lược sử ngoại giao việt nam các thời trước - Pdf 14

Tên sách: Lược sử ngoại giao Việt Nam các thời trước
Tác giả: Nguyễn Lương Bích
Nhà xuất bản: Quân đội nhân dân
Năm xuất bản: 1996
LỜI GIỚI THIỆU
Hoạt động ngoại giao là một bộ phận quan trọng của đấu tranh dựng nước, giữ
nước lâu dài và anh dũng của dân tộc Việt Nam. Tìm hiểu hoạt động đó trong sự
phát triển phong phú qua các thời kì lịch sử để rút ra những bài học kinh nghiệm
cần thiết có thể vận dụng kết quả cho hiện tại đó là một việc làm vừa có ý nghĩa
khoa học, vừa có ý nghĩa thực tiễn. Tiếc rằng cho tới nay vẫn chưa có một công
trình giới thiệu một cách có hệ thống và tương đối toàn diện họat động ngoại giao
Việt Nam trong tiến trình lịch sử, kể cả một giáo trình về lịch sử ngoại giao nước
ta để giảng dạy cho sinh viên ở Học viện Quan hệ quốc tế cũng mớỉ bắt đầu được
xây dựng.
Với “Lược sử ngoại giao Việt Nam các thời trước”, nhà sử học Nguyễn Lương
Bích đã đáp ứng nguyện vọng chính đáng của nhân dân ta muốn tìm hiểu lịch sử
dân tộc nói chung, lịch sử ngoại giao của dân tộc nói riêng.
Trên cơ sở khai thác nhiều nguồn tư liệu gốc về lịch sử cổ - trung đại Việt Nam
và Trung Quốc, nhà sử học Nguyễn Lương Bích vốn là chuyên gia có nhiều công
trình nghiên cứu giá trị về thời kì lịch sử này, đã giới thiệu khá cụ thể hoạt động
ngoại giao của Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử, từ những ngày đầu các vua
Hùng lập quốc đến khi thực dân Pháp phát động chiến tranh xâm lược và hoàn
thành đánh chiếm Việt Nam vào cuối thê' kỉ XIX.
1
Thông qua các câu chuyện kể sinh động về những con người và những việc làm
cụ thể, người đọc ngày nay có điều kiện và cơ hội nhận rõ tâm lực, tài trí, bản
lĩnh rất đáng tự hào của cha ông xưa. Cũng qua đó nhận thức sâu sắc hơn về
truyền thống tốt đẹp của ngoại giao Việt Nam, một truyền thống được định hình
ngay từ buổi đầu dựng nước, ngày càng củng cố và phát triển, để đến khi bắt gặp
ánh sáng của cách mạng thì càng có điều kiện phát huy tất cả sức mạnh và hiệu
qủa. Cơ sở vững bền của truyền thống ngoại giao Việt Nam là tình yêu đất nước,

Sơn Tây, Cam Túc miền Bắc Á. Hai nước xa nhau hàng vạn dặm, cách nhau bởi
nhiều lãnh thổ, nhiều địa bàn cư trú của nhiều tộc người khác nhau. Vậy mà
người Việt Nam thời bấy giờ đã có những tiếp xúc ngoại giao đầu tiên với người
Trung Quốc nơi xa xôi đó.
Sử sách Trung Quốc ghi nhận: năm Mậu Thân (tức năm thứ 5 đời vua Đương
Nghiêu ở Trung Quốc) theo dương lịch là năm 2353 trước Công nguyên, một sứ
bộ ngoại giao đầu tiên của vua Hùng nước ta đã chủ động tới thăm Trung Quốc.
