Lịch sử ngoại giao Viêt nam - Pdf 14

CHƯƠNG 2: NGOẠI GIAO VIỆT NAM VỚI CÁC NƯỚC XÃ HỘI CHỦ
NGHĨA (1945 – 1991)
1. Quan hệ ngoại giao Việt Nam – Liên Xô (1945 – 1991)
1.1. Ngoại giao Việt Nam – Liên Xô trong giai đoạn (1945 – 1954)
Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc. Tình hình thế giới hoàn toàn thay đổi
với nhịp độ ngày càng nhanh chóng. Các nước lớn trong phe Đồng minh điều
chỉnh chiến lược đối ngoại. Quan hệ giữa các nước lớn Đồng minh, trước hết là
giữa Liên Xô với Mỹ, chuyển từ hợp tác trong chiến tranh sang đấu tranh ngày
càng gay gắt trong hòa bình. Trật tự thế giới mới bắt đầu hình thành, chuyển dần
sang thế hai cực.
Liên Xô có vai trò quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế. Tuy
nhiên về đối ngoại, những năm đầu sau chiến tranh, Liên Xô đã tập trung ưu tiên
củng cố vành đai an ninh tại vùng giáp biên cương của mình, duy trì hòa hoãn với
các nước lớn để giải quyết các vấn đề do chiến tranh để lại, ưu tiên củng cố khu
vực ảnh hưởng ở phía tây, giúp đỡ cách mạng Đông Âu.
Năm 1945, khi nhân dân Việt Nam giành được chính quyền, mặc dù có đại
diện ở Hà Nội, đại diện của Liên Xô chỉ đến thảo luận với Việt Nam về những
công dân Liên Xô mà không có cuộc gặp gỡ ngoại giao chính thức nào, kể cả khi
chủ tịch Hồ Chí Minh đã có điện gửi Stalin…
Cũng phải đề cập tới, là trong những năm 40 của thế kỉ trước, Liên Xô còn
bị ràng buộc bởi “Hiệp ước Xô – Pháp” có thời hạn 20 năm kí kết vào tháng 12
năm 1944, trong đó “hai bên cam kết không can thiệp vào công việc nội bộ của
nhau”, không tham gia một liên minh nào chống lại nước kia (điều 5) nên, nếu
Liên Xô chính thức công nhận ủng hộ Việt Nam là vi phạm hiệp định.
Năm 1948, Nam Tư có công hàm chính thức đặt quan hệ ngoại giao với Việt
Nam, nhưng Việt Nam biết cách ứng xử, “giữ ý” với Liên Xô, nên đã không mở
được cửa sang phía Tây.
Không làm gì quá để Liên Xô có thể “mất lòng” , “chỉ trích” trong chủ
trương hạn chế Việt Nam giao lưu, hào nhập quốc tế, Việt Nam cũng đã khéo léo
mở ra những cánh cửa để thoát khỏi “vòng vây” từ nhiều phía.
Năm 1949, trả lời nhà báo Thái Lan Naiut Thorn Phokul, Hồ Chí Minh nói:

Liên Xô cũng dần được xác lập và củng cố. Những kết quả đó đã khẳng định sự
trưởng thành của quan hệ hai nước, tạo điều kiện cho Việt Nam hội nhập sau với
thế giới, nhân dân tiến bộ thế giới biết hơn, hiểu hơn về cuộc chiến tranh cứu nước
ở Việt Nam.
Từ năm 1950, sau chuyến thăm không chính thức của Chủ tịch Hồ Chí
Minh, Chính phủ Liên Xô và các nước dân chủ nhân dân khác đã viện trợ cho Việt
Nam 20% tổng số vật chất mà bộ đội chủ lực Việt Nam sử dụng ở chiến trường
chính Bắc Bộ từ những năm 1950 – 1954. Trong số những mặt hàng quân sự mà
Liên Xô viện trợ cho Việt Nam hầu hết là những mặt hàng chiến lược co tính dã
chiến, tiến công cao, uy lực mạnh như xe tải Môlôtôva, tiểu liên K50, pháo cao xạ
37 ly, hỏa tiễn H6, tạo nên khả năng tiến công nhanh, cơ động mạnh cho bộ đội
Việt Nam. Cũng vì lẽ đó, Việt Nam có điều kiện mở liên tiếp các chiến dịch tiến
công trên chiến trường chính Bắc Bộ, đi tới giành thắng lợi quyết định cho cuộc
kháng chiến – thắng lợi chiến dịch Điện Biên Phủ 1954.
