Năng suất sản xuất sữa của đàn bò sữa 3 -4 và 7- 8 máu HF - Pdf 14


TĂNG XUÂN LUU – Năng suất sản xuất sữa của đàn bò sữa 3/4 và 7/8 HF
37
NĂNG SUẤT SẢN XUẤT SỮA CỦA ĐÀN BÒ SỮA 3/4 VÀ 7/8 MÁU HF HẠT NHÂN
TẠI VÙNG BA VÌ HÀ NỘI
Tăng Xuân Lưu
1
, Trần Thị Loan
1
, Ngô Đình Tân
1
, Nguyễn Quốc Toản
1
, Trần Trọng Thêm
2
,
Nguyễn Văn Đức
2
Tạ Văn Tường
3
, Nguyễn Ngọc Sơn
3
và Trần Đức Tĩnh
4

1
Trung tâm NC Bò &Đ/Cỏ Ba Vì,
2

chăm sóc nuôi dưỡng hiện nay của người chăn nuôi. Để đàn bò sữa lai phát triển, ngày càng
ổn định và năng suất sữa ngày một tăng, chúng tôi tiến hành đề tài: “Đánh giá khả năng sản
xuất sữa của đàn bò sữa hạt nhân 3/4 và 7/8 HF tại vùng Ba Vì Hà Nội”
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu : Bò cái lai 3/4 và 7/8 HF nuôi trong điều kiện nông hộ
Địa điểm nghiên cứu: Trung tâm nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì, bò sữa Huyện Ba Vì (xã
Phú Đông, Cổ Đô, Vạn Thắng, Tản lĩnh, Vân Hòa, Yên Bài).
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 1/2006 đến tháng 12/2008
Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá thực trạng và tính năng sản xuất của đàn bò sữa tại vùng Ba
Vì trong những năm gần đây. Đàn bò sữa chọn lọc (hạt nhân) đạt sản lượng sữa trên 4.000
kg/chu kỳ/ 305 ngày nhằm nhân nhanh đàn bò sữa đạt sản lượng cao

VIỆN CHĂN NUÔI - Tạp chí Khoa học Công nghệ Chăn nuôi - Số 22-Tháng 2-2010 38

Nội dung nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi
Điều tra đánh giá một số chỉ tiêu về tình hình chăn nuôi bò sữa tại vùng Ba Vì
Đánh giá khả năng sinh sản, khả năng cho sữa, chất lượng sữa của đàn bò lai 3/4 và 7/8 HF
và đàn bò hạt nhân đạt năng suất ≥ 4000 lít trên chu kỳ qua một số năm .
Phương pháp nghiên cứu
Tiến hành bình tuyển, giám định đàn gia súc để chọn đàn hạt nhân
Xác định khối lượng: theo phương pháp đo khối lượng bằng thước xác định khối lượng bò
sữa của Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam. Đánh giá các chỉ tiêu chấm điểm
ngoại hình, năng suất sữa, khối lượng cơ thể dựa vào tiêu chuẩn phân cấp chất lượng đàn bò
sữa Việt Nam TCN 533-2002. Số liệu được nhập vào chương trình VDM của hồ sơ cá thể và
tính các chỉ tiêu. Xây dựng đàn bò sữa hạt nhân với SLS ≥ 4.000 kg/CK sữa và quy chuẩn 305
ngày cho sữa.
Tính năng sản xuất

F
1
215 23,1 3208,4 ± 26,25 296,4 ± 5,7 374,2 ± 15,2 412,8 ± 13,2
F
2
488 52,4 3568,6 ± 89,72 310,1 ± 4,3 406,7 ± 21,4 430,4 ± 21,3
F
3
228 24,5 3501,5 ± 75,18 316,6 ± 3,6 403,2 ± 18,5 441,9 ± 12,7
Kết quả điều tra và lập sổ theo dõi trên đàn bò 3/4 và 7/8 HF vùng Ba Vì năm 2006: Năng
suất sữa đàn 3/4HF và đàn 7/8HF không có sự sai khác 3568,6 ± 89,72 kg và 3501,5 ± 75,18
kg với 310-316 ngày vắt sữa. Tổng đàn khai thác sữa 931 con, chọn ra 180 bò có sản lượng
sữa ≥ 4000 lít /chu kỳ để đưa vào danh sách theo dõi khả năng sản xuất sữa, sinh sản và phối
giống với bò đực cao sản, nhằm tạo ra đàn bò sữa hạt nhân tại vùng Ba Vì.