Theo sử Trung Quốc thì sứ bộ của ta đã qua hai lần thông dịch mới tới được
3
Trung Quốc. Điều đó cho thấy sứ bộ ta đã tiếp xúc ngoại giao với nhiều dân tộc
khác trên con đường tới Trung Quốc. Trong điều kiện đường đất xa xôi, cách trở
như vậy, mà sứ bộ của ta đã kỳ công đem tặng vua Nghiêu (Trung Quốc) một con
rùa rất lớn. Theo sử Trung Quốc thì con rùa này đã sống một nghìn năm, trên mai
rùa có khắc chữ, ghi sự việc từ khi trời đất mới mở mang. Ở phương Đông, từ
thời cổ, rùa là biểu tượng của sự sống trường tồn hàng nghìn, vạn năm. Về ngoại
giao, Nhà nước ta thời vua Hùng tặng Nhà nước Trung Quốc thời vua Nghiêu
con rùa quý này với một ý nghĩa tốt đẹp, mong muốn cho quan hệ thân thiện giữa
hai nước được bền vững, dài lâu.
Hơn một nghìn năm sau, Việt Nam và Trung Quốc vẫn xa nhau hàng vạn dặm,
nhưng một sứ bộ ngoại giao của ta lại sang thăm Trung Quốc lần thứ hai (vào
năm thứ 6 đời vua Thành Vương nhà Chu) tức năm 1110 trước Công nguyên.
Theo sử Trung Quốc, qua ba lần thông dịch, sứ bộ của ta mới tới kinh đô nhà
Chu ở vùng Cam Túc. Sứ bộ ngoại giao ta đem tặng vua nhà Chu Trung Quốc
chim trĩ trắng là loại chim quý nhất ở phương Nam thời ấy. Nhà Chu Trung Quốc
trân trọng đáp lại, cho làm năm cỗ xe có kim chỉ nam để đưa sứ bộ ngoại giao ta
về nước (Những tư liệu về ngoại giao này đều có ghi chép trong các sử sách của
Trung Quốc thời trước, như: Sử ký Tư Mã Thiên, Thượng thư đại truyện, Hậu
Hán thư, Thiếu vi thống gián, Phương dư kỉ yếu, Việt kiệu thư, Cương mục tiền
biên, Ngự phê thông giám tập lãm.
Dựa theo truyền thuyết và theo sử sách của Trung Quốc, các sử gia Việt Nam

5
nước khác cũng không sao tránh được các thông lệ đó của thời đại.

Đối với Trung Quốc, nước ta thời Hùng Vương đặt quan hệ thân thiện trong một
thời gian dài như thế là hiếm có. Nhưng rồi thời thế đổi thay, mối quan hệ giữa
hai nước cũng đổi khác. Từ khi dựng nước ở vùng Cam Túc xa xôi, hẻo lánh,
người Hán ngày càng mở rộng biên giới, chiếm đoạt lãnh thổ của nhiều nước, xóa
bỏ nhiều quốc gia lân cận, bành trướng rất mạnh xuống phía Nam, và Trung
Quốc nhanh chóng trở thành một nước rộng lớn bậc nhất ở châu Á từ mấy thế kỷ
trước Công nguyên.
Tới cuối thế kỷ thứ III trước Công nguyên, biên giới Trung Quốc đã mở rộng tới
sát biên giới ta. Lúc này, dù nước ta muốn giao hảo thì các triều đại phong kiến
Trung Quốc cũng không chịu dừng bước bành trướng xâm lược. Nhà Hán bắt đầu
xâm lược, đánh phá nước ta liên tiếp trong nhiều thế kỷ. Cũng từ đó quan hệ đối
ngoại của ta với các triều đại phong kiến Trung Quốc không còn là hòa bình hữu
nghị như trước. Dân tộc ta đã phải tiến hành một cuộn đấu tranh vũ trang trường
kỳ chống các đạo quân phong kiến Trung Quốc xâm lược diễn ra liên tục trong
hơn mười thế kỷ.