Những năm 1953 – 1954, để tạo bầu không khí thuận lợi cho phát triển kinh
tế, chống âm mưu dây chiến của Mỹ, Liên Xô đã đưa ra sang kiến giải quyết các
tranh chấp bằng biện pháp thương lượng. “Sáng kiến” này được thực hiện ở Triều
Tiên và sau đó, theo đề nghị của Liên Xô sẽ triệu tập Hội nghị Quốc tế để bàn về
việc chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương.
Ngày 8/5/1954, Hội nghị Giơnevơ về Đông Dương chính thức được khai
mạc, Liên Xô là nước đã đưa ra sáng kiến triệu tập hội nghị. Hội nghị Giơnevơ gắn
liền với vai trò tổ chức và điều hành với tư cách là một đồng chủ tịch của Liên Xô.
Liên Xô đóng vai trò là nhân tố tích cực đưa hội nghị thoát khỏi bế tắc, thúc đẩy
việc kí kết hòa bình ở Giơnevơ. Trên cơ sở kiên định lập trường có tính nguyên tắc
là ủng hộ quan điểm của Việt Nam Dân chủ Công hòa về việc chấm dứt chiến
tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương, ủng hộ các quyền dân tộc cơ bản của Việt
Nam.
Một thực tế không thể phủ nhận, hiệp định Giơnevơ là một thắng lợi hạn
chế, chưa phản ánh đúng những thắng lợi có trên chiến trường, là “sự phản ánh
tương quan lực lượng đối sách của các bên tham chiến trên chiến trường ở Đông

Sau khi hiệp định Giơ-ne-vơ được kí kết, Việt Nam tạm thời bị chia cắt làm
hai miền, lấy vĩ tuyến 17 làm giới tuyến quân sự tạm thời và sẽ tiến hành tổng
tuyển cử sau 2 năm. Nhân dân miền Nam liên tiếp đấu tranh đòi thực thi hiệp định
Giơ-ne-vơ nhằm thống nhất nước nhà. Trong khi đó, miền Bắc bắt tay vào xây
dựng chủ nghĩa xã hội với một nền tảng kinh tế không ổn định và bị chiến tranh tàn
phá rất nặng nề, công việc đầu tiên là phải khắc phục lại hậu quả của chiến tranh.
Vì thế việc tìm một “đồng minh” có thể giúp ta có thể khắc phục hậu quả chiến
tranh và là một điểm tựa vững chắc thì rõ ràng hơn cả là Liên Xô, thành trì của phe
Xã hội Chủ nghĩa.
Liên Xô khá ủng hộ Việt Nam trên trường quốc tế. Nhờ lập trường kiên định
của Liên Xô mà lần đầu tiên Việt Nam được tham gia một hội nghị quốc tế lớn, tuy
chưa được các nước Anh, Pháp, và Mỹ công nhận về mặt ngoại giao. Ngày 4 – 5 –
1954 phái đoàn Việt Nam đến hội nghị Giơ-ne-vơ với tư cách thành viên chính
thức. 8 – 5 – 1954 hội nghi Giơ-ne-vơ họp công khai. Phái đoàn chính phủ nước
Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa do Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao
Phạm Văn Đồng dẫn đầu với tư thế người chiến thắng. Sau một thời gian đàm phán
và thương lượng, đêm 20 rạng ngày 21 – 7 – 1954 , hội nghị Giơ-ne-vơ về chấm
dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương được kí kết. Các bản hiệp định
đình chiến ở Việt Nam, Lào, CamPuChia được kí kết. Hội nghị thông qua tuyên bố
chung thừa nhận quyền độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của nhân
dân Việt Nam, Lào và Campuchia, quyết định đình chỉ chiến sự trên toàn Đông
Dương, quân đội Pháp rút khỏi các nước Đông Dương, lấy vĩ tuyến 17 làm giới
tuyến quân sự tạm thời, Việt Nam tạm thời bị chia cắt làm 2 miền, sau 2 năm sẽ
tổng tuyển cử để thống nhất đất nước. Hội nghị Giơ-ne-vơ được kí kết “tạm thời”
thành công cũng có phần đóng góp của Liên Xô, và tất nhiên phần “đóng góp” của
Liên Xô thì không thể sánh với Trung Quốc.