TĂNG XUÂN LUU – Năng suất sản xuất sữa của đàn bò sữa 3/4 và 7/8 HF
39
Khối lượng cơ thể của 2 nhóm bò 3/4 và 7/8 HF cũng như khoảng cách giữa 2 lứa đẻ không
có sự sai khác (p>0,05). So với 1/2 HF thì có sự sai khác ở cả 2 chỉ tiêu. Trong giai đoạn này
phong trào chăn nuôi bò sữa trên phạm vi cả nước có xu thế chững lại do giá sữa quá rẻ, giá
bò giống không bán được đã ảnh hưởng đến chế độ chăm sóc nuôi dưỡng đối với chúng nên
các phẩm giống không phát huy được tiềm năng của chúng.
Bảng 2. Kết quả giám định phân loại theo cấp tổng hợp của đàn bò sữa qua các năm của đàn
bò chọn lọc
ĐCKL (%) Đ C (%) Cấp I (%) Cấp II (%) Cấp/phẩm
giống/năm


Theo nghiên cứu của Vũ Chí Cương và cs (2003). Hệ số phối giống bò Ba Vì là: 2,19 và 1,94,
Phù Đổng: 2,2 - 2,4. TP. Hồ Chí Minh: 1,93 - 2,07; ở đàn 3/4 và 7/8. Hệ số phối giống trong 2
năm trở lại đây có xu hướng cao hơn.
So với các kết quả nghiên cứu khác: Đàn bò thuần (Vũ Chí Cương và cs., 2003) hệ số phối
giống của P.Pong Pia chan tại Thai land là 2,6; 2,3 và 3,6

VIỆN CHĂN NUÔI - Tạp chí Khoa học Công nghệ Chăn nuôi - Số 22-Tháng 2-2010 40

Bảng 3. Hệ số phối giống/ lần có chửa
Nhóm bò lai TT Chỉ tiêu
¾ 7/8
Đàn bò hạt nhân
1 n (con) 189 120
2 Mean ± SE (liều) 2,21±0,26 2,45± 0,21
3 SD 1,16 1,06
4 Min (liều) 1 1
5 Max (liều) 5 5
Đàn bò đại trà
1 n.(con) 450 310
2 Mean ± SE (liều) 2,05±0,16 2,15± 0,20
3 SD 1,36 1,16
4 Min (liều) 1 1
5 Max (liều) 5 5
Như vậy, kết quả của chúng tôi cao hơn nghiên cứu năm 2003 và cao hơn vùng Phù Đổng,
TP.Hồ Chí Minh năm 2004. Vì năng suất sữa của đàn chọn lọc 3/4 và 7/8 HF có năng suất
sữa cao hơn và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng với khẩu phần thức ăn tinh cao sẽ dẫn đến rối
loạn hocmon sinh dục. Khi năng suất sữa càng cao thì khả năng động dục lại sau khi đẻ càng

