Khả năng sinh sản và các tham số di truyền về số con sơ sinh sống, số con cai sữa của hai
dòng lợn VCN02 và VCN05
Đào Thị Bình An, Lê Thanh Hải, Đinh Hữu Hùng, Nguyễn Thành Chung
Trung tâm Nghiên cứu Lợn Thụy Phương
Tóm tắt
Nghiên cứu được tiến hành trên 306 nái phối với 37 đực trên 449 ổ đẻ của dòng VCN02; 191 nái phối với
30 đực trên 263 ổ đẻ của dòng VCN05; nuôi tại Trạm nghiên cứu và nuôi giữ giống lợn hạt nhân Tam Điệp trong
thời gian từ năm 1997 đến năm 2010 nhằm đánh giá năng suất sinh sản của hai dòng lợn, xác định nhân tố ảnh
hưởng đến năng suất sinh sản và xác định hệ số di truyền của tính trạng số con sơ sinh sống, số con cai sữa và hệ số
tương quan giữa hai tính trạng này.
Số con sơ sinh sống/ổ của dòng lợn VCN02 và VCN05 là: 9,62 con và 11,26 con; khối lượng cai sữa/con
lần lượt là: 6,38 kg/con và 5,73/con. Các yếu tố ngoại cảnh ảnh hưởng đến tính trạng sinh sản bao gồm giống, lứa,
năm. Tính trạng bị ảnh hưởng rõ rệt nhất là tính trạng số con sơ sinh sống và khối lượng sơ sinh/con (P<0,01,
P<0,001). Hệ số di truyền của hai tính trạng số con sơ sinh sống và số con cai sữa của hai dòng lợn ở mức thấp (0,03
– 0,27). Tương quan di truyền giữa hai chỉ tiêu này thuận và chặt (r = 0,84 – 0,86).
1. Đặt vấn đề
Hiện nay ở Việt Nam, chăn nuôi lợn chiếm vị trí quan trọng nhất trong ngành chăn nuôi.
Chăn nuôi lợn không những đáp ứng nhu cầu thịt trong nước mà còn tham gia xuất khẩu. Chăn
nuôi lợn ngoại đang được đẩy mạnh ở các trang trại quốc doanh cũng như trang trại tư nhân, do
chúng có tốc độ tăng trưởng nhanh và tỷ lệ nạc cao, đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng
cũng như xuất khẩu.
Năm 1997, tập đoàn PIC (Anh) đã đưa vào Việt Nam 05 dòng lợn cụ kỵ có nguồn gốc
PIC, có năng suất cao. Tháng 7 năm 2001, các dòng lợn này được giao cho Việt Nam mà cụ thể
là Trung tâm nghiên cứu lợn Thụy Phương quản lý và nuôi giữ. Với đặc thù là các dòng lợn tổng
hợp các dòng này đòi hỏi một trương trình nhân giống nghiêm ngặc nhằm đảm bảo được năng
suất của các dòng.
Để năng cao năng suất sinh sản, Trung tâm đã quan tâm đến tất cả các khâu như: Giống,
thức ăn, thú y, chăm sóc, nuôi dưỡng và quản lý… Song giống là khâu quan trọng nhất và được
quan tâm hàng đầu. Vì giống tốt là sự đóng góp của các cá thể trong quần thể. Năng suất của môt
dòng VCN02; 191 nái phối với 30 đực trên 263 ổ đẻ của dòng VCN05; nuôi trong thời gian từ
năm 1997 đến năm 2010 và đảm bảo 1 đực phối tối thiểu với 2 mẹ từ phần mềm quản lý chuyên
dụng PPM của tập đoàn PIC (Anh).
- Số liệu thu được được kiểm tra phân bố chuẩn và loại bỏ các số liệu không tuân theo
quy luật này trước khi đưa vào phân tích thống kê.
- Mô hình sử dụng để ước tính giá trị di truyền và tương quan di truyền:
y = Xb + Za + Wpe + e
Trong đó: y = tính trạng nghiên cứu (số con SSS hoặc số con CS)
b = vecto yếu tố cố định (năm và lứa)
a = vecto yếu tố ngẫu nhiên của cá thể (hiệu ứng di truyền cộng gộp trực tiếp)
pe = vectơ yếu tố ngẫu nhiên môi trường thường xuyên của mẹ
e = vecto của sai số ngẫu nhiên
X = ma trận vuông của yếu tố cố định
Z = ma trận vuông yếu tố ngẫu nhiên của cá thể
W = ma trận vuông của yếu tố ngẫu nhiên môi trường thường xuyên của mẹ
Các chỉ tiêu về năng suất sinh sản được xử lý bằng chương trình Excel và SAS 8.0
(2000); hệ số di truyền được tính bằng phần mềm PigPak 2.5 (2005) tại bộ môn Di truyền -
Giống, Khoa Chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản, Trường đại học Nông nghiệp Hà Nội. 2.4. Thời gian thực hiện
Từ tháng 12 năm 2009 đến tháng 08 năm 2010
2.5. Địa điểm thực hiện
Tại Trạm nghiên cứu và nuôi giữ giống lợn hạt nhân Tam Điệp.
