Lược sử ngoại giao Việt Nam các thời trước - Pdf 42

Tên sách: Lược sử ngoại giao Việt Nam các thời trước
Tác giả: Nguyễn Lương Bích
Nhà xuất bản: Quân đội nhân dân
Năm xuất bản: 1996
LỜI GIỚI THIỆU
Hoạt động ngoại giao là một bộ phận quan trọng của đấu tranh dựng nước, giữ nước lâu
dài và anh dũng của dân tộc Việt Nam. Tìm hiểu hoạt động đó trong sự phát triển phong
phú qua các thời kì lịch sử để rút ra những bài học kinh nghiệm cần thiết có thể vận dụng
kết quả cho hiện tại đó là một việc làm vừa có ý nghĩa khoa học, vừa có ý nghĩa thực tiễn.
Tiếc rằng cho tới nay vẫn chưa có một công trình giới thiệu một cách có hệ thống và tương
đối toàn diện họat động ngoại giao Việt Nam trong tiến trình lịch sử, kể cả một giáo trình
về lịch sử ngoại giao nước ta để giảng dạy cho sinh viên ở Học viện Quan hệ quốc tế cũng
mớỉ bắt đầu được xây dựng.
Với “Lược sử ngoại giao Việt Nam các thời trước”, nhà sử học Nguyễn Lương Bích đã
đáp ứng nguyện vọng chính đáng của nhân dân ta muốn tìm hiểu lịch sử dân tộc nói chung,
lịch sử ngoại giao của dân tộc nói riêng.
Trên cơ sở khai thác nhiều nguồn tư liệu gốc về lịch sử cổ - trung đại Việt Nam và Trung
Quốc, nhà sử học Nguyễn Lương Bích vốn là chuyên gia có nhiều công trình nghiên cứu
giá trị về thời kì lịch sử này, đã giới thiệu khá cụ thể hoạt động ngoại giao của Việt Nam
qua các thời kỳ lịch sử, từ những ngày đầu các vua Hùng lập quốc đến khi thực dân Pháp
phát động chiến tranh xâm lược và hoàn thành đánh chiếm Việt Nam vào cuối thê' kỉ XIX.
Thông qua các câu chuyện kể sinh động về những con người và những việc làm cụ thể,
người đọc ngày nay có điều kiện và cơ hội nhận rõ tâm lực, tài trí, bản lĩnh rất đáng tự hào
của cha ông xưa. Cũng qua đó nhận thức sâu sắc hơn về truyền thống tốt đẹp của ngoại
giao Việt Nam, một truyền thống được định hình ngay từ buổi đầu dựng nước, ngày càng
củng cố và phát triển, để đến khi bắt gặp ánh sáng của cách mạng thì càng có điều kiện
phát huy tất cả sức mạnh và hiệu qủa. Cơ sở vững bền của truyền thống ngoại giao Việt
Nam là tình yêu đất nước, ý chí độc lập, tinh thần dân chủ, nguyện vọng hòa bình và hữu
nghị, những giá trị tinh thần vĩnh hằng mà dân tộc ta luôn luôn gắn bó và phát huy.
Công trình “Lược sử ngoại giao Việt Nam các thời trước" được nhà sử học Nguyễn
Lương Bích hoàn thành từ lâu, sau đó ông bị bệnh nặng rồi từ trần nên không có điều kiện

bộ của ta đã qua hai lần thông dịch mới tới được Trung Quốc. Điều đó cho thấy sứ bộ ta đã
tiếp xúc ngoại giao với nhiều dân tộc khác trên con đường tới Trung Quốc. Trong điều
kiện đường đất xa xôi, cách trở như vậy, mà sứ bộ của ta đã kỳ công đem tặng vua Nghiêu
(Trung Quốc) một con rùa rất lớn. Theo sử Trung Quốc thì con rùa này đã sống một nghìn
năm, trên mai rùa có khắc chữ, ghi sự việc từ khi trời đất mới mở mang. Ở phương Đông,
từ thời cổ, rùa là biểu tượng của sự sống trường tồn hàng nghìn, vạn năm. Về ngoại giao,
Nhà nước ta thời vua Hùng tặng Nhà nước Trung Quốc thời vua Nghiêu con rùa quý này
với một ý nghĩa tốt đẹp, mong muốn cho quan hệ thân thiện giữa hai nước được bền vững,
dài lâu.
Hơn một nghìn năm sau, Việt Nam và Trung Quốc vẫn xa nhau hàng vạn dặm, nhưng một
sứ bộ ngoại giao của ta lại sang thăm Trung Quốc lần thứ hai (vào năm thứ 6 đời vua
Thành Vương nhà Chu) tức năm 1110 trước Công nguyên. Theo sử Trung Quốc, qua ba
lần thông dịch, sứ bộ của ta mới tới kinh đô nhà Chu ở vùng Cam Túc. Sứ bộ ngoại giao ta
đem tặng vua nhà Chu Trung Quốc chim trĩ trắng là loại chim quý nhất ở phương Nam thời
ấy. Nhà Chu Trung Quốc trân trọng đáp lại, cho làm năm cỗ xe có kim chỉ nam để đưa sứ
bộ ngoại giao ta về nước (Những tư liệu về ngoại giao này đều có ghi chép trong các sử
sách của Trung Quốc thời trước, như: Sử ký Tư Mã Thiên, Thượng thư đại truyện, Hậu
Hán thư, Thiếu vi thống gián, Phương dư kỉ yếu, Việt kiệu thư, Cương mục tiền biên, Ngự
phê thông giám tập lãm.
2
Dựa theo truyền thuyết và theo sử sách của Trung Quốc, các sử gia Việt Nam cũng ñaõ
ghi lại những sự kiện trên trong: Lĩnh nam trích quái, Việt sử lược, Đại Việt sử ký toàn
thư, Việt sử thông giám cương mục, Việt sử thông giám khảo lược)
Những sự tiếp xúc đối ngoại của dân tộc ta mà sử sách Trung Quốc ghi lại được chứng
minh rằng dân tộc ta đã dựng nước sớm, tiến hành ngoại giao cũng sớm và rất chủ động
trong ngoại giao. Với những dân tộc ở xa như Trung Quốc thời ấy, dân tộc ta cũng chủ
động cho sứ tới giao thiệp, không ngoài mục đích tỏ tình thân thiện giữa hai dân tộc. Phong
cách ngoại giao của ta thời Hùng Vương còn cho thấy dân tộc ta là một dân tộc sớm có văn
hiến, hiểu biết được những biểu tượng cao đẹp của tình cảm con người với con người, của
dân tộc này với dân tộc khác và biết sử dụng những biểu tượng đó làm quà tặng trong giao