Cuối thế kỷ thứ III trước Công nguyên, ông vua bạo ngược Tần Thủy Hoàng của
Trung Quốc đã cho 50 vạn quân chia 5 đường đánh vào vùng lãnh thổ phía Bắc
nước ta. Tổ tiên chúng ta cùng các dân tộc anh em từ phía nam sông Trường
Giang trở xuống đã đánh trả rất quyết liệt. Quân Tần bị thất bại liên tiếp "Thây
phơi, huyết chảy hàng mấy chục vạn người" (Sử kí Tư Mã Thiên). Chủ tướng
giặc là Đồ Thư bị giết tại trận. Sau đó nhà Tần nhiều lần đưa thêm quân sang,
tiếp tục xâm lược nước ta cho bằng được.
Sau hơn 10 năm đánh phá dã man, ác liệt, nhà Tần đã chiếm được một vùng đất
6
đai rộng lớn ở phía Bắc nước ta, chia đặt thành ba quận: Nam Hải, Quế Lâm và
Tượng (tức miền Quảng Đông, Quảng Tây của Trung Quốc ngày nay).
Sang hai thế kỉ cuối trước Công nguyên, các đế chế Tần, Hán tiếp tục xâm lược

Chàm và nhiều dân tộc khác ở dọc dải Hoành Sơn, người Chàm là đông hơn cả.
Huyện Tượng Lâm và cả quận Nhật Nam đều ở xa thủ phủ đô hộ của giặc đặt tại
vùng lưu vực sông Hồng, do vậy lực lượng chiếm đóng của giặc ở vùng Nhật
Nam, Tượng Lâm không nhiều, nhân dân Nhật Nam có điều kiện khởi nghĩa liên
tục. Trong thế kỷ thứ II, nhân dân Tượng Lâm năm lần tiến hành khởi nghĩa. Từ
cuộc khởi nghĩa lần thứ hai trở đi, lần nào cũng có nhân dân và binh sĩ người Việt
và các dân tộc anh em ở hai quận Giao Chỉ, Cửu Chân hưởng ứng. Cuộc khởi
nghĩa lần cuối vào năm 190 do một thủ lĩnh người Chàm lãnh đạo đã giải phóng
hoàn toàn huyện Tượng Lâm, lập thành một vương quốc nhỏ ở miền Nam nước
ta, lấy tên là Lâm Ấp .
Trong hai thế kỷ thử III, thứ IV, phong trào đánh giặc cứu nước vẫn diễn ra liên
tục khắp nơi. Lớn hơn cả là phong trào ở Thanh Hóa do Bà Triệu lãnh đạo.
Sang thế kỷ thứ V, thứ VI, phong trào chống giặc càng lớn mạnh. Giữa thế kỷ thứ
V, người anh hùng cứu nước là Lý Trường Nhân đã phát động một cuộc khởi
nghĩa lớn trên khắp nước. Trong vòng ba tháng, Lý Trường Nhân và nghĩa quân
8
giết bọn quan lại, tướng sĩ đô hộ, giải phóng hoàn toàn Tổ quốc và thành lập
chính quyền độc lập của dân tộc, chính quyền này tồn tại trong gần 20 năm.
Giữa thế kỷ thứ VI, một phong trào khởi nghĩa lớn do hai vị anh hùng Lý Bí (tức
Lý Nam Đế) và Triệu Quang Phục (tức Triệu Việt Vương) đã giành được quyền
độc lập cho nước nhà, lập nên triều Tiền Lý tồn tại trong hơn nửa thế kỉ.
Sang thế kỷ thứ VII, thứ VIII, cuộc chiến đấu giữa nhân dân ta và các thế lực
phong kiến Trung Quốc đô hộ càng quyết liệt hơn. Bọn đô hộ lúc ấy là tập đoàn
thống trị nhà Đường - một trong những tập đoàn bành trướng hiếu chiến bậc nhất
trong lịch sử Trung Quốc. Chúng phát động chiến tranh xâm lược liên miên, đánh
chiếm đất đai của hầu hết các dân tộc láng giềng ở khắp bốn phía. Phía đông,
chúng đánh chiếm nước Triều Tiên, gọi Triều Tiên là An Đông đô hộ phủ. Phía
tây, chúng đánh chiếm Tây Tạng, gọi Tây Tạng là An Tây đô hộ phủ. Phía bắc,
chúng đánh chiếm lãnh thổ của các dân tộc Mông Cổ, Đột Quyết, Uy Gua, lập
thành An Bắc đô hộ phủ. Phía nam, bọn vua chúa hiếu chiến nhà Đường đánh

nội, đối ngoại rất rõ ràng, cụ thể và thật sáng suốt.