3. Kết quả và thảo luận
3.1. Năng suất sinh sản của hai dòng lợn VCN02 và VCN05
Bảng 1. Năng suất sinh sản của hai dòng lợn VCN02 và VCN05
VCN02
VCN05
89
14.34
a
4.41
48
15.46
a
4.56
Số con để nuôi/ổ (con)
432
9.55
b
2.13
263
10.47
a
2.27
Tuổi cai sữa (ngày)
428
23.25
a
3.80
252
23.42
a
64
51.83
b
10.41
Tỉ lệ nuôi sống (%)
428
95.92
a
10.04
254
92.36
a
10.79
Ghi chú: Các giá trị trong cùng một hàng không mang ký tự nào giống nhau thì sai khác có ý nghĩa thống kê
(P<0,05)
Số con sơ sinh sống/ổ của nái VCN02 và VCN05 là 9,62 con/ổ và 11,26 con/ổ, sự sai
khác này có ý nghĩa thống kê rõ rệt (P<0,05). Kết quả nghiên cứu này nằm trong phạm vi các kết
quả nghiên cứu trên giống Landrace của Đinh Văn Chỉnh và cs (2001) [3] là 9,23 – 9,85 con/ổ,
nhưng cao hơn kết quả của tác giả: Từ Quang Hiển và cs (2004) [6] với số con đẻ ra còn sống là
9,08 con/ổ, nhưng thấp hơn công bố của Đoàn Xuân Trúc và cs (2001) [9] là 10,19 - 10,78 con/ổ;
Đặng Vũ Bình (2003) [2] là 10,02 con/ổ. Số con sơ sinh sống/ổ của dòng VCN05 trong nghiên
cứu này thấp hơn công bố của Nguyễn Văn Thiện (2006) [8] là 13,2 con (nghiên cứu trên lợn
Meishan thuần).
Khối lương sơ sinh/con của dòng nái VCN02 là 1,53 kg/con cao hơn so với VCN05 (1,40
kg/con). Sự sai khác giữa các giá trị trung bình này có ý nghĩa thống kê rõ rệt (P<0,05). Kết quả
nghiên cứu này cao hơn nghiên cứu của Đặng Vũ Bình và cs (2003) [2] trên lợn Landrace là 1,50
kg/con và của Nguyễn Văn Thiện (2006) [8] trên giống Meishan (0,93 kg/con).
Khối lượng sơ sinh/ổ phụ thuộc vào số con sơ sinh/ổ và khối lượng sơ sinh/con. Mặc dù
lượng cai sữa/con (VCN02 là 6,38kg và VCN05 là 5,73 kg).
3.2. Xác định các nhân tố ảnh hưởng đối với các tính trạng năng suất sinh sản của đàn nái
VCN02 và VCN05
Bảng 2. Mức độ sai khác của các nhân tố
Tính trạng
Các nhân tố
Giống
Lứa
Năm
Số con sơ sinh sống
***
**
**
Khối lượng sơ sinh/con
***
***
***
Khối lượng sơ sinh/ổ
NS
NS
NS
Số con để nuôi
***
***
NS
Tuổi cai sữa
*
**
***
Số con cai sữa
quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng.
3.3 Hệ số di truyền và tương quan di truyền
3.3.1. Hệ số di truyền
Hệ số di truyền có ý nghĩa quan trọng trong công tác giống. Đối với những tính trạng có
hệ số di truyền cao, việc chọn lọc những bố mẹ có năng suất cao là biện pháp cải tiến được năng
suất ở thế hệ con một cách nhanh chóng và chắc chắn hơn so với các tính trạng có hệ số di truyền
trung bình hoặc thấp. Ngược lại, đối với những tính trạng có hệ số di truyền thấp, lai giống sẽ là
biện pháp cải tiến năng suất có hiệu quả hơn so với chọn lọc.
- Hệ số di truyền ước tính của tính trạng số con sơ sinh sống/ổ
Các thành phần phương sai kiểu hình, phương sai di truyền cộng gộp trực tiếp, phương
sai môi trường thường xuyên của mẹ, phương sai ngẫu nhiên và hệ số di truyền của tính trạng số
con sơ sinh sống/ổ của nái VCN02 và VCN05 được trình bày ở bảng 3
Bảng 3. Các thành phần phương sai tính trạng số con SSS
σ
2
P
σ
2
a
σ
2
c
σ
2
e
h
càng cao. Hệ số lặp lại của cả hai dòng đề thấp (VCN02 là 0,29, VCN05 là 0,15).