lược diễn ra liên tục trong hơn mười thế kỷ.
Cuối thế kỷ thứ III trước Công nguyên, ông vua bạo ngược Tần Thủy Hoàng của Trung
3
Quốc đã cho 50 vạn quân chia 5 đường đánh vào vùng lãnh thổ phía Bắc nước ta. Tổ tiên
chúng ta cùng các dân tộc anh em từ phía nam sông Trường Giang trở xuống đã đánh trả
rất quyết liệt. Quân Tần bị thất bại liên tiếp "Thây phơi, huyết chảy hàng mấy chục vạn
người" (Sử kí Tư Mã Thiên). Chủ tướng giặc là Đồ Thư bị giết tại trận. Sau đó nhà Tần
nhiều lần đưa thêm quân sang, tiếp tục xâm lược nước ta cho bằng được.
Sau hơn 10 năm đánh phá dã man, ác liệt, nhà Tần đã chiếm được một vùng đất đai rộng
lớn ở phía Bắc nước ta, chia đặt thành ba quận: Nam Hải, Quế Lâm và Tượng (tức miền
Quảng Đông, Quảng Tây của Trung Quốc ngày nay).
Sang hai thế kỉ cuối trước Công nguyên, các đế chế Tần, Hán tiếp tục xâm lược và đặt ách
đô hộ lên toàn bộ nước ta. Quân đô hộ chia vùng mới thôn tính thành bảy quận, gồm bốn
quận ở phía bắc, là Nam Hải, Uất Lâm, Thương Ngô, Hợp Phố (tức là hai tỉnh Quảng
Đông, Quảng Tây ngày nay) và ba quận ở phía nam là quận Giao Chi (tức khu vực Bắc Bộ
nước ta ngày nay), quận Cửu Chân là miền Thanh - Nghệ - Tĩnh và quận Nhật Nam là từ
dãy Hoành Sơn trở vào.
Ngay từ khi quân nước ngoài bắt đầu xâm lược nước ta tới khi chúng đặt ách đô hộ, nhân
dân ta đã liên tiếp nổi dậy chống lại ách đô hộ của chúng khiến quân giặc phải tổn thất
nặng nề. Chúng phải luôn luôn đưa quân sang đàn áp các phong trào cứu nước của ta. Sánh
của Trung Quốc thời bấy giờ phải ghi nhận rằng “Quân lính miền Kinh Sở phải mệt mỏi vì
Âu Lạc” (Viên Khoan: Diêm thiết luận). Âu Lạc là tên nước ta thời An Dương Vương (từ
thế kỷ thứ III trước Công nguyên). Kinh Sở là miền Hồ Bắc, Hồ Nam của Trung Quốc
ngày nay.
Từ những thế kỷ đâu Công nguyên, phong trào chống ngoại xâm, cứu nước của nhân dân
ta ngày càng sôi nổi. Các hoạt động vũ trang chống ngoại xâm, cứu nước diễn ra khắp nơi.
Có phong trào ở miền ngược, có phong trào ở miền xuôi, có phong trào do nam cầm đầu,
có phong trào do nữ lãnh đạo.
Những năm đầu Công nguyên, hai vị nữ anh hùng dân tộc là Hai Bà Trưng (Trưng Trắc,
Trưng Nhị) đã liên kết được phong trào yêu nước của nhiều địa phương, tạo thành một

Sang thế kỷ thứ VII, thứ VIII, cuộc chiến đấu giữa nhân dân ta và các thế lực phong kiến
Trung Quốc đô hộ càng quyết liệt hơn. Bọn đô hộ lúc ấy là tập đoàn thống trị nhà Đường -
một trong những tập đoàn bành trướng hiếu chiến bậc nhất trong lịch sử Trung Quốc.
Chúng phát động chiến tranh xâm lược liên miên, đánh chiếm đất đai của hầu hết các dân
tộc láng giềng ở khắp bốn phía. Phía đông, chúng đánh chiếm nước Triều Tiên, gọi Triều
Tiên là An Đông đô hộ phủ. Phía tây, chúng đánh chiếm Tây Tạng, gọi Tây Tạng là An
Tây đô hộ phủ. Phía bắc, chúng đánh chiếm lãnh thổ của các dân tộc Mông Cổ, Đột Quyết,
Uy Gua, lập thành An Bắc đô hộ phủ. Phía nam, bọn vua chúa hiếu chiến nhà Đường đánh
chiếm nước ta và gọi ta là An Nam đô hộ phủ. "An" có nghĩa "dẹp yên". An Nam, An
Đông, An Tây, An Bắc, có nghĩa là dẹp yên phía Nam, phía Đông, phía Tây, phía Bắc. Tên
“An Nam” mà người nước ngoài trước đây dùng gọi có từ khi nhà Đường xâm lược, thôn
tính nước ta.
Chống lại một tập đoàn thống trị bành trướng, hiếu chiến cuồng bạo là rất khó khăn. Vậy
mà nhân dân ta vẫn luôn luôn khởi nghĩa. Trong thế kỷ thứ VII có các phong trào khởi
nghĩa do Lý Tự Tiên, Đinh Kiến lãnh đạo. Sang thế kỷ thứ VIII xuất hiện một phong trào
cứu nước lớn mạnh do Mai Thúc Loan lãnh đạo. Mai Thúc Loan là người anh hùng xuất
thân cùng khổ, nhưng anh dũng kiên cường và rất mực thông minh, tài trí. Đường lối,
phương châm tổ chức và lãnh đạo chiến đấu của Mai Thúc Loan có nhiều điểm khác với
các phong trào đã có từ trước. Nhân dân vùng Hoan - Diễn (tức vùng Nghệ - Tĩnh) là quê
hương Mai Thúc Loan đã có thơ ca ngợi người anh hùng họ Mai là:
"Anh hùng độc đáo
Thiên cổ lạ kỳ
5
Ngàn năm ít thấy
Vạn đại vẫn còn...”
Nhân dân đã nhận định rất đúng. Ở người anh hùng áo vải Mai Thúc Loan có rất nhiều
điểm độc đáo. Trước khi phất cờ khởi nghĩa, ông tập hợp một số bạn chiến đấu, cùng họ lo
xây dựng căn cứ địa, dựng thành đắp lũy và truyền hịch cứu nước đi khắp vùng Hoan -
Diễn. Người yêu nước ơû khắp nơi theo về ngày càng đông. Theo sách sử Trung Quốc và
truyền thuyết của ta thì mùa hè năm Quý Sửu (năm 713) (Tân Đường thư (sách sử Trung