10
Về đối nội, ông cho người đi các châu huyện báo tin thắng trận và kêu gọi nhân
dân 32 châu trong cả nước cùng nổi dậy phối hợp chiến đấu. Tinh thần đại đoàn
kết của ông được nhân dân hưởng ứng mạnh mẽ. Ông đã tập hợp được quân của
cả 32 châu để cùng đánh giặc. Sử Trung Quốc ghi chép rằng: "Mai Thúc Loan đã
dấy quân 32 châư” (Tân Đường thư (sách sử Trung quốc), q.207, Dương Tư Húc
truyện) để đánh chúng.
Về đối ngoại, ông tiến hành vận động liên minh quân sự với nước ngoài để cùng
đánh giặc. Đây là nét độc đáo trong kế sách đối ngoại của Mai Thúc Loan. Sử
Trung Quốc ghi rằng ông đã liên minh được với các nước Lâm Ấp, Chân Lạp
(tức Cam-pu-chia ngày nay) và Kim Lân (tức Ma-lai-xi-a ngày nay) (Tân Đường
thư (sách sử Trung quốc), q.207, Dương Tư Húc truyện). Truyền thuyết của ta kể
lại cụ thể: Mai Đại Đế khởi nghĩa năm Quý Sửu (713) thì năm sau là năm Giáp
Dần (714) , cử một tướng là Tiết Anh làm Lâm Ấp thông vấn sứ và một tướng là
Hoắc Đam làm Chân Lạp cáo dự sứ. Hai tướng chính thức đi sứ sang hai nước
Lâm Ấp, Chân Lạp để thông báo chiến thắng và đề nghị hai nước liên minh quân
sự cùng đánh giặc. Với hai nước láng giềng phía nam này thì ngay từ khi chuẩn
bị khởi nghĩa, Mai Thúc Loan đã cho một tướng là Ba Đội Hầu sang liên hệ.
Theo truyền thuyết thì hai nước Chân Lạp và Lâm Ấp đều nhiệt liệt hưởng ứng
liên minh. Vua Chân Lạp là Hồ A Khiêm cho tướng Tham Ninh Na và vua Lâm
Ấp là Phạm Hồ Dĩnh cho tướng Chư Hương An thống lĩnh quân đội, mỗi nước
10 vạn người sang Việt Nam chiến đấu dưới lá cờ đại nghĩa của Đại đế Mai Thúc
Loan (Chư Cát Thị: Tân đính hiệu bình Việt điện U linh tập).
Đoàn kết với các nước láng giềng, liên minh quân sự với các nước bạn để cùng
chiến đấu chống xâm lược là một sự phát triển mới trong đường lối đối ngoại và
đường lối chiến tranh chống xâm lược của dân tộc ta cách đây hơn một nghìn
11
năm. Đó cũng là điểm rất cao quý trong tài năng chỉ đạo chiến tranh của Mai

chưa thể một lúc đánh thắng ngay được. Phùng Hưng chủ trương trường kỳ chiến
đấu chống giặc, đưa chiến tranh giải phóng tiến lên từng bước vững chắc. Đây là
một cống hiến mới của vị anh hùng trẻ tuổi Phùng Hưng vào đường lối chiến
tranh giải phóng dân tộc của ta. Đường lối đó là: bước đầu xây dựng căn cứ địa,
từ căn cứ địa phát triển thành khu giải phóng ngày càng mở rộng ra nhiều vùng,
tới khi so sánh lực lượng giữa ta và địch đã thay đổi, thế và lực của ta mạnh hơn
địch, thì tiến hành một cuộc tổng công kích để giành thắng lợi quyết định, kết
thúc chiến tranh.