sữa, khoảng cách càng ngắn thì hiệu quả chăn nuôi càng cao.
Theo Vũ Chí Cương và cs (2003) ở đàn 3/4 và 7/8HF tương ứng ở các nơi: Phù Đổng: 440,6
7,7 và 442,8 ±10,9 ngày, ở Ba Vì: 443,12 ± 10,12 và 461,58 ±19,24 ngày ở TP. Hồ Chí Minh:
457,4 ± 14,89 và 460,9 ± 16,4 ngày. Khoảng cách lứa đẻ của đàn 7/8 HF bao giờ cũng cao
hơn đàn ¾ HF, nhận xét của chúng tôi cũng phù hợp với nhận xét của các tác giả khác.
Theo Trần Trọng Thêm (1986) khi nghiên cứu tại đàn bò sữa Phù Đổng là 533-539 ngày. Còn
Nguyễn Kim Ninh (1992) công bố khoảng cách giữa 2 lứa đẻ là 469-537 ngày tại Ba Vì. Như
vậy, khoảng cách giữa 2 lứa đẻ của 2 phẩm giống đã được rút ngắn lại so với trước đây mặc
dù năng suất sữa được nâng lên rất nhiều.
Năng suất sữa và khối lượng cơ thể của đàn đại trà và đàn hạt nhân
Bảng 5. Năng suất sữa và KL cơ thể đàn đại trà và hạt nhân (≥4000 kg/ck) qua các năm
Chỉ số 2003* 2006 2007 2008
3/4HF 7/8HF 3/4HF 7/8HF 3/4HF 7/8HF 3/4HF

7/8HF

Đàn bò hạt nhân
n (con) 18 22 125 55 89 65 207 101
Mean ± m
x
(kg/ck)
4446,88
±131.61

4154,81

± 25,05
4461,4
± 41,1
4496,8

±4,3
428,1 ±
6,4
427,4
±3,3
457,6
±3,9
435,8
± 5,9
487,9 ±
7,7
Đàn bò đại trà
n (con) 169 131 488 228 370 345 688 420
Mean± m
x
(kg/ck)
3071,47
±53,94
3212,43
±54,82
3568
±89,72

3501,5
±75,18

3585,6
±56,7
3621,8
± 68,7

Tỉ lệ%
(hat nhân/đại
trà)
10,65 16,79 24,95 17,74 24,05 18,84 30,09 20,05
(*. Nguồn Vũ Chí Cương và cs (2003)
Bảng 5 cho thấy, số lượng đàn bò giống hạt nhân khu vực Ba Vì tăng lên theo các năm. Từ 40
con chọn lọc (3/4 và 7/8HF) năm 2004 tăng lên 180 con năm 2006, 154 con vào năm 2007 và
lên 308 con năm 2008. Sự tăng đàn bò cao sản hạt nhân ở khu vực Ba Vì trong các năm có sự
khác nhau nhất là trong năm 2008 là vì: Trên cơ sở kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng của 40 con
chọn lọc nhân đàn năm 2004 đã phát huy được hiệu quả, trên cơ sở đó người chăn nuôi nắm
khá vững vàng về kỹ thuật chăn nuôi cộng thêm đội ngũ kỹ thuật trẻ khu vực Ba Vì được
nâng lên, giúp cho việc nâng cao hiệu quả trong can thiệp về thú y, cũng như giá sữa thu mua
của các nhà máy khá hấp dẫn nên người chăn nuôi yên tâm hơn trong lĩnh vực đầu tư tăng đàn

VIỆN CHĂN NUÔI - Tạp chí Khoa học Công nghệ Chăn nuôi - Số 22-Tháng 2-2010 42

nhanh do mua thêm bò tốt từ các vùng, miền, địa phương khác đem về nuôi. Kết quả điều tra
đàn bò sữa khu vực Ba Vì với 2 nhóm bò lai 3/4HF và 7/8HF trong tổng đàn 300 con chọn ra
được 40 bò đạt sản lượng trên 4000 lít/chu kỳ (Tăng Xuân Lưu và cs - 2003).
Năng suất sữa đàn hạt nhân của các nhóm bò lai cũng được tăng: Đàn (3/4HF) từ 4446,88 ±
131.61kg lên 4924,8 ± 43,7 (P< 0,05). Năng suất sữa của đàn (7/8HF) từ 4154,8 ± 25,1 kg
năm 2004 lên 5020,5 ± 72,9 kg năm 2008 (P<0,05).
Tương ứng khối lượng cơ thể cũng được cải thiện đáng kể: Ở đàn (3/4HF): từ 396,2 ± 4,3kg
năm 2006 lên 435,8 ± 5,9kg năm 2008. Ở đàn 7/8HF từ 428,1 ± 6,4kg năm 2006 lên 487,9 ±
7,7kg năm 2008 (P<0,05). Tương quan giữa khối lượng cơ thể của gia súc với sản lượng sữa
là tương quan dương (r>0,8). Chỉ số tương quan này phản ánh rõ ở đàn bò 7/8HF, khi chăm
sóc nuôi dưỡng tốt thì khối lượng cơ thể được nâng lên và sản lượng sữa cũng được cải thiện