tranh chống xâm lược của dân tộc ta cách đây hơn một nghìn năm. Đó cũng là điểm rất cao
quý trong tài năng chỉ đạo chiến tranh của Mai Thúc Loan, người anh hùng dân tộc trẻ tuổi
của dân tộc ta, tuy xuất thân từ lớp người cùng khổ, lam lũ, nhưng tầm mắt chính trị , quân
sự và ngoại giao sâu rộng hơn người, biết kết hợp chặt chẽ chính trị, quân sự với ngoại
giao để đánh thắng giặc.
6
Do chỗ tập hợp được quân dân 32 châu và quân đội của hai nước láng giềng nên lực lượng
quân sự của Mai Đại Đế rất lớn mạnh. Sử nhà Đường ghi rằng quân ta lúc ấy có tới 40 vạn
người. Lực lượng nghĩa quân hùng hậu như vậy đã nhanh chóng quét sạch quân xâm lược
ra khỏi đất nước. Mai Đại Đế thiết lập chính quyền độc lập của ta được trên 10 năm thì
ông bị bệnh chết. Đây là một thiệt thòi lớn cho công cuộc chống ngoại xâm của đất nước ta
lúc bấy giờ.
Mặc dầu Mai Thúc Loan mất, nhưng phong trào đánh giặc cứu nước của ta không giảm
sút. Quân nhà Đường lại sang đô hộ thì một tướng của Mai Đại Đế là Phùng Hạp Khanh
tiếp tục sự nghiệp cứu nước của những anh hùng đi trước. Phùng Hạp Khanh về quê nhà ở
Đường Lâm (thuộc ngoại thành Hà Nội ngày nay) xây dựng căn cứ, chuẩn bị lực lượng
khởi nghĩa. Ông chưa kịp ra quân thì chết. Ba con trai ông, đứng đầu là Phùng Hưng cùng
nối chí cha.
Năm 769, người Côn Lôn, tức người bán đảo Mã Lai và người Chà Và, tức người đảo Ja-
va thuộc In-đô-nê-xi-a ngày nay, cùng đưa quân vào đánh lực lượng đô hộ nhà Đường trên
đất nước ta. Họ đánh vào tới sào huyệt của bọn đô hộ tại Tống Bình (tức Hà Nội ngày
nay). Được sự giúp sức cùng chiến đấu của hai đạo quân nước ngoài, nghĩa quân Phùng
Hưng phất cờ khởi nghĩa, chiếm giữ châu Đường Lâm và các châu huyện xung quanh
(gồm vùng Hà Nội bây giờ), xóa bỏ chính quyền địch xây dựng chính quyền độc lập của
ta, lập căn cứ tiến tới thành lập khu giải phóng, bước đầu dựng nền độc lập trên một phần
đất nước. Trước tình hình chính quyền đô hộ có nguy cơ bị sụp đổ, vua chúa nhà Đường
phải cho quân sang cứu viện. Lúc này quân đội của người Côn Lôn và người Chà Và đã rút
về nhưng binh tướng nhà Đường không sao tiến quân vào khu giải phóng của nghĩa quân
Đường Lâm.
Tuy vậy, Phùng Hưng và các tướng lĩnh nghĩa quân cũng biết sức giặc còn mạnh, chưa thể

miền biên cương ngày càng khó khăn, các tiết độ sứ dần dần nắm cả mọi quyền hành
chính, tài chính, nghiễm nhiên trở thành những ông vua thật sự ở miền biên cương, thay
mặt triều đình nhà Đường giải quyết tất cả mọi việc ở địa phương. Có những tiết độ sứ
tách khỏi quyền chi phối của triều đình nhà Đường, biệt lập thành một giang sơn riêng. chỉ
thỉnh thoảng mới triều cống vua Đường. Họ tự truyền chức cho nhau, cha truyền cho con
hoặc anh truyền cho em, gọi là quyền "Lưu hậu”, vua Đường đành chịu. Họ tự tuyên bố
quan lại văn võ, tự định đoạt mọi việc quân, việc dân ở địa phương không cần thỉnh thị
triều đình, vua Đường cũng đành chịu.
Tĩnh hải quân tiết độ sứ của nhà Đường đặt ở nước ta cũng có quyền hành lớn như vậy,
nhưng hoàn toàn bất lực, vì phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của người Việt Nam
ngày càng lên cao.
Cuối thế kỷ thứ IX, những binh lính người Việt dưới quyền tiết chế của tiết độ sứ nhà
Đường đã nổi lên làm một cuộc binh biến rất lớn, đánh đuổi tiết độ sứ cùng toàn bộ quan
lại, quân sĩ của chúng về nước. Cả nước sạch bóng quân xâm lược. Một người anh hùng
dân tộc là Khúc Thừa Dụ lên cầm quyền trị nước, chấm dứt ách thống trị của bọn xâm lược
nhà Đường.
Về đối nội, nhân dân ta từ đây tự tổ chức lấy chính quyền độc lập của mình. Về đối ngoại,
Khúc Thừa Dụ thi hành một chính sách mềm dẻo nhằm ngăn chặn nhà Đường mưu đồ tái
chiếm nước ta, để ta rảnh tay xây dựng đất nước. Do đấy, Khúc Thừa Dụ tự nhận mình là
tiết độ sứ, thay mặt nhà Đường cầm quyền ở Việt Nam. Với phương thức đối ngoại này
của Khúc Thừa Dụ, quan hệ giữa nước ta và nhà Đường tưởng như không có gì khác trước,
nhưng về căn bản rất khác. Khác ở chỗ người Việt Nam tự cai trị người Việt Nam, nước
Việt Nam hoàn toàn tự chủ. Tự nhận mình là tiết độ sứ, Khúc Thừa Dụ một mặt buộc triều
đình nhà Đường phải chấp nhận, vì nhà Đường lúc này tổ chức được một cuộc hành quân
mới để xâm lược nước ta cũng rất khó, nên ưng thuận để không mất thể diện; mặt khác ta
ngăn chặn được các tiết độ sứ ở miền biên cương gần nước ta không thể lợi dụng thời cơ
lấy danh nghĩa nhà Đường để đánh phá ta, vì ta vẫn nhận thần phục nhà Đường.
Chủ trương ngoại giao hòa hoãn, mềm dẻo của Khúc Thừa Dụ tạo điều kiện cho nhân dân
ta và họ Khúc giữ vững chủ quyền dân tộc trong khoảng nửa thế kỷ. Nhưng không phải vì
thế mà giặc ngoài đã chịu từ bỏ dã tâm xâm lược của chúng.