Trong 25 năm liền, nghĩa quân Phùng Hưng kiên trì đánh giặc theo đường lối đó,
càng đánh càng mạnh. Vùng giải phóng ngày càng mở rộng khác trước. Tới cuối
năm 791, nghĩa quân Phùng Hưng có thế mạnh hoàn toàn áp đảo địch. Mùa hè
năm ấy, Phùng Hưng quyết định mở trận tổng công kích. Quân giặc thất bại hoàn
toàn. Cuộc tổng công kích thành công nhanh chóng. Chính quyền độc lập trên cả
nước được thành lập Phùng Hưng lên ngôi vua, giữ nước một thời gian. Nhân
dân suy tôn ông làm Bố Cái Đại Vương.
II- NGOẠI GIAO HÒA HOÃN THỜI HỌ KHÚC, HỌ DƯƠNG
Tiếp theo cuộc khởi nghĩa của Bố Cái Đại Vương, trong nửa đầu thế kỷ thử IX,
phong trào giải phóng ở ta lại nổ ra liên tiếp. Nhiều viên quan đô hộ nhà Đường
bị giết hoặc bị đuổi về nước . Giữa thế kỷ thứ IX, nhà Đường tăng cường bộ máy
đàn áp. Chúng cho một võ quan cao cấp của triều đình làm Tĩnh hải quân tiết độ
sứ để cầm đầu toàn bộ binh quyền và chính quyền của chúng trên đất nước ta.
13
Nhưng tiết độ sứ cũng không làm gì được. Thế và lực của nhà Đường sụp đổ tới
nơi. Từ thế kỷ thứ VIII, phong trào nông dân Trung Quốc khởi nghĩa chống nhà
Đường đã liên tiếp nổ ra, mạnh nhất là ở các vùng biên cương. Tại các nước bị
nhà Đường đô hộ, không phải chỉ có nước ta chống đối lại, mà ở các nước bị đô
hộ khác là An Đông, An Tây, An Bắc phong trào đấu tranh giành độc lập cũng
rất quyết liệt. Cho nên từ giữa thế kỷ thứ VIII, triều đình nhà Đường đặt ra chức
tiết độ sứ là một chức võ quan cao cấp có quyền tổng chỉ huy tất cả quân đội ở
khu vực biên cương Trung Quốc và những nước ở gần biên cương bị nhà Đường

Đường phải chấp nhận, vì nhà Đường lúc này tổ chức được một cuộc hành quân
mới để xâm lược nước ta cũng rất khó, nên ưng thuận để không mất thể diện; mặt
khác ta ngăn chặn được các tiết độ sứ ở miền biên cương gần nước ta không thể
lợi dụng thời cơ lấy danh nghĩa nhà Đường để đánh phá ta, vì ta vẫn nhận thần
phục nhà Đường.
Chủ trương ngoại giao hòa hoãn, mềm dẻo của Khúc Thừa Dụ tạo điều kiện cho
nhân dân ta và họ Khúc giữ vững chủ quyền dân tộc trong khoảng nửa thế kỷ.
Nhưng không phải vì thế mà giặc ngoài đã chịu từ bỏ dã tâm xâm lược của
chúng.
Năm 907 Khúc Thừa Dụ mất và cũng là lúc Trung Quốc bước vào thời kỳ đại
loạn, gọi là thời "Ngũ đại thập quốc" tức “Năm triều đại mười quốc gia". Năm
15
triều đại nối tiếp nhau ở triều đình trung ương và mười quốc gia lần lượt xuất
hiện trong nội địa Trung Quốc. Thoạt đầu là nhà Đường bị diệt, nhà Hậu Lương
cướp ngôi. Ở ta, con Khúc Thừa Dụ là Khúc Hạo lên cầm quyền thay cha, và
ngay năm 907 cho người sang giao hảo với triều đại mới ở Trung Quốc là nhà
Hậu Lương. Nhà Hậu Lương buộc lòng phải thừa nhận Khúc Hạo làm tiết độ sứ.