Ngay sau khi hiệp định Giơ-ne-vơ được kí kết, chính phủ Liên Xô đã gửi
điện mừng tới chủ tịch kiêm thủ tướng Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa là Hồ Chí
Minh . Trong giai đoạn này quan hệ giữa Bắc Việt Nam và Liên Xô khá tốt, các
chuyến thăm các cấp và đặc biệt là các chuyến thăm của chủ tịch Hồ Chí Minh

Liên Xô.
Chính vì thế, trong thời gian này Liên Xô chủ trương hòa bình tại Việt Nam
và giải pháp Giơ-ne-vơ cho việc thống nhất hai miền Nam – Bắc. Đối với Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa, Liên Xô khá tích cực trong việc giúp miền Bắc xây dựng
lại cơ sở kinh tế. Với sự giúp đỡ của Liên Xô, miền Bắc từng bước khắc phục hậu
quả chiến tranh. Biểu hiện cụ thể là Liên Xô đã giúp Việt Nam thực hiện kế hoạch
3 năm khôi phục kinh tế 1955 – 1957 và 3 năm phát triển kinh tế và văn hóa 1958
– 1960. Tháng 3 – 1959 Liên Xô cho Việt Nam vay 100 triệu Rúp để thực hiện kế
hoạch 3 năm phát triển kinh tế nói trên. Sau khi hiệp định Giơ-ne-vơ được kí kết
Liên Xô đã cử hàng loạt các chuyên gia sang Việt Nam, giúp Việt Nam khắc phục
hậu quả của chiến tranh. Công việc đầu tiên mà cần phải khắc phục đó là trong lĩnh
vực nông nghiệp, khi mà nông nghiệp đã bị tàn phá rất nặng nề trong chiến tranh
khiến cho diện tích đất bị bỏ hoang rất lớn. Nắm bắt được tình hình đó, trong năm
1954 chính phủ Liên Xô đã cử sang Việt Nam những chuyên gia nông nghiệp giàu
kinh nghiệm giúp xây dựng giáo trình và hệ thống ngành, nghề đào tạo, đồng thời
giúp Việt Nam thành lập Trường đại học đầu tiên tại miền Bắc. Liên Xô cung cấp
toàn bộ các thiết bị và cử một số đội ngũ cán bộ giảng dạy với nhiều chuyên ngành
để đào tạo công nhân cơ khí nông nghiệp tại trường công nhân cơ khí Việt – Xô,
giúp Bắc Việt Nam xây dựng các chương trình tiến bộ khoa học – kĩ thuật trong
nông nghiệp, xác định và tập trung giải quyết các vấn đề khoa học - kĩ thuật trọng
điểm của nông nghiệp Việt Nam. Chính phủ Liên Xô còn giúp Việt Nam trang bị
các phòng phân tích nông nghiệp và cử chuyên gia sang giúp Việt Nam xây dựng
bản đồ thổ nhưỡng miền Bắc giúp đánh giá đúng tài nguyên đất của Việt Nam, trên
cơ sở đó đề ra những chủ trương đúng đắn trong việc xác định các phương án phát
triển nông – lâm nghiệp của Việt Nam. Sau khi giúp Bắc Việt Nam khắc phục hậu
quả chiến tranh và đào tạo cho Việt Nam hàng loạt các chuyên gia trên lĩnh vực
nông nghiệp Liên Xô còn giúp Việt Nam mở rộng và phát triển thêm trên lĩnh vực
này. Trong những năm sau đó, Liên Xô giúp Việt Nam kĩ thuật để mở rộng sản
xuất cây công nghiệp nhiệt đới lâu năm, tổ chức các nông trường quốc doanh, các
trạm sửa chữa, xây dựng nhà máy chè và các xí nghiệp để bước đầu chế biến cà

hưởng của Liên Xô. Trung Quốc tìm cách hạn chế ảnh hưởng trong khu vực thông
qua vấn đề Việt Nam, tránh gây căng thẳng với Mỹ. Tuy nhiên trong giai đoạn này,
mâu thuẫn Xô – Trung chưa bộc lộ công khai và chưa thực sự cao trào, nên quan
hệ giữa hai nhà nước Việt – Xô vẫn giữ ở mức bình thường.