La (tức Hà Nội bây giờ).
Quân địch cùng chủ tướng Trần Bảo sang tới nơi, định vây thành Đại La thì bị quân ta
đánh tập kích rất mạnh. Toàn bộ quân giặc bị tiêu diệt, Trần Bảo chết tại trận. Nam Hán
không dám tiến quân sang nữa.
Đầu năm 932, Dương Đình Nghệ lên cầm quyền trị nước. ông cũng làm theo họ Khúc, vẫn
xưng là tiết độ sứ. Sử sách không ghi rõ là tiết độ sứ của triều đình nào ở Trung Quốc
trong thời kỳ "Ngũ đại thập quốc” đó. Đây cũng chỉ là một kế sách đối ngoại mềm dẻo của
Dương Đình Nghệ, tỏ ra không cắt đứt quan hệ "phiên thần" đối với các triều đình Trung
Quốc, nhưng thật ra chẳng thuộc triều đình nào trong cái "Ngũ đại thập quốc" ấy.
Dương Đình Nghệ cầm quyền được 6 năm thì năm 937 bị một tên tướng phản bội là Kiều
Công Tiễn ám hại. Tên phản bội đê hèn này, đối nội thì giết chủ để tranh quyền tiết độ sứ,
nhưng lại sợ sức mạnh của người con rể Dương Đình Nghệ là Ngô Quyền, đương cai quản
9
châu Ái lúc đó, nên về đối ngoại Kiều Công Tiễn làm một việc nhục nhã là cho người sang
"xưng thần" với vua Nam Hán và xin Nam Hán cho quân sang cứu.
Vua Nam Hán là Lưu Cung vội nắm lấy cơ hội để xâm lược nước ta, liền cho con trai là
Lưu Hoằng Thao làm Giao vương (có nghĩa là làm vua Châu Giao, tức là làm vua nước ta),
cầm đại quân theo đường biển tiến sang ta. Còn Lưu Cung đem quân đóng tại trấn Hải
Môn, gần kề biên giới nước ta để làm hậu ứng cho con, khi cần thiết chính hắn cũng sẽ kéo
quân sang nước ta.
Nhưng tình hình diễn biến rất nhanh, vượt ra ngoài ý đồ của bọn cướp nước và tên bán
nước. Quân Nam Hán chưa tới nơi thì tên phản bội Kiều Công Tiễn đã bị ngô Quyền từ
châu Ái đưa quân ra bắt và giết chết.
Sau khi trừ xong nội phản và biết quân cướp nước đang tiến tới miền ven biển nước ta,
Ngô Quyền quyết định đường lối đối ngoại của nước nhà lúc này là phải nhanh chóng tiêu
diệt giặc ngoại xâm. Biết rõ tình hình địch và sức địch, Ngô Quyền nói với các tướng sĩ:
"Hoằng Thao là một đứa trẻ dại, đem quân từ xa đến, quân lính mỏi mệt, lại nghe tin Công
Tiên đã chết, không có người làm nội ứng, đã mất vía trước rồi; quân ta sức còn mạnh,
địch với quân mỏi mệt tất phải được. Song họ có lợi ở thuyền, nếu ta không phòng bị trước
thì chuyện được thua chưa thể biết được. Nếu ta sai người đem cọc lớn đóng ngầm ở cửa

được Ngô Quyền thu dung cho làm việc tại triều hoặc tại các địa phương.
Ngô Quyền làm vua được 6 năm thì mất. Đáng lẽ con Ngô Quyền lên nối ngôi cha. Nhưng
em vợ Ngô Quyền là Dương Tam Kha cướp ngôi vua. Một số quan lại, tướng sĩ của Ngô
Quyền không chịu, nổi lên chống lại Dương Tam Kha, mỗi người cầm quân chiếm giữ một
địa phương, lập thành giang sơn riêng, gây nên tình trạng cát cứ, trước còn ít, sau lên tới 12
sứ quân.
Dương Tam Kha làm vua được 6 năm. Tới năm 950, con của Ngô Quyền là Ngô Xương
Văn cùng một số tướng cũ của Ngô Quyền nổi lên đánh úp, bắt được Dương Tam Kha.
Năm sau (951), Ngô Xương Văn lên ngôi vua lấy hiệu là Nam Tấn Vương. Nhưng nạn sứ
quân cát cứ các địa phương vẫn không xóa bỏ được mà ngày càng tăng. Trước tình hình
trong nước rối ren, sợ nước ngoài xâm lược, năm 954 Ngô Xương Văn cho sứ sang giao
hảo với Nam Hán . Vua Nam Hán lúc ấy là Lưu Thanh cho ngay sứ sang nhận ta là phiên
thần, lại phong chức tiết độ sứ cho Ngô Xương Văn, âm mưu kiếm cớ xâm nhập tiến tới
chiếm đóng nước ta. Được tin ấy, Ngô Văn Xương cho ngay người đi sang chặn sứ Nam
Hán lại trước khi tới biên giới, và dọa sứ Nam Hán rằng: giặc biển đương làm loạn, đường
đi rất khó, đừng sang mà chết! (Đại việt sử ký toàn thư). Sứ Nam Hán hoảng sợ quay về.
Mộng bành trướng của Nam Hán tới đây thật sự chấm dứt.
Ở ta, tình trạng sứ quân cát cứ kéo dài hơn 20 năm. Một trong thủ lĩnh 12 sứ quân là Đinh
Bộ Lĩnh đánh tan các sứ quân khác, thống nhất được đất nước. Đinh Bộ Lĩnh là con của
Đinh Công Trứ - một người bạn chiến đấu của Ngô Quyền, từ thời hai người còn là tướng
thân cận của Dương Đình Nghệ.
Năm 968, nạn cát cứ đã chấm dứt, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi vua. Khác với Ngô Quyền, ông
lập hẳn một triều đại, lên ngôi hoàng đế, xưng là Minh Hoàng đế , đặt mình ngang hàng
với các hoàng đế Trung Quốc, sử sách gọi ông là Đinh Tiên Hoàng (tức Đinh Tiên Hoàng
đế) là gọi theo niên hiệu Tiên Hoàng đế mà người ta đặt cho ông khi ông đã mất.
Về quan hệ ngoại giao với Trung Quốc thì từ thời Ngô đã không có. Khi Đinh Bộ Lĩnh lên
ngôi vua, quan hệ ngoại giao với Trung Quốc cũng chưa đặt ra ngay, vì Trung Quốc chưa
chấm dứt được nạn “Ngũ đại thập quốc". Ở ta, trong khi Đinh Bộ Lĩnh tiến hành thống
nhất đất nước thì Triệu Khuông Dận ở Trung Quốc cũng nổi lên dẹp loạn "Ngũ đại thập
quốc". Năm 960, Triệu Khuông Dận diệt được nhà Hậu Chu - một triều đại cuối cùng của

