự vệ trong thương mại quốc tế
Kết quả của Vòng Uruguya về thương mại đa biên là sự ra đời của tổ
chức thương mại thế giới (WTO) và một hệ thống các quy tắc về thương mại
đa biên được thiết lập. Trong vòng đàm phán đó, một thỏa thuận mới về điều
6
Khoản 1 Điều 9 Hiệp định về các biện pháp tự vệ thương mại 1994
13
khoản XIX GATT đối với các biện pháp tự vệ được thông qua có giá trị áp
dụng đối với tất cả các quốc gia thành viên.
Khoản 1b Điều 11 Hiệp định về các biện pháp tự vệ thương mại 1994
14
Thứ nhất : Biện pháp thuế quan (biện pháp tăng thuế so với mức thuế
trần đã cam kết).
Thuế quan hay thuế xuất nhập khẩu là tên gọi chung để chỉ hai loại thuế
trong lĩnh vực thương mại quốc tế: thuế xuất khẩu và thuế nhập khẩu. Thuế
quan là khoản thu của nhà nước đánh vào hàng hóa khi hàng hóa đó di chuyển
từ lãnh thổ hải quan này sang lãnh thổ hải quan khác
8
. Đây là công cụ rất quan
trọng để nhà nước thực hiện chính sách kinh tế của mình, việc đánh thuế quan
giúp kiểm soát được hàng nhập khẩu vào thị trường nội địa. Ngoài chức năng
điều tiết sản xuất, nhập khẩu và hướng dẫn tiêu dùng; là nguồn thu quan trọng
của ngân sách nhà nước. Thuế quan có tác dụng bảo hộ hàng hóa tương tự,
ngành kinh tế hàng hóa tương tự trong nước. Việc đánh thuế cao vào hàng
hóa nhập khẩu sẽ giúp các nhà sản xuất trong nước có thể cạnh tranh được với
hàng nhập khẩu. Đặc biệt là giúp cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh
các ngành non trẻ có thời gian trưởng thành và sinh lời để từ đó có thể cạnh
tranh với hàng nhập khẩu.
Trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới trong khuôn khổ WTO, thông
qua các vòng đàm phán về lộ trình cắt giảm thuế quan, thuế suất ràng buộc sẽ
được đưa vào danh mục thuế quan của mỗi quốc gia và được công bố rộng
rãi. WTO từ khi thành lập đã có 22.500 trang danh mục thuế quan cam kết
của các nước đối với một số loại hàng hóa cụ thể được thỏa thuận trong
khuôn khổ WTO; trong đó ghi rõ cam kết của từng nước theo danh mục hàng,
mã thuế, thuế suất cam kết, nhất là các cam kết giảm thuế và mức thuế trần
đối với hàng hóa nhập khẩu. Đối với mức thuế trần, đó chính là các cam kết
không tăng thuế vượt quá một mức đã xác định, được gọi là mức trần, thường
là mức đang được áp dụng trên thực tế
9
phép; cấm xuất khẩu, nhập khẩu;… do Chính phủ của một thành viên áp dụng
nhằm hạn chế số lượng nhập khẩu từ những thành viên khác.
Hạn chế định lượng là một trong những biện pháp được sử dụng để bảo
vệ ngành sản xuất trong nước chống lại sự cạnh tranh của hàng nhập khẩu.
Đây là rào cản cứng, trực tiếp trong thương mại quốc tế, đi ngược lại với mục
tiêu tự do hóa thương mại trong GATT/WTO
11
.
Điều XI GATT quy định: ngoài thuế quan, thuế nội địa và các loại phí
khác, các nước thành viên không được phép tạo ra hay duy trì những biện
pháp như hạn ngạch, giấy phép hay các biện pháp khác nhằm hạn chế số
lượng nhập khẩu từ những thành viên khác, hay hạn chế số lượng xuất khẩu
10
Xem giáo trình luật thương mại quốc tế, Đại học luật Hà Nội. Tr.56
11
Xem giáo trình luật thương mại quốc tế, Đại học luật Hà Nội, Tr.54
16
hoặc bán để xuất khẩu tới các thành viên khác.
Như vậy, về nguyên tắc, biện pháp hạn chế định lượng bị cấm hoàn toàn
trong khuôn khổ WTO. Tuy nhiên, GATT 1994 vẫn cho phép các nước thành
viên áp dụng hạn chế định lượng trong một số trường hợp ngoại lệ. Cụ thể là
khi ngành sản xuất trong nước bị hoặc có nguy cơ bị thiệt hại nghiêm trọng do
sự gia tăng ồ ạt của hàng nhập khẩu cùng loại, thì biện pháp hạn chế số lượng
được cho phép áp dụng như là biện pháp tự vệ trong thời hạn nhất định để
ngăn chặn thiệt hại hoặc cứu vãn ngành sản xuất trong nước
12
; Một số trường
hợp khác như khi một nước thành viên khác được cho phép áp dụng biện
pháp trả đũa đối với nước thành viên khác vì không tuân thủ nghĩa vụ của
GATT thì biện pháp hạn chế định lượng cũng được cho phép áp dụng trong
Hiệp định cũng quy định nước nhập khẩu có thể áp dụng hạn chế này
bằng việc tiến hành đàm phán với các nước xuất khẩu có lợi ích chính yếu đối
với sản phẩm đó để thỏa thuận lại về việc phân bổ hạn ngạch dựa trên hạn
ngạch đã được phân bổ trước đó giữa các nước xuất khẩu. Trong trường hợp
không thỏa thuận được, nước nhập khẩu sẽ phân bổ các phần hạn ngạch cho
các thành viên có lợi ích cung cấp chủ yếu sản phẩm đó tính theo tổng giá trị
hoặc số lượng sản phẩm được nhập từ các thành viên này trong một thời gian
đại diện trước đó. Nước nhập khẩu khi thực hiện việc phân bổ phải tính đến
yếu tố đặc biệt có thể gây ảnh hưởng đến thương mại hàng hóa đó.