Nhưng năm sau (908), Hậu Lương lại phong cho tiết độ sứ ở Quảng Châu (tức
Quảng Đông) kiêm nhiệm cả chức tiết độ sứ ở nước ta. Điều này là một chứng
minh lịch sử cho thấy: dù trong nước có lâm vào cảnh đại loạn, rối ren thế nào
chăng nữa, các tập đoàn phong kiến Trung Quốc cũng không từ bỏ dã tâm xâm
chiếm nước ta.
Nhưng viên tiết độ sứ Quảng Châu, mặc dầu được nhà Hậu Lương phong cho
kiêm nhiệm tiết độ sứ An Nam, cũng không dám sang nhận chức ở nước ta. Mười
năm sau (tức năm 917), tiết độ sứ Quảng Châu là Lưu Cung chống lại triều đình
trung ương, lập nước riêng ở Quảng Châu, xưng hoàng đế, đóng đô ở Phiên
Ngung, sách sử gọi là nhà Nam Hán. Bọn Lưu Cung cũng có tham vọng bành
trướng xuống phía Nam, đánh cướp nước ta, nhưng lúc ấy (năm 917 - 918 ) Nam
Hán sức còn yếu, phạm vi thế lực chỉ mới trong khu vực Quảng Đông và một
phần Quảng Tây nên vẫn phải giao hảo với ta. Lúc ấy, ở ta Khúc Hạo đã mất, con

17
Vua Nam Hán là Lưu Cung vội nắm lấy cơ hội để xâm lược nước ta, liền cho con
trai là Lưu Hoằng Thao làm Giao vương (có nghĩa là làm vua Châu Giao, tức là
làm vua nước ta), cầm đại quân theo đường biển tiến sang ta. Còn Lưu Cung đem
quân đóng tại trấn Hải Môn, gần kề biên giới nước ta để làm hậu ứng cho con,
khi cần thiết chính hắn cũng sẽ kéo quân sang nước ta.
Nhưng tình hình diễn biến rất nhanh, vượt ra ngoài ý đồ của bọn cướp nước và
tên bán nước. Quân Nam Hán chưa tới nơi thì tên phản bội Kiều Công Tiễn đã bị
ngô Quyền từ châu Ái đưa quân ra bắt và giết chết.
Sau khi trừ xong nội phản và biết quân cướp nước đang tiến tới miền ven biển
nước ta, Ngô Quyền quyết định đường lối đối ngoại của nước nhà lúc này là phải
nhanh chóng tiêu diệt giặc ngoại xâm. Biết rõ tình hình địch và sức địch, Ngô
Quyền nói với các tướng sĩ:
"Hoằng Thao là một đứa trẻ dại, đem quân từ xa đến, quân lính mỏi mệt, lại nghe
tin Công Tiên đã chết, không có người làm nội ứng, đã mất vía trước rồi; quân ta
sức còn mạnh, địch với quân mỏi mệt tất phải được. Song họ có lợi ở thuyền, nếu
ta không phòng bị trước thì chuyện được thua chưa thể biết được. Nếu ta sai
người đem cọc lớn đóng ngầm ở cửa biển trước, vót nhọn đầu mà bịt sắt, thuyền
của họ nhân khi nước triều lên tiến vào bên trong hàng cọc, bấy giờ ta sẽ dễ bề
chế ngự. Không kế gì hay hơn kế ấy” (Đại Việt sử ký toàn thư).
Sau khi định xong kế hoạch, Ngô Quyền đưa quân ra vùng cửa Bạch Đằng. ông
cùng quân và dân địa phương làm cọc “đóng ở hai bên cửa biển" (Đại Việt sử ký
toàn thư). Khi quân Hoằng Thao tới gần cửa biển của ta, Ngô Quyền theo kế
hoạch đã định, cho quân ra khiêu chiến, nhử quân giặc vào đúng trận địa để đánh.