Tháng 9, vua Tống cho đem thư sang hăm dọa ta, coi như một tối hậu thư. Đây là một văn
kiện ngoại giao của kẻ xâm lược mà sử sách của ta lần đâu tiên ghi lại. Đó là một văn kiện
khá dài, lời lẽ rất thô bạo, hống hách. Có những đoạn viết:
" … Nay thành triều ta, lòng nhân trùm muôn nước; cơ nghiệp thái bình kể cũng đã thịnh,
điều lễ phân phong đã sắp sửa làm, muốn ngươi đến chầu cho ta được vui khỏe, mà ngươi
khỏi cái tủi áp mặt vào góc nhà để làm rầy cho ta, khiến ta phải dùng đến kế chặt xác băm
xương, làm cỏ nước người, lúc ấy hối sao kịp. . .
Người có theo về không? Chớ rước lấy tội lỗi. Ta đương chỉnh bị xe ngựa, quân lính, sắp
sửu các thứ chiêng trống, nếu quy thuận thì ta tha cho, nếu trái lệnh thì ta quyết đánh. Theo
hay không, lành hay dữ, tự người nghĩ lấy. . . " (Đại Việt sử ký toàn thư).
12
Đe dọa ngoại giao như thế này không phải là một việc làm ngẫu nhiên mà là quốc sách của
kẻ bành trướng, một bước mở đầu của chiến tranh xâm lược. Binh thư tối cổ và tối ưu của
đường lối chiến tranh xâm lược rất coi trọng biện pháp "phạt giao" (Binh pháp Tôn Tử.
Thiên thứ ba: Mưu công). "Phạt giao” có nghĩa là đánh bằng ngoại giao, tức là dùng ngoại
giao để đe dọa, nạt nộ, lừa gạt người để bắt người phải hàng phục, phải cống nạp, phải
chịu sự thống trị của mình. "Phạt giao" thành công thì khỏi phải vũ trang xâm lược. “Phạt
giao" dù không hoàn toàn được như ý muốn thì cũng làm cho kẻ bị đe dọa phải e sợ, giảm
sút tinh thần chiến đấu, khiến kẻ xâm lược đánh cướp nước người được dễ dàng, nhanh
chóng.
Nhưng nhà Tống đe dọa ta vô ích. Quân dân ta quyết không đầu hàng và sẵn sàng trả lời họ
bằng vũ lực. Lúc này trong nước, vua Đinh tuy còn nhỏ, nhưng có Thập đạo tướng quân Lê
Hoàn làm nhiếp chính, giữ chức Phó vương, trông nom mọi việc quân việc dân. Khi được
tin nhà Tống chuẩn bị ra quân xâm lược nước ta, Thập đạo tướng quân Lê Hoàn cử tướng
Phạm Cự Lạng (Có sách viết là Phạm Cự Lưỡng) làm Đại tướng quân để điều động quân
sĩ và định kế hoạch ra quân đánh địch.
Trước khi lên đường dẹp giặc, Đại tướng quân Phạm Cự Lạng cùng các tướng lĩnh quyết
định làm một cuộc đảo chính vì lợi ích của nhà nước. Trong một buổi triều đình đương
họp, Phạm Cự Lạng cùng các tướng lĩnh nhung phục oai nghiêm, đem quân tiến thẳng vào
triều. Tại giữa điện đình, Phạm Cự Lạng nói với mọi người:

địa. Đúng là Lê Hoàn giỏi về nhiều mặt: giỏi quân sự, giỏi nội trị, mà ngoại giao cũng rất
giỏi.
Riêng về ngoại giao, trong quan hệ với nhà Tống, Lê Hoàn thực hiện một chính sách vừa
mềm dẻo vừa cứng rắn; mềm dẻo để giữ vững hòa hảo giữa hai nước, nhưng cứng rắn để
hạn chế những thái độ hống hách, nước lớn của nhà Tống.
Sau khi đánh thắng quân Tống, Lê Hoàn chủ động cho sứ sang Tống. Trong thời gian từ
năm 982 đến 985, sứ thần hai nước, ta và Tống thường qua lại, nhưng Lê Hoàn không đả
động gì đến việc trả tù binh cho Tống. Mãi tới năm 986, tức 5 năm sau khi chiến tranh kết
thúc, Lê Hoàn mới chấp nhận giải quyết vấn đề tù binh và báo cho Tống biết.
Cuối năm 986, vua Tống cho hai quan văn là Lý Nhược Chuyết và Lý Giác sang ta để nhận
tù binh và mang sắc vua Tống phong Lê Hoàn chức "Tiết độ sứ”. Sắc phong này chỉ có ý
nghĩa là nhà Tống phải chính thức thừa nhận Lê Hoàn là người cầm quyền trị nước của ta
và chịu từ bỏ mưu đồ xâm lược nước ta. Trên thực tế, Lê Hoàn vẫn là hoàng đế của một
nước độc lập, không phải tiết độ sứ của một địa phương nào của Tống.
Lê Hoàn trao trả cho Tống những binh sĩ và hai tướng Tống bị bắt tại trận là Quách Quân
Biện, Triệu Phụng Huân.
Năm sau (987), vua Tống lại cho Lý Giác sang sứ nước ta, sứ không ghi rõ là sang về việc
gì. Lý Giác là một văn thần, học vấn rộng, thơ văn giỏi. Lần này, muốn để cho sứ Tống
thấy nước ta là một nước thi thư, có văn hiến, có nhiều nhân tài, nhiều trí thức, nên Lê
Hoàn cử một nhà sư là Đỗ Thuận tham gia tiếp sứ. Thời Ngô, Đinh, Lê, Lý, các nhà sư là
tầng lớp có học thức nhiều hơn cả. Sư Đỗ Thuận giả làm một người "nhà đò" chở thuyền
đi theo đoàn thuyền lên đón sứ Tống tại chùa Sách, ở hạ lưu sông Thương (có sách nói là
sứ nhà Tống vào cửa biển Ngãi Am (Nam Định)). Đoàn sứ nhà Tống đi đường bộ từ biên
giới tới chùa Sách thì xuống thuyền đi đường thủy vào kinh thành Hoa Lư (lúc ấy chưa đặt
kinh đô tại Thăng Long).
Đoàn đón sứ của ta bố trí cho Lý Giác (trưởng đoàn sứ nhà Tống) đi trên chiếc thuyền có
nhà sư Đỗ Thuận mang danh chủ thuyền, cùng một vài quan lại của ta tham dự vào việc
thù tiếp Lý Giác trên dọc đường đi.
14
Có một buổi "nhà đò" Đỗ Thuận cầm chèo đưa thuyền đi, sứ Tống Lý Giác đứng ở mạn