Hạn ngạch hay quotas là quy định của nhà nước về số lượng hoặc giá trị
hàng hóa cao nhất được phép nhập khẩu trong một thời gian nhất định
(thường là một năm)
15
.
So với biện pháp thuế quan thì hạn ngạch có xu hướng ít được sử dụng
hơn trong thương mại quốc tế vì tính ưu việt của thuế quan so với hạn ngạch
nhập khẩu thể hiện qua:
Một là, việc áp dụng thế quan mang lại nguồn thu cho ngân sách nhà nước.
Hai là, thuế quan minh bạch, rõ ràng, dễ dự đoán hơn so với hạn ngạch.
Việc điều hành, quản lý, phân bổ hạn ngạch nhập khẩu là một bài toán khó và
dễ kéo theo nhiều vấn nạn như tham ô, hối lộ
Ba là, về lý thuyết, nếu cả thuế quan và hạn ngạch đều hướng đến mục
tiêu hạn chế lượng nhập khẩu nhất định thì hạn ngạch làm giá trong nước bị
đẩy lên rất nhiều so với thuế quan. Do hạn ngạch là “hạn chế cứng”, nước
xuất khẩu sẽ không thể tăng số lượng xuất khẩu vượt quá hạn ngạch cho dù có
cố gắng cải thiện về chất lượng và giá cả sản phẩm xuất khẩu tới mức nào
chăng nữa
16
. Hơn nữa, khi nước nhập khẩu áp dụng biện pháp hạn ngạch thì
số lượng và đối tượng hạn chế hoàn toàn phụ thuộc vào nước nhập khẩu và
gấp ba) hay tương đối (ví dụ lượng hàng hóa nhập khẩu dường như không
tăng, nhưng cùng thời điểm đó số lượng hàng nhập khẩu lại giảm mạnh một
cách rõ rệt) và phải diễn ra một cách đột ngột, nhanh, tức thời. Đối với giá trị,
cần lưu ý là sự gia tăng về giá trị nhập khẩu không phải là yếu tố bắt buộc để
điều tra trong vụ việc tự vệ (ví như Vụ Giầy dép của Achentina)
18
.
Điều XIX GATT 1994 đưa ra khái niệm “không lường trước được”,
17
Điều 2 Hiệp đinh về tự vệ thương mại 1994
18
Xem Biện pháp tự vệ trong thương mại quốc tế, http://moj.gov.vn
19
không lường trước được nghĩa là có sự gia tăng một cách bất thường, là kết quả
của những nghĩa vụ, của sự nhân nhượng thuế quan. Diễn biến của sự biến đổi
đó phải xảy ra sau khi các bên đã đàm phán và không có gì để khẳng định được
rằng các nhà đàm phán, những người đã đưa nhượng bộ, có thể hay lẽ ra phải
dự đoán được sự biến đổi đó khi đưa ra cam kết trong khuôn khổ WTO. Các
nguyên tắc của WTO không đưa ra tiêu chí cụ thể về việc xác định sự gia tăng
hàng hoá nhập khẩu vì có thể mức nhập khẩu tuy tăng nhẹ nhưng lại gây thiệt
hại không hề nhỏ cho ngành sản xuất nội địa. Do vậy, việc đưa ra một mức cụ
thể như vậy sẽ không thể phản ánh chính xác được sự gia tăng bất thường của
loại hàng hoá đó. Các quy định này chủ yếu do các nước áp dụng xác định dựa
trên số liệu thống kê hải quan.
Thứ hai. Ngành sản xuất sản phẩm tương tự hoặc cạnh tranh trực tiếp
với hàng hoá đó bị thiệt hại hoặc đe doạ bị thiệt hại nghiêm trọng.
Đây cũng là điều kiện quan trọng để có thể áp dụng biện pháp tự vệ và
điều kiện này gắn liền với điều kiện về sự gia tăng đột biến của hàng nhập
khẩu. Theo Hiệp định SG, tổn hại nghiêm trọng được hiểu là sự suy giảm toàn
diện đáng kể tới vị trí của ngành công nghiệp sản xuất nội địa. Hoặc đe dọa
Nếu không chứng minh được mối quan hệ nhân quả giữa lượng nhập khẩu
của loại hàng hóa tăng đột biến có liên quan đến thiệt hại nghiêm trọng hoặc
đe dọa nghiêm trọng gây ra thì quốc gia nhập khẩu sẽ không thể áp dụng biện
pháp tự vệ. “Khi có các yếu tố khác không phải là sự gia tăng nhập khẩu,
xuất hiện cùng một thời gian, gây ra tổn hại nghiêm trọng hoặc đe dọa gây ra
tổn hại nghiêm trọng đối với ngành công nghiệp trong nước thì những tổn hại
này sẽ không được coi là do sự gia tăng hàng nhập khẩu”
20
.