18
Khi thuyền chiến của địch vào đúng trận địa đã phục sẵn cũng là lúc nước thủy
triều xuống, Ngô Quyền lệnh cho quân ta phản công. Trước sức phản công mạnh
mẽ của ta địch vội vàng tháo chạy. Thuyền chiến của giặc đâm vào cọc tan vỡ
gần hết. Quân Nam Hán chết đuối quá nửa. Chủ tướng giặc Hoằng Thao bị bắt
sống và bị giết tại trận. Trận đánh diễn ra trong tháng 11 năm 938. Vua Nam Hán

Tấn Vương. Nhưng nạn sứ quân cát cứ các địa phương vẫn không xóa bỏ được
mà ngày càng tăng. Trước tình hình trong nước rối ren, sợ nước ngoài xâm lược,
năm 954 Ngô Xương Văn cho sứ sang giao hảo với Nam Hán . Vua Nam Hán lúc
ấy là Lưu Thanh cho ngay sứ sang nhận ta là phiên thần, lại phong chức tiết độ sứ
cho Ngô Xương Văn, âm mưu kiếm cớ xâm nhập tiến tới chiếm đóng nước ta.
Được tin ấy, Ngô Văn Xương cho ngay người đi sang chặn sứ Nam Hán lại trước
khi tới biên giới, và dọa sứ Nam Hán rằng: giặc biển đương làm loạn, đường đi
rất khó, đừng sang mà chết! (Đại việt sử ký toàn thư). Sứ Nam Hán hoảng sợ
quay về. Mộng bành trướng của Nam Hán tới đây thật sự chấm dứt.
Ở ta, tình trạng sứ quân cát cứ kéo dài hơn 20 năm. Một trong thủ lĩnh 12 sứ quân
là Đinh Bộ Lĩnh đánh tan các sứ quân khác, thống nhất được đất nước. Đinh Bộ
Lĩnh là con của Đinh Công Trứ - một người bạn chiến đấu của Ngô Quyền, từ
thời hai người còn là tướng thân cận của Dương Đình Nghệ.
20
Năm 968, nạn cát cứ đã chấm dứt, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi vua. Khác với Ngô
Quyền, ông lập hẳn một triều đại, lên ngôi hoàng đế, xưng là Minh Hoàng đế ,
đặt mình ngang hàng với các hoàng đế Trung Quốc, sử sách gọi ông là Đinh Tiên
Hoàng (tức Đinh Tiên Hoàng đế) là gọi theo niên hiệu Tiên Hoàng đế mà người
ta đặt cho ông khi ông đã mất.
Về quan hệ ngoại giao với Trung Quốc thì từ thời Ngô đã không có. Khi Đinh Bộ
Lĩnh lên ngôi vua, quan hệ ngoại giao với Trung Quốc cũng chưa đặt ra ngay, vì
Trung Quốc chưa chấm dứt được nạn “Ngũ đại thập quốc". Ở ta, trong khi Đinh
Bộ Lĩnh tiến hành thống nhất đất nước thì Triệu Khuông Dận ở Trung Quốc cũng
nổi lên dẹp loạn "Ngũ đại thập quốc". Năm 960, Triệu Khuông Dận diệt được
nhà Hậu Chu - một triều đại cuối cùng của "Ngũ đại", nhưng còn "thập quốc".
Triệu Khuông Dận lập nên triều Tống và tiếp tục thanh toán "thập quốc”.
Đinh Tiên Hoàng lên ngôi vua được 2 năm thì năm 970 ở Trung Quốc, Tống
Thái Tổ (tức Triệu Khuông Dận) tiến quân xuống phía nam đánh Nam Hán. Năm
971, Nam Hán bị diệt. Từ đấy biên giới Tống sát với nước ta. Tống đặt quan hệ
giao hảo với ta, chưa có ý đồ gì khác, vì Trung Quốc chưa thống nhất, Tống còn

" … Nay thành triều ta, lòng nhân trùm muôn nước; cơ nghiệp thái bình kể cũng
đã thịnh, điều lễ phân phong đã sắp sửa làm, muốn ngươi đến chầu cho ta được
vui khỏe, mà ngươi khỏi cái tủi áp mặt vào góc nhà để làm rầy cho ta, khiến ta
phải dùng đến kế chặt xác băm xương, làm cỏ nước người, lúc ấy hối sao kịp. . .