(Ngỗng ngỗng, hai con ngỗng .
Ngửa mặt nhìn chân trời
Nước xanh phô lông trắng
Chèo hồng đẩy sóng xanh).
Lý Giác rất khâm phục người lái đò thông minh, uyên bác, và qua tài trí của người lái đò,
Lý Giác rất khâm phục trình độ văn hiến và tài năng của nhân dân ta. Như thế là việc nhà
sư Đỗ Thuận chèo thuyền tiếp sứ đã đạt được mục đích của Lê Hoàn.
Khi tới Hoa Lư, Lý Giác làm một bài thơ gửi tặng người lái đò thi sĩ. Trong bài thơ có câu
"Thiên ngoại hữu thiên ửng viễn chiêú” (Ngoài trời lại có trời soi nữa), có ý nói: ngoài vị
thiên tử của nhà Tống còn có vị thiên tử nữa ở Đại Việt. Sử cũ ghi rằng "Nhà sư Đỗ Thuận
đem thơ này dâng vua. Vua đưa cho nhà sư Ngô Khuông Việt xem. Khuông Việt nói: "Thơ
này có ý tôn trọng bệ hạ không khác gì vua Tống " (Đại Việt sử ký toàn thư).
Khi Lý Giác sứ Tống trở về nước, vào triều từ biệt vua ta Lê Hoàn, sử ghi "Lý Giác lạy ra
về” (Đại Việt sử ký toàn thư).
Đây là trường hợp hiếm có. Sứ thần phương Bắc sang Việt Nam, thường cậy mình là
người thay mặt thiên tử, thiên triều, coi mình như ngang hàng vua Đại Việt, nên rất ngạo
nghễ, hống hách, có khi bắt bẻ cả vua Đại Việt, nói gì đến lạy. Vậy mà sứ Tống đã lạy vua
Lê Hoàn khi ra về vì Lý Giác rất mực khâm phục và tôn quý Lê Hoàn, vị anh hùng dân tộc
vĩ đại của Đại Việt.
Năm 990, vua Tống lại cho một đoàn sứ giả sang ta, mang chiếu thư của vua Tống phong
thêm cho Lê Hoàn hai chữ “Đác tiến". Việc chỉ có thế mà nhà Tống phái một đoàn sứ giả
đi, đứng đầu là Tống Cảo chánh sứ và Vương Thế Tác phó sứ. Hai viên chánh, phó sứ này
tỏ ra ngạo mạn, hống hách. Chúng báo sang là ta phải cho thuyền sang đón chúng tại Liêu
Châu (thuộc Quảng Đông). Để giữ giao hảo giữa hai nước, Lê Hoàn cho một tướng đem
chín thuyền to và 300 quân sang Liêu Châu đón sứ.
Thuyền đón sứ đi khoảng một tháng mới tới trạm tiếp sứ của ta đặt ở gần kinh thành Hoa
Lư. Từ trạm tiếp sứ, sứ Tống nhìn ra thấy dưới sông thuyền chiến san sát, quân sĩ ta đương
chèo thuyền, đánh chiêng trống, hò reo tập trận. Bên sườn núi gần kinh thành, cờ xí, khí
giới rợp trời, quân sĩ binh phục sặc sỡ, đi lại tấp nập. Đây là một cách uy hiếp tinh thần sứ
Tống ngay khi chúng mới tới.

với ta. Sau đó, bọn Trương Quan, vệ Chiêu Tiểu lại tâu dối vua Tống là vua Lê Hoàn đã bị
mất ngôi, phải chạy ra hải đảo làm nghề cướp biển và cũng đã chết rồi. Vua Tống phải cho
người đi dò xét xem hư thực thế nào thì thấy bọn này tâu láo. Vua Tống cho đem hành tội
bọn Trương Quan, Vệ Chiêu Tiểu. Vệ Chiêu Tiểu bị xứ chém; Trương Quan sợ, phát bệnh
mà chết. Sau khi hành tội bọn này, vua Tống cho Lý Nhược Chuyết sang sứ nước ta, mang
chiếu thư và đai ngọc tặng vua Lê Hoàn "mong ta vẫn giữ quan hệ láng giềng tốt" (Đại
Việt sử ký toàn thư).
Lê Hoàn nhận chiếu thư và đai ngọc một cách bình đẳng với thiên tử nhà Tống, chứ không
làm lễ phiên thần. Lê Hoàn bảo sứ Tống là Lý Nhược Chuyết rằng:
17
"Việc cướp trấn Như Hồng là bọn giặc biển ở cõi ngoài, Hoàng đế có biết đó không phải là
quân của Giao Châu không? Nếu Giao Châu (chỉ nước ta) chống lại thì đầu tiên đánh vào
Phiên Ngung (Quảng Châu) rồi đánh đến Môn Việt (vùng Phúc Kiến) há chi đánh một trấn
Như Hồng mà thôi" (Đại Việt sử ký toàn thư).
Thời xưa, triều đình Việt Nam tiếp sứ phương Bắc ít khi nói được những điều cứng rắn
như thế.
Năm 997, theo yêu cầu của Lê Hoàn, vua mới cửa nhà Tống là Tống Chân Tông phải hạ
lệnh không cho sứ sang Việt Nam, mỗi khi có gì đưa sang Việt Nam thì chỉ cho quan đem
đến biên giới rồi báo sang ta; ta cho người lên biên giới nhận. Từ đây cho tới khi Lê Hoàn
mất, đôi khi chỉ có sứ ta sang Tống mà không có sứ Tống sang ta.
Đây là một thắng lợi ngoại giao tỏ rõ sức mạnh của dân tộc ta vào thời kỳ Lê Hoàn làm
vua và ưu thế của người Việt Nam trong quan hệ đối ngoại thời đó. Đối với nhà Tống,
quan hệ hòa hảo giữa hai nước vẫn giữ vững, nhưng chỉ mình sang nước người mà người
không được sang nước mình, chấm dứt mọi hành động hống hách, hạch sách của sứ Tống
đối với nhân dân Việt Nam.
Những thắng lợi ngoại giao của Lê Hoàn có ảnh hưởng tốt trong nhiều năm sau khi ông đã
qua đời.
Năm 1005 Lê Hoàn mất, miếu hiệu là Đại Hành Hoàng đế, sách sử thường viết là Lê Đại
Hành. Cuối năm 1005, Lê Long Đĩnh lên nối ngôi, nhưng chưa đặt quan hệ với nhà Tống
ngay, vì sau khi Lê Hoàn chết bọn vua chúa nhà Tống mưu tính đánh cướp nước ta.