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không chỉ có mối quan hệ đặc biệt với Liên Xô
mà còn cả đối với Trung Quốc. Nhưng kể từ khi Trung Quốc thống nhất lãnh thổ
vào năm 1949 thì mối quan hệ này bắt đầu có dấu hiệu rạn nứt, tuy nhiên sự rạn
nứt đó vào thời điểm này là chưa đáng kể nhưng cũng cần phải cẩn trọng trong
cách đối xử đối với 2 quốc gia lớn trong khối Xã hội Chủ nghĩa này. Để giữ gìn
quan hệ cân bằng, đoàn kết, hữu nghị với cả Liên Xô và Trung Quốc, dưới sự chỉ
đạo của Hồ Chí Minh, Đảng, Nhà nước ta chủ trương ứng phó nhanh nhạy, mềm
dẻo với mọi biến chuyển của tình hình, đạt tới sự tế nhị và cân bằng. Và vì thế vai
trò của Hồ Chí Minh trong việc cân bằng mối quan hệ Việt Nam với Liên Xô và
Trung Quốc, các chuyến thăm những năm 1956 – 1960 do Chủ tịch Hồ Chí Minh
dẫn đầu khá là liên tục và đồng đều với cả Liên Xô, Trung Quốc: Năm 1956, thăm
chính thức Liên Xô, Trung Quốc và Mông Cổ, năm 1957, thăm 9 nước, trong đó có
Liên Xô, Trung Quốc, trong hai năm 1959-1960, hai lần thăm Trung Quốc và Liên
Xô.
Với các chuyến thăm liên tục đối với hai quốc gia lớn nhất trong khối Xã
hội Chủ nghĩa, Hồ Chí Minh đã giúp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đạt được những
lợi ích nhất định từ cả hai phía mà không làm mất lòng bên nào. Đặc biệt là đối với
Liên Xô, trong đánh giá tổng quát về viện trợ quân sự dành cho Việt Nam trong
giai đoạn này thì Liên Xô cũng chiếm một phần không nhỏ. Giai đoạn 1955 – 1960
trong tổng số 49585 tấn thì Liên Xô đóng góp 29996 tấn, trong đó Trung Quốc
chiếm 19589 tấn. Tuy nhiên, nếu chỉ nhìn vào số liệu thống kê thì Liên Xô là nước
viện trợ quân sự cho Việt Nam lớn hơn Trung Quốc, tuy nhiên số liệu trên là tính
theo đơn vị tấn, nó không phản ánh đúng thực tế sự viện trợ quân sự cần thiết của
Liên Xô cho Việt Nam, trong khi đó tuy rằng Trung Quốc viện trợ tính theo đơn vị
tấn, rõ ràng là ít hơn Liên Xô nếu tính theo số liệu. Tuy nhiên, ta có thể hiểu được
vì sao lại như thế, bản thân Liên Xô không ủng hộ Việt Nam trong việc dùng bạo

Cho tới trước khi sự kiện “Vịnh Bắc bộ” xảy ra và Mỹ đổ quan vào miền
Nam Việt Nam thì quan điểm của Liên Xô về việc giải quyết tình hình ở Việt Nam
vẫn như giai đoạn trước, vẫn là giải pháp qua thương lượng hòa bình, vẫn muốn
Việt Nam giải quyết tình hình bằng giải pháp Giơ-ne-vơ. Khi cách mạng miền
Nam chuyển từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công chủ động, phía Liên Xô đã
khuyên Việt Nam không nên giải quyết tình hình ở Việt Nam bằng vũ trang, chỉ
muốn Việt Nam tập trung sức lực xây dựng Chủ Nghĩa Xã Hội ở miền Bắc và bằng
cách đó tác động vào diễn biến của tình hình miền Nam. Vì vậy, ngày 25 – 2 –
1963, Trung ương Đảng Cộng Sản Liên Xô đã khuyên Việt Nam nên lợi dụng đề
nghị của chính quyền Kennedy về thương lượng nhằm “trung lập hóa” Việt Nam
để phục vụ cho việc củng cố vị trí của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, tạo điều
kiện thuận lợi cho cuộc đấu tranh của các lực lượng yêu nước miền Nam Việt Nam,
đồng thời giúp thủ tiêu lò lửa căng thẳng ở khu vực Đông Nam Á. Vì thế Liên Xô
vẫn giúp đỡ Việt Nam trong việc phát triển kinh tế miền Bắc, giúp miền Bắc xây
dựng những công trình trọng điểm và cho miền Bắc vay những khoản vay ưu đãi