Người có theo về không? Chớ rước lấy tội lỗi. Ta đương chỉnh bị xe ngựa, quân
lính, sắp sửu các thứ chiêng trống, nếu quy thuận thì ta tha cho, nếu trái lệnh thì
ta quyết đánh. Theo hay không, lành hay dữ, tự người nghĩ lấy. . . " (Đại Việt sử
ký toàn thư).
Đe dọa ngoại giao như thế này không phải là một việc làm ngẫu nhiên mà là quốc
sách của kẻ bành trướng, một bước mở đầu của chiến tranh xâm lược. Binh thư
tối cổ và tối ưu của đường lối chiến tranh xâm lược rất coi trọng biện pháp "phạt
giao" (Binh pháp Tôn Tử. Thiên thứ ba: Mưu công). "Phạt giao” có nghĩa là đánh
bằng ngoại giao, tức là dùng ngoại giao để đe dọa, nạt nộ, lừa gạt người để bắt
người phải hàng phục, phải cống nạp, phải chịu sự thống trị của mình. "Phạt
giao" thành công thì khỏi phải vũ trang xâm lược. “Phạt giao" dù không hoàn
toàn được như ý muốn thì cũng làm cho kẻ bị đe dọa phải e sợ, giảm sút tinh thần
chiến đấu, khiến kẻ xâm lược đánh cướp nước người được dễ dàng, nhanh chóng.
Nhưng nhà Tống đe dọa ta vô ích. Quân dân ta quyết không đầu hàng và sẵn sàng
trả lời họ bằng vũ lực. Lúc này trong nước, vua Đinh tuy còn nhỏ, nhưng có Thập
đạo tướng quân Lê Hoàn làm nhiếp chính, giữ chức Phó vương, trông nom mọi
việc quân việc dân. Khi được tin nhà Tống chuẩn bị ra quân xâm lược nước ta,
Thập đạo tướng quân Lê Hoàn cử tướng Phạm Cự Lạng (Có sách viết là Phạm
Cự Lưỡng) làm Đại tướng quân để điều động quân sĩ và định kế hoạch ra quân
đánh địch.
23
Trước khi lên đường dẹp giặc, Đại tướng quân Phạm Cự Lạng cùng các tướng
lĩnh quyết định làm một cuộc đảo chính vì lợi ích của nhà nước. Trong một buổi
triều đình đương họp, Phạm Cự Lạng cùng các tướng lĩnh nhung phục oai
nghiêm, đem quân tiến thẳng vào triều. Tại giữa điện đình, Phạm Cự Lạng nói
với mọi người:

rất khôn khéo và cứng rắn, nên người Tống càng e ngại, dè dặt. Họ nhìn nhận Lê
Hoàn như một nhân vật thật sự kiên cường, dũng mãnh, không biết sợ là gì, có
thể làm những việc kinh thiên động địa. Đúng là Lê Hoàn giỏi về nhiều mặt: giỏi
quân sự, giỏi nội trị, mà ngoại giao cũng rất giỏi.
Riêng về ngoại giao, trong quan hệ với nhà Tống, Lê Hoàn thực hiện một chính
sách vừa mềm dẻo vừa cứng rắn; mềm dẻo để giữ vững hòa hảo giữa hai nước,
nhưng cứng rắn để hạn chế những thái độ hống hách, nước lớn của nhà Tống.
Sau khi đánh thắng quân Tống, Lê Hoàn chủ động cho sứ sang Tống. Trong thời
gian từ năm 982 đến 985, sứ thần hai nước, ta và Tống thường qua lại, nhưng Lê
Hoàn không đả động gì đến việc trả tù binh cho Tống. Mãi tới năm 986, tức 5
25


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status