(con)
Tỉ lệ
mỡ sữa
(%)
Tỉ lệ
protein
(%)
VCK
không
mỡ (%)
Nhóm bò
chọn lọc
98 3,78
± 0,24
3,43
± 0,23
9,17
± 0,79
120 3,65
± 0,14
3,43
± 0,13
8,98
±0,69
Nhóm bò
đại trà
98 3,83
± 0,20
3,44
± 0,11

và F
3
(7/8HF) khu vực Ba Vì ngày càng thích nghi và phát triển về cả
số lượng và chất lượng và có xu hướng đàn 7/8HF tăng nhanh hơn đàn 1/2HF và 3/4HF. Hệ
số phối giống cao 2,21 liều đối với đàn 3/4HF và 2,45 liều ở đàn 7/8HF chọn lọc.
Năng suất sữa đàn 7/8HF cao hơn đàn 3/4HF trong đàn hạt nhân. Đàn bò hat nhân với năng
suất sữa trên 4000 lít/chu kỳ có xu hướng tăng rõ rệt về các chỉ tiêu năng suất sữa, khoảng
cách giữa 2 lứa đẻ và hệ số phối giống. Trên cơ sở đàn bò hạt nhân có năng suất sữa trên 4000
lít/chu kỳ cho phép chúng ta có thể nhân ra đàn giống tốt sau này
Đề nghị
Để có đàn bò 3/4HF và 7/8HF tốt tạo ra đàn giống thì cần có chính sách tăng đàn 1/2HF nếu
không đàn bò sữa Việt Nam nói chung và Ba Vì nói riêng sẽ có nguy cơ tăng máu HF cấp tiến
cao.
Đàn hạt nhân cần có sự theo dõi giống chặt chẽ và có chính sách khuyến khích để đưa tinh chất
lượng cao vào phối giống nhằm mục đích tăng nhanh số lượng đàn bò sữa cao sản Việt Nam.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
Cù Xuân Dần, Nguyễn Xuân Tịnh, Tiết Hồng Ngân, Nguyễn Bá Mùi và Lê Mộng Loan (1996). Sinh lý học gia
súc. NXB. ĐHNN I Hà Nội.
Nguyễn Kim Ninh, Nguyễn Văn Thưởng, Lê trọng Lạp, Nguyễn Hữu Lương, Lê Văn Ngọc (1992). Kết quả
Nghiên cứu bò lai hướng sữa và xây dựng mô hình bò sữa trong dân. Tuyển tập công trình nghiên cứu
khoa học kỹ thuật chăn nuôi (1969-1995) tr. 238-245
Nguyễn Trọng Tiến, Mai Thị Thơm, Nguyễn Xuân Trạch và Lê Văn Ban (1991). Giáo trình chăn nuôi trâu bò-
ĐHNN Hà Nội.
Tăng Xuân Lưu, Lê trọng Lạp, Ngô Đình Tân, Vương Tuấn Thực, Nguyễn Quốc Toản, Vũ Chí Cương và
Nguyễn Văn Niêm (2003). Nghiên cứu chọn tạo đàn bò cái ¾ và 7/8 HF hạt nhân để tạo đàn bò đạt sản
lượng sữa trên 4000 lít/ chu kỳ tại Trung tâm Nghiên cứu Bò và Đồng cỏ ba Vì. Trang 102 Báo cáo kết
quả khoa học Viện Chăn nuôi tháng 12 năm 2003
Trần Trọng Thêm (1986). Nhận xét về năng suất sữa của các nhón bò lai sind có pha máu bò Hà Lan. Khoa học
và kỹ thuật Nông nghiệp (5/1986 tr.144-147)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status