hoặc viện trợ không hoàn lại như: 23 – 12 – 1960 Việt Nam và Liên Xô kí hiệp
định kinh tế thương mại, Liên Xô giúp Việt Nam về kinh tế và kỹ thuật trong kế
hoạch 5 năm (1961 – 1965), các bản Hiệp nghị về trao đổi hàng hóa giữa hai nước
trong giai đoạn trên và Nghị định thư trao đổi hàng hóa trong năm 1961. Trong
vòng 5 năm, kế hoạch trao đổi hàng hóa giữa hai nước sẽ tăng lên hơn gấp 2,5 lần,
trị giá 1250 triệu Rúp. Liên Xô giúp Việt Nam về kỹ thuật trong công việc xây
dựng 43 xí nghiệp công nghiệp mới và các công trình khác, trong đó có 8 nhà máy
nhiệt điện và thủy điện công suất tổng cộng khoảng 20 vạn kW, gửi chuyên gia
sang giúp đỡ về mặt kỹ thuật, xây dựng các công trình xí nghiệp về điện, chế tạo
máy móc, khai khoáng…,tiến hành thăm dò địa chất tổng hợp, tìm các loại quặng
khác nhau cũng như cung cấp cho Việt Nam các thiết bị kim khí, phân bón và các
loại hàng hóa cần thiết cho sự phát triển kinh tế quốc dân của Việt Nam. Liên Xô
cho Việt Nam vay dài hạn 430 triệu Rúp với mức lãi hàng năm là 2% và viện trợ
không hoàn lại cho Việt Nam 20 triệu Rúp để phòng chống bệnh sốt rét. Nhờ sự
giúp đỡ của Liên Xô, Việt Nam đã xây dựng và phát triển các nông trường quốc

được biểu hiện rõ nét trong bức thư của Trung ương Đảng cộng sản Liên Xô gửi
Trung ương Đảng lao động Việt Nam ngày 28 -11 – 1963 và nhất là bức thư gửi
ngày 6 – 7 – 1964. Nội dung bức thư nói rõ: “ Trong thời gian gần đây, một số
hoạt động của các đồng chí trong Trung ương Đảng lao động Việt Nam đã làm cho
chúng tôi nghi ngại và phiền lòng vì những hành động đó rõ ràng hành động đó đi
ngược lại với những tuyên bố của Đại biểu Việt Nam về tình hữu nghị Xô Việt…
một chiến dịch không thân thiện chống Liên Xô gần đây được tiến hành ngày càng
rộng rãi và tích cực tại nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa…trong các hội nghị bí
mật của Đảng và trong dân chúng đã phổ biến đủ điều bịa đặt nhằm reo rắc sự
hoài nghi đối với đất nước của Lênin, khêu lên tình cảm không đẹp đối với đất
nước của Lênin…phải chăng những sự kiện kể trên…đang gây thiệt hai lớn lao
cho mối tình hữu nghị Xô – Việt…chúng tôi mong muốn một cách chính đáng rằng
hữu nghị thì phải được đáp trả bằng hữu nghị.”
Chính trong giai đoạn này, mâu thuẫn Xô – Trung và nhân tố trung Quốc đã
trở thành trở ngại lớn cho sự phát triển quan hệ Việt – Xô. Điều này được biểu hiện
rõ rệt qua những hành động và động thái của Liên Xô đối với Việt Nam. Trong thời
gian từ 1960 – 1964, Trung ương Đảng lao động Việt Nam đã nhận được khoảng
13 lá thư và các thông báo của Ban chấp hành Trung ương và Bộ chính trị Đảng
cộng sản Liên Xô. Phần lớn những bức thư và thông báo này đều đề cập đến sự bất
đồng Xô – Trung, đề nghị hội đàm hai Đảng Xô – Việt, phàn nàn lãnh đạo và báo
chí Việt Nam phê phán lập trường của Đảng cộng sản Liên Xô, phê phán Việt Nam
có thái độ không thân thiện vớ chuyên gia Liên Xô ở Việt Nam. Các chuyến viếng
thăm của Liên Xô tới Việt Nam do Pônômarinốp, Bí thư trung ương Đảng dẫn đầu
vào tháng 2 – 1962 và đoàn do Andrôpốp, Bí thư trung ương Đảng dẫn đầu vào
tháng 1 – 1963, đều nhằm lôi kéo tranh thủ Việt Nam. Trong lá thư gửi Trung ương
đảng Lao động Việt Nam ngày 6 – 7 – 1964, Trung ương đảng cộng sản Liên Xô
đã đề nghị Trung ương đảng Lao động Việt Nam phải “thay đổi lập trường”.