- Hệ số di truyền ước tính của tính trạng số con cai sữa/ổ
Các thành phần phương sai kiểu hình, phương sai di truyền cộng gộp trực tiếp,
phương sai môi trường thường xuyên của mẹ, phương sai ngẫu nhiên và hệ số di truyền của tính
trạng số con cai sữa/ổ của nái VCN02 và VCN05 được trình bày ở bảng 4
Bảng 4. Các thành phần phương sai tính trạng số con cai sữa
σ
2
P
σ
2
a
σ
2
c
σ
2
e
h
2
a
ρ
VCN02
3.3663
0.224
0.0869
dòng lợn. Hệ số tương quan di truyền và tương quan ngoại cảnh giữa số con sơ sinh sống với số con
cai sữa của hai dòng VCN02 và VCN05 được trình bày trong bảng 5.
Bảng 5. Hệ số tương quan di truyền giữa số con SSS và số con CS
r
p
r
a
r
c
r
e
VCN02
0.4787
0.86
0.476
0.439
VCN05
0.237
0.839
0.96
0.0398
Tương quan di truyền giữa hai tính trạng sinh sản (SCSSS và SCCS) là tương quan thuận
ở mức chặt (0,839 – 0,86). Đối với dòng VCN02, tương quan ngoại cảnh và tương quan kiểu
hình giữa hai tính trạng này có tương quan thuận nhưng không chặt (r = 0,44 – 0,48). Tương
quan kiểu hình và tương quan ngoại cảnh giữa hai tính trạng số con sơ sinh sống và số con cai
– Khoa chăn nuôi thú y (1999 – 2001). NXB Nông nghiệp, Hà Nội. Trang 11
4. Nguyễn Văn Đức, Trần Thị Minh Hoàng và Nguyễn Văn Nhiệm (2002). Hệ số di truyền và lặp lại của tính
trạng số con sơ sinh sống/lứa của các giống lợn thuần và tổ hợp lai giữa Móng Cái, Landrace và Large
White nuôi tại miền Bắc Việt Nam. Tạp chí Chăn nuôi, số 2 – 2002. Trang 6-7
5. Tạ Thị Bích Duyên, Nguyễn Văn Đức và Nguyễn Văn Thiện (2004). Một số đặc điểm di truyền, giá trị
giống về khả năng sinh sản của lợn Yorkshire và Landrace nuôi tại các cơ sở giống Thuỵ Phương và Đông
Á. Báo cáo khoa học chăn nuôi thú y. NXB Nông nghiệp. Trang 128 – 138.
6. Từ Quang Hiển, Trần Văn Phùng, Lương Nguyệt Bích (2004). Nghiên cứu khả năng sinh sản của lợn nái
lai F1 (Yorkshire x Landrace) nuôi tại trại chăn nuôi Tân Thái tỉnh Thái Nguyên. Tạp chí khoa học kỹ
thuật chăn nuôi. Hội Chăn nuôi Việt Nam. Số 10/2004
7. Nguyễn Văn Thắng, Đặng Vũ Bình (2005). So sánh khả năng sinh sản của nái lai F1 (Landace x Yorkshire)
phối với đực giống Pietrain và Duroc. Tạp chí Khoa học kỹ thuật nông nghiệp. Trường Đại học nông
nghiệp 1. Số 2/2005
8. Nguyễn Văn Thiện, Lợn Meishan Trung Quốc. Tạp chí Khoa học kỹ thuật chăn nuôi, tháng 12-06
9. Đoàn Xuân Trúc, Tăng Văn Lĩnh, Nguyễn Thái Hòa và Nguyễn Thị Hường (2001). Nghiên cứu chọn lọc
xây dựng đàn nái hạt nhân giống Yorkshire và Landrace dòng mẹ có năng suất cao tại xí nghiệp giống vật
nuôi Mỹ Văn. Báo cáo khoa học chăn nuôi thú y 1999 – 2000, phần chăn nuôi gia súc, thành phố Hồ Chí
Minh. Trang 152 – 158
10. Arango, J., I. Misztal, S. Tsuruta, M. Culbertson and W. Herring, 2005. Threshold-linear estimation of
genetic parameters for farrowing mortality, litter size and test prformance of Large White sows. J. Anim.
Sci. 83:499-506
11. Blasco A; Bidanel J. P and Haley C.S (1995). Genetic and neonatal survial. The neonatal pig,
Development and survial, Valey M.A (Ed), CAB, Intenational, Walling ford, oxen, UK, pp.17 – 18
12. Heyer. A, Anderson. K, Leufven. S, Rydhmer.L and Lundstrom. K, (2005). The effects ò breed cross on
performance and meat quality of once-bred gilts in a seasonal outdoor rearing system, Arch. Tierz.,
Dummerstorf, 48, 359-371
13. Rho, S., A.J. Salce, K.S. Seo, S. Kim, Y. C. Lee and K.H. Cho, 2006. Genetic parameter estimation of
growth, backfat thickness and total number of piglets born in Landrace. Proceedings of XII
th
AAAP