địa phương phải đón tiếp sứ ta thật chu đáo và chính vua Tống cũng tiếp sứ ta rất trọng
hậu.
Năm 1028, nhà Tống lại cho quân cướp phá vùng châu Lạng. Thủ lĩnh người Tày vùng
châu Lạng là Thân Thừa Quí đem quân đánh đuổi giặc sang tận đất Tống, giết tướng Tống
và bắt nhiều quân Tống. Viên quan Tống coi Ung Châu phải cầu hòa, khi đó Thân Thừa
Quí mới rút quân về .
Năm 1034, quan lại nhà Tống dụ dỗ bọn Trần Công Vĩnh ở vùng biên giới đem 600 dân
chạy sang theo Tống. Vua Lý Thái Tổ cho hơn một nghìn quân sang đất Tống đuổi bắt.
Thấy quân ta sang, vua Tống sợ chiến tranh xảy ra, phải hạ lệnh cho quan lại địa phương
trả lại ta bọn Trần Công Vĩnh và hơn 600 dân.
Năm 1050, viên quan Tống ở Ung Châu dụ dỗ bọn tù trưởng ở châu Tô Mậu của ta đem
hơn ba nghìn dân sang với Tống và Tống cho đưa cả vào thành Ung Châu. Vua Lý Thái
Tông cương quyết đòi lại Vua Tống buộc phải cho đem trả tất cả hơn ba nghìn người mà
bọn quan lại nhà Tống đã dụ dỗ .
Năm 1059, quan lại nhà Tống lại dụ dỗ một số dân vùng châu Lạng sang Tống. Thân Thiệu
Thái là phò mã nhà Lý, cai quản vùng châu Lạng, được lệnh triều đình đưa quân lên vùng
biên giới đòi nhà Tống trả lại dân. Tướng Tống ở Ung Châu là Tống Sĩ Nghiêu đem quân
đánh sang châu Lạng, bị quân ta do Thân Thiệu Thái chỉ huy đánh cho đại bại. Tướng giặc
Tống Sĩ Nghiêu phải đem tàn quân chạy về nước. Tướng ta đưa quân vào đất Tống giết
chết Tống Sĩ Nghiêu. Triều đình Tống cho viên quan coi Quế Châu là Tiêu Cố đem quân
xuống tăng viện cho vùng Ung Châu, cùng viên quan coi Ung Châu là Tiêu Chú và các
tướng Tống ở Ung Châu phải quyết chiến, đánh lui kỳ được quân ta. Quân ta lại từ biên
giới tiến thêm sang. Cả Ung Châu náo động. Các tướng Tống phải xin thêm 3.000 quân
thiện chiến ở Kinh Hồ xuống cứu viện.
19
Thân Thiệu Thái vẫn rầm rộ tiến quân lên Ung Châu, bắt sống tại trận viên chỉ huy quân
Tống là Dương Bảo Tài và nhiều quân giặc, trâu, ngựa...
Triều đình Tống hoảng sợ, Vua Tống cách chức hai viên quan coi Quế Châu và Ung Châu
là Tiêu Cố và Tiêu Chú, cho một viên triều thần là Dư Tĩnh làm an phủ sứ đem thêm quân
xuống Ung Châu cùng các tướng Tống tại đây lo tính việc bảo vệ Ung Châu. Vua Lý cho

được ý đồ xâm lược của Tống.
Trong khi quan hệ với nhà Tống ở phương Bắc căng thẳng như vậy thì ở phương Nam
quan hệ giữa nhà Lý với Chiêm Thành thuận lợi hơn. Nhà Lý không đánh thuế vải trắng
mà thương nhân Chiêm Thành đưa vào buôn bán ở nước ta. Bởi vậy quan hệ giữa ta và
20
Chiêm Thành ngày càng thân thiện. Vua Chiêm Thành cho sứ đem nhiều sản vật quý hiếm
biếu nhà Lý.
IV. ĐÁNH THẮNG RẤT OANH LIỆT, LẠI "DÙNG BIỆN SĨ BÀN HÒA" ĐỂ KẾT
THÚC CHIẾN TRANH
Trước khi tiến quân vào đất Tống, Lý Thường Kiệt cho truyền “Lệ bố" đi khắp miền
Quảng Đông, Quảng Tây.
"Lệ bố": "Lệ" là để ngỏ, “bố” là bố cáo. Lệ bố là những tờ hịch nói công khai cho dân
chúng biết. Nội dung các lệ bố nhằm mấy điều:
1. Nói rõ mục đích cuộc hành quân của ta không phải là để cướp nước hại dân.
2. Vạch rõ những sai trái, ngang ngược của triều đình nhà Tống và quan lại Tống đối với
nước ta.
3. Kể tội tể tướng Tống là Vương An Thạch và triều đình Tống đã dùng “tân pháp” để đàn
áp, bóc lột nhân dân Tống.
4. Nêu cao ý nghĩa cuộc hành quân của ta không phải chỉ vì lợi ích của ta mà còn vì lợi ích
của nhân dân Tống.
Có lệ bố viết cụ thể:
"… Nay bản chức vâng lệnh Quốc vương, chỉ đường Bắc tiến, muốn dẹp tan làn sóng yêu
nghiệt, làm phân rõ đất đai nhưng không phân biệt dân chúng....
… Ta nay ra binh cứu dân khỏi nơi chìm đắm. Hịch văn truyền đi để mọi người biết. . . "
Có lệ bố nêu lý do cuộc hành quân của ta:
"Có những dân làm phản trốn sang Tống. Các quan Tống dung nạp và giấu đi. Ta đã cho
sứ sang tố giác các việc ấy, quan coi Quế Châu không chịu trả lời. Ta lại sai sứ vượt biển
sang tố cáo với Quảng Châu, quan coi Quảng Châu cũng không chịu báo. Vì thế, quân ta
tới đuổi bắt nhưng dân trốn ấy...”.
Lệ bố của Lý Thường Kiệt truyền đi, được nhân dân Tống hoan nghênh. Cho nên khi quân