Trong bối cảnh bất đồng Xô-Trung bộc lộ công khai, Liên Xô quan tâm nhiều hơn
đến việc tranh thủ các nước lớn khác trong khu vực như Inđônêxia, Ấn Độ, nhằm
tranh giành ảnh hưởng với Mỹ và Trung Quốc. Tuy nhiên, Liên Xô đã không cắt

của mình, thậm chí có lúc còn lôi kéo và gây sức ép. Trước tình thế không mấy dễ
dàng này, Hồ Chí Minh chủ trương giải quyết quan hệ Việt – Xô - Trung trên quan
điểm độc lập, tự chủ, chống khuynh hướng áp đặt; kiên định lập trường đoàn kết
với cả hai nước. Cách thức đạt mục tiêu được Hồ Chí Minh xác định rõ: Sách lược
hết sức mềm dẻo, “làm việc phải thật khôn khéo, thận trọng”, "nguyên tắc của ta
thì phải vững chắc, nhưng sách lược của ta thì phải linh hoạt", chú trọng phát huy,
thúc đẩy mặt tích cực trong chính sách đối ngoại của Liên Xô, Trung Quốc. Thuyết
phục, vận động, hướng việc đoàn kết song phương Việt- Xô, Việt - Trung “trên nền
tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, có lý, có tình”, trên nền
tảng chính nghĩa của cuộc chiến đấu vì độc lập, tự do của nhân dân Việt Nam. Với
phương châm “chưa hiểu thì chưa nên bầy tỏ thái độ” của Hồ Chí Minh, suốt thời
kỳ mâu thuẫn Xô – Trung diễn ra gay gắt, trên các phương diện chính thống, Đảng
và Nhà nước ta đã không bàn luận, không bày tỏ thái độ đồng tình hay phản đối
cuộc đấu tranh nội bộ trong Đảng Cộng sản Liên Xô , hay đối với Cách mạng văn
hóa của Trung Quốc, cũng như không tham gia các cuộc tranh luận công khai giữa
hai bên, tránh gây ra những hiểu lầm không cần thiết. Những năm 1960-1964, khi
Trung Quốc thường xuyên nêu vấn đề “chống chủ nghĩa xét lại”, “tách khỏi Liên
Xô”, còn Ban lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô liên tiếp gửi thông điệp đề cập đến
bất đồng Xô – Trung, đề nghị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam phải thay đổi
lập trường với Trung Quốc, thì Hồ Chí Minh vẫn luôn mềm mỏng và kiên định giải
thích: “Đảng chúng tôi luôn luôn giáo dục cho cán bộ, đảng viên và cho quần
chúng nhân dân lòng yêu nước chân chính và chủ nghĩa quốc tế vô sản, luôn luôn
tăng cường đoàn kết hữu nghị với Liên Xô, nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và các
nước anh em khác, đồng thời, khi lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta trao đổi và thông báo
về các vấn đề lớn của cách mạng Việt Nam với lãnh đạo Liên Xô, thì cũng đồng
thời thông báo, trao đổi với lãnh đạo Trung Quốc.
Một cách tổng quát, trong xử lý quan hệ với Liên Xô, Trung Quốc, Hồ Chí
Minh đã kết hợp hài hoà giữa mềm dẻo và kiên quyết, giữa cương và nhu, giữa
chiến lược và sách lược, giữa chủ động và sáng tạo, vô cùng linh hoạt trên cơ sở
giữ vững nguyên tắc, từ đó nhận biết, nắm bắt thời điểm để xử lý thành công quan hệ

Nam Dân chủ Cộng hòa do đồng chí Lê Duẩn dẫn đầu. Tuyên bố chung nhấn
mạnh:
“Nếu Hoa Kỳ tăng cường xâm lược chống Việt Nam, trong trường hợp cần thiết và
nếu Việt Nam yêu cầu, chính phủ Liên Xô sẵn sàng cho phép những công dân xô
viết có nguyện vọng đến Việt Nam theo tinh thần quốc tế vô sản để chiến đấu vì sự
nghiệp chính nghĩa của nhân dân Việt Nam, bảo vệ những thành quả xã hội chủ
nghĩa của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.”