1.2.3 Những quy định về trình tự, thủ tục áp dụng các biện pháp
tự vệ thương mại đối với hàng hóa nhập khẩu
Trong trường hợp khẩn cấp cần ngăn chặn thiệt hại, cứu vãn nền sản
xuất trong nước đang bị hoặc có nguy cơ bị thiệt hại nghiêm trọng do lượng
nhập khẩu ồ ạt là hệ quả của việc thực hiện nghĩa vụ cắt giảm thuế quan và
xóa bỏ các hàng rào phi thuế quan khi tiến hành mở cửa thị trường, gia nhập
vào các thiết chế thương mại khu vực, toàn cầu. Các quốc gia thành viên có
20
Khoản 2b Điều 4 Hiệp đinh về tự vệ thương mại 1994
21
quyền viện dẫn các điều khoản về tự vệ theo Hiệp định về các biện pháp tự vệ
để bảo vệ nền sản xuất nước mình. Việc điều tra và áp dụng biện pháp tự vệ
sẽ do một cơ quan chuyên trách của mỗi quốc gia thực hiện. Khác với các vụ
kiện chống bán phá giá hay chống trợ cấp, WTO không có nhiều quy định chi
tiết về trình tự, thủ tục kiện áp dụng biện pháp tự vệ. Các nước thành viên trên
nền tảng các quy định của WTO, căn cứ vào tình hình, điều kiện của quốc gia
mình để nội luật hóa các cam kết. Nhìn chung, pháp luật về tự vệ thương mại
của Việt Nam và các nước quy định việc áp dụng biện pháp tự vệ được thực
hiện theo trình tự sau.
1.2.3.1 Thủ tục điều tra để áp dụng các biện pháp tự vệ.
Thứ nhất, nộp đơn và cung cấp hồ sơ yêu cầu áp dụng biện pháp tự vệ
khẩu, nhà xuất khẩu, và các bên có liên quan có thể đưa chứng cứ, quan điểm
của họ, bao gồm cả cơ hội được phản biện lý lẽ của bên kia và đưa ra quan
điểm của mình nhằm xem xét việc áp dụng biện pháp này có phù hợp với lợi
ích chung không. Cơ quan có thẩm quyền sẽ công bố báo cáo kết quả điều tra
của mình và các kết luận thỏa đáng trên cơ sở các vấn đề thực tế và pháp lý”
23
Như vậy, sau khi ra quyết định điều tra, cơ quan điều tra phải thông báo
công khai quyết định điều tra cho các bên liên quan. Nhà nhập khẩu, nhà xuất
khẩu và các bên có liên quan được quyền đưa ra chứng cứ, quan điểm của họ
về vụ kiện tự vệ để đảm bảo quyền tố tụng của các bên. Việc điều tra để đưa
ra kết luận và công bố kết quả điều tra của cơ quan điều tra phải dựa trên cơ
sở thực tiễn và pháp lý để đảm bảo tính công bằng, minh bạch và hiệu quả.
Các phiên tham vấn công khai sẽ được cơ quan có thẩm quyền tổ chức
với sự tham gia của các bên liên quan đến quá trình điều tra và áp dụng các
biện pháp tự vệ nhằm tạo điều kiện cho tất cả các bên liên quan trình bày ý
kiến và cung cấp thông tin cần thiết. Các bên liên quan đến quá trình điều tra
có quyền trình bày bằng các chứng cứ bằng văn bản; tiến hành tham luận và
thể hiện quan điểm về lợi ích kinh tế - xã hội khi áp dụng biện pháp tự vệ.
Một lưu ý là các bên liên quan không bắt buộc phải có mặt tại các cuộc tham
vấn; nếu bên nào không có mặt tại các cuộc tham vấn thì lợi ích của họ liên
quan đến biện pháp tự vệ vẫn được bảo đảm.
Trong khi điều tra để xác định xem hàng nhập khẩu gia tăng có gây ra
hoặc đe dọa gây ra tổn hại nghiêm trọng đối với sản xuất trong nước theo các
quy định của Hiệp định SG hay không, cơ quan chức năng sẽ đánh giá tất cả
các yếu tố liên quan tới đối tượng và có thể định lượng dựa trên tình hình sản
xuất của ngành này, đặc biệt là tốc độ và số lượng gia tăng nhập khẩu của sản
phẩm có liên quan một cách tương đối hay tuyệt đối, thị phần trong nước của
phần gia tăng nhập khẩu này, sự thay đổi mức bán hàng, sản xuất, năng suất,
công suất sử dụng, lợi nhuận, lỗ và việc làm
21
25