Một nguyên nhân quan trọng khác là Liên Xô đã thay đổi cách nhìn về Việt
Nam, coi Việt Nam là trung tâm trong nền chính trị quốc tế, có liên quan trực tiếp
tới đối thủ chính của Liên Xô là Mỹ và đối thủ chính của Liên Xô trong phong trào
cách mạng là Trung Quốc. Vì những lý do đó, Liên Xô đã cố gắng kiểm soát từ nội
dung, giải pháp đến cách tiến hành chiến tranh của Việt Nam.
Sau sự kiện “Vịnh Bắc bộ” trong tháng 8 - 1964và đặc biệt là việc Mỹ tiến
hành leo thang chiến tranh ở Việt Nam và tiến hành đổ bộ quan viễn chinh Mỹ vào
chiến trường miền Nam Việt Nam, quan trọng nhất là sự thay đổi trong ban lãnh
đạo của Liên Xô. Liên Xô nhận ra rằng việc giải quyết vấn đề Việt Nam thông qua
biện pháp hòa bình là không khả thi và việc đối đầu quân sự giữa Việt Nam Dân
Chủ Cộng Hòa với Mỹ là việc hiển thị ngay trước mắt, vấn đề chỉ là vấn đề thời
gian. Và Liên Xô với tư cách là thành trì của khối Xã Hội Chủ Nghĩa thì không thể
làm ngơ trước sự an nguy của Việt Nam, quan trọng hơn cả là Liên Xô sợ Bắc Việt
Nam ngả theo phía Trung Quốc khi mà mâu thuẫn Xô – Trung đang lên cao, nếu sự
ảnh hưởng của Liên Xô với Việt Nam bị Trung Quốc lấn át thì tầm ảnh hưởng
trong khu vực Đông Nam Á của Liên Xô sẽ bị ảnh hưởng rất lớn, mà Liên Xô thì
không muốn như thế. Một điều quan trọng nữa là Liên Xô muốn thử nghiệm sự đối
đầu giữa vũ khí quân sự của mình đối với Mỹ, và đây cũng là cơ hội để họ thu
nhập những thông tin về các loại vũ khí mới nhất của Mỹ. Trên cơ sở dữ liệu thu
thập được, Liên Xô điều chỉnh các loại vũ khí của mình cho phù hợp với các trang
thiết bị của Mỹ.
Sau chuyến thăm Việt Nam tháng 2 – 1965 của Chủ tịch Côxưghin , Liên Xô
đã cam kết củng cố giúp đỡ Việt Nam trên các lĩnh vực quân sự. Những chuyến

Xô chỉ gia tăng sau khi Hoa Kỳ leo thang sự tham gia bằng cách này hay cách
khác, như họ đã làm hồi tháng 2 năm 1965 bằng cách tấn công vào Bắc Việt Nam.
Và Việt Nam dường cuộc thử lửa cho những mưu toán cá nhân giữa Liên Xô,
Trung Quốc và Mỹ.
1.3. Ngoại giao Việt Nam – Liên Xô từ 1965 – 1975
Trong giai đoạn này quan hệ giữa Việt Nam và Liên Xô ấm lên trông thấy
nhờ những thay đổi về chính sách ngoại giao từ cả hai phía. Sở dĩ có thể đưa ra
nhận định rằng, trong những năm 1965-1975, quan hệ Việt Nam – Liên Xô có
những biến đổi rõ rệt, theo chiều hướng tích cực là bởi dựa trên kết quả của việc so
sánh quan hệ Việt Nam – Liên Xô trong những năm 1965-1975 với giai đoạn trước
đó – từ khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao tới trước năm 1965.
Quan hệ Việt Nam – Liên Xô trong những năm 1950-1965 nổi lên hai xu
hướng chính:
Xu hướng tích cực
Xu hướng này thể hiện ở hai điểm chủ yếu:
Thứ nhất, trong thời kỳ 1950-1954, Liên Xô triển khai nhiều hoạt động hỗ
trợ cuộc đấu tranh vì độc lập của nhân dân Việt Nam về mặt vật chất và tinh thần,
tạo điều kiện choViệt Nam đẩy nhanh cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đi
đến kết thúc.
Thứ hai, từ năm 1954-1965, mặt tích cực trong quan hệ Việt Nam – Liên Xô
được đánh giá thông qua chủ trương ủng hộ việc khôi phục, xây dựng miền Bắc
với sự viện trợ vật chất to lớn (viện trợ không hoàn lại, cho vay các khoản ưu đãi
và vay dài hạn; giúp Việt Nam chuyên gia, thiết bị và kỹ thuật trong các kế hoạch
kinh tế 1954-1957, 1957-1960, 1961-1965…).
Xu hướng tiêu cực
Xu hướng này nổi trội và là kết quả của những tính toán chiến lược của Liên
Xô trong bối cảnh thế giới diễn biến đầy phức tạp, chịu sự tác động mạnh mẽ của
lợi ích Liên Xô và Mỹ. Xu hướng này được biểu hiện cụ thể như sau:
Thứ nhất, Liên Xô vẫn chưa coi trọng quan hệ với Việt Nam như với một số
nước châu Á khác (Ấn Độ, Miến Điện, Inđônêxia…). Liên Xô tích cực giúp đỡ các

trên những mặt sau:
Ủng hộ về mặt chính trị
Từ năm 1965 trở đi, Liên Xô tăng cường quan hệ hữu nghị, hợp tác chặt chẽ
với Việt Nam, dành cho Việt Nam sự ủng hộ to lớn và toàn diện. Đảng và Nhà
nước Liên Xô khẳng định lại vai trò “đồng Chủ tịch Hội nghị Giơneve” về Đông
Dương. Tháng 1/1965, Liên Xô chấp thuận cho Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền
Nam Việt Nam đặt đại diện thường trú tại Liên Xô. Tháng 2/1965, Đoàn đại biểu
Liên bang Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Xô – viết do Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng
Liên Xô A.N.Côxưghin dẫn đầu thăm chính thức Việt Nam. Trong cuộc gặp gỡ,
Liên Xô và Việt Nam cũng nhất trí về những biện pháp nhằm củng cố khả năng
phòng thủ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Quan điểm này của Liên Xô được đưa
ra đúng vào thời điểm Mỹ bắt đầu ném bom dữ dội miền Bắc Việt Nam. Do vậy, nó
đã góp phần cổ vũ nhân dân Việt Nam và củng cố hơn nữa quan hệ hai nước. Sau
chuyến thăm Việt Nam, Thủ tướng A.N. Côxưgin đã ghé qua Bắc Kinh trên đường
về nước, gặp Thủ tướng Chu Ân Lai và nêu vấn đề “thống nhất hành động ủng hộ
Việt Nam”. Kể từ thời điểm này, mối quan hệ Việt Nam – Liên Xô bước vào một
giai đoạn phát triển mới về chất. Hàng loạt các chuyến thăm viếng ngoại giao giữa
hai nước đã chứng minh nhận định trên. Theo thống kê, từ năm 1965-1975, giữa
Việt Nam và Liên Xô đã có “51 cuộc gặp gỡ cấp cao từ uỷ viên Bộ Chính trị trở
lên”4. Các cuộc hội đàm nhằm mục đích thống nhất nhận thức và đảm bảo cho lợi
ích của từng nước, cũng như lợi ích chung.
Ngày 17-8-1966, tại Liên Xô, 6.000 đại biểu nhân dân Thủ đô Matxcơva đã
họp mít tinh, nhiệt liệt hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh chống
Mỹ. Đại hội XXIII Đảng Cộng sản Liên Xô (1966) được tổ chức trùng vào thời
điểm Mỹ đánh phá ác liệt, mở rộng “chiến tranh cục bộ” trên toàn bộ chiến trường
miền Nam. Đại hội đã giao trọng trách cho Đảng Cộng sản Liên Xô và Chính phủ
Xô-viết “làm tất cả những gì có khả năng để chấm dứt sự xâm lược của Mỹ tại Việt
Nam, để quân đội Mỹ và quân đội nước ngoài rút khỏi miền Nam Việt Nam, tạo
điều kiện cho nhân dân Việt Nam tự giải quyết công việc nội bộ của mình”5. Năm
1969, khi Chính phủ Cách mạng lâm thời ở miền Nam Việt Nam được thành lập


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status