Bay phải chịu đòn thất bại to
Được động viên, quân ta đánh càng mạnh. Quân giặc thiệt hại rất nặng. Sau trận đánh này,
quân Tống bị quân ta vây chặt ở bờ bắc sông Cầu trong 40 ngày liền. Quân Tống sang Việt
Nam 10 vạn, bị chết 8 vạn, chỉ còn 2 vạn; 20 vạn phu cũng chết một nửa, 1 vạn ngựa thì
còn hơn 3 nghìn. Lương ăn cũng đã cạn. Quân Tống ở cái thế, không thể tiếp tục chiến
tranh được nữa.
Biết quân Tống đã cùng đường, Lý Thường Kiệt mở đường cho giặc: "Dùng biện sĩ để bàn
hòa, khiến tướng giặc phải buông vũ khí, quân ta đỡ tốn xương máu mà giữ yên xã tắc”.
Ông đưa tin cho địch: "Rút quân về thì giao hảo".
22
Tướng Tống là Quách Quỳ buộc phải nhận lời Lý Thường Kiệt, xin rút quân về nước. Tuy
đình chiến, nhưng quân Tống vẫn sợ; mấy vạn người nửa đêm ù té chạy khỏi chiến trường,
không dám để quân ta biết. Thấy thế, quân ta không truy kích, để cho chúng rút chạy an
toàn.
Nhưng giặc sợ mà vẫn chưa hết tham. Dọc đường chạy về nước, bọn chỉ huy quân Tống để
một số tướng sĩ ở lại chiếm giữ mấy châu vùng biên giới của ta. Biết vậy, nhưng ta không
cho quân đuổi theo đánh chiếm lại ngay. Ta chủ trương để cho đạo quân Tống xâm lược
rút về nước, chấm dứt chiến tranh, sau sẽ thu hồi những vùng đất giặc còn giữ bằng đàm
phán ngoại giao kết hợp với uy hiếp quân sự.
Khi đại quân của giặc đã rút đi, Lý Thường Kiệt cho quân lên thu hồi bốn châu vùng biên
giới mà chúng còn chiếm đóng. Thấy quân ta tới, quân giặc ở đây cũng rút hết. Riêng châu
Quảng Nguyên (Cao Bằng) có nhiều mỏ vàng, mỏ bạc, nhà Tống không muốn trả. Lý
Thường Kiệt một mặt cho quân đóng uy hiếp bên ngoài Quảng Nguyên, phao tin sẽ đánh
vào Quảng Nguyên, một mặt ông cùng triều đình cho sứ sang Tống đàm phán. Đầu năm
1078, một sứ bộ của nhà Lý do Đào Tôn Nguyên dẫn đầu đem 5 con voi tặng vua Tống và
đòi lại châu Quảng Nguyên. Thấy sứ bộ ta sang, đem quân, đem voi vào đất Tống, vua tôi
nhà Tống e ngại nên đã chỉ thị cho các địa phương mà sứ ta đi qua: "Sứ Giao Chỉ tiến tới
Kinh, vì chúng mới cướp ta, nên phải lo đề phòng. Khi còn ở dọc đường cũng như khi tới
Kinh, hễ chúng ra vào phải cắt người theo dõi, xem xét".
Tháng 10 năm 1078, sứ bộ Đào Tôn Nguyên tới Kinh đô nhà Tống, vào gặp vua Tống.

tranh kết thúc, không phải tiến hành ngoại giao hòa bình để xin lại tù binh. Về quân sự, dân
tộc ta ba lần đánh thắng quân Nguyên. Về ngoại giao, dân tộc ta cũng kiên trì dũng cảm
đấu tranh với địch và đã giành nhiều thắng lợi quan trọng, góp phần không nhỏ vào những
chiến thắng chống xâm lược vô cùng vĩ đại của dân tộc ta vào thời Trần.
I. ĐE DỌA NGOẠI GIAO VÀ TRẤN ÁP NGOẠI GIAO
Ở nước ta, đầu thế kỷ XIII, nhà Trần lên cầm quyền thay thế nhà Lý, quan hệ đối ngoại với
nhà Tống vẫn tiếp tục bình thường, mặc dầu có dấu hiệu trục trặc lúc ban đầu. Nhà Trần
được thiết lập đầu năm 1226. Nhà Tống (Trung Quốc) không chấp nhận quan hệ ngoại
giao với nhà Trần, ý muốn kiếm chuyện với ta, nhưng còn do dự, vì sự thất bại của nhà
Tống thời Lý Thường Kiệt còn ám ảnh vua tôi nhà Tống, chưa quên được.
Năm 1229, Trần Thái Tông cho sứ sang Tống cầu phong. Nhà Tống không đáp lại. Nhà
Trần không cần và cũng không có quan hệ gì thêm. Nhưng Tống cũng không yên ổn để có
thái độ trịch thượng lâu dài đối với ta. Đến năm 1232, người Mông Thát đã bắt đầu xâm
lược Trung Quốc, sau đó thống trị Trung Quốc, lập nên triều đại nhà Nguyên. Trước hết họ
đánh phá nước Kim, lúc ấy là một nửa lãnh thổ Trung Quốc về phía bắc. Năm 1234, Mông
Thát chiếm đóng cả nước Kim và bắt đầu đe dọa nước Tống, lúc ấy là nửa phía nam Trung
Quốc.
Năm 1234, Mông Thát cho hai đạo quân tiến đánh Tống, một đạo đánh xuống Tương
Dương, Phàn Thành; một đạo tiến xuống Thành Đô (Tứ Xuyên). Đầu năm 1236, Mông
Thát đánh Thành Đô. Cuối năm 1236, nhà Tống phải đặt quan hệ giao hảo với nhà Trần,
họ cho sứ mang các thư phong vương cho vua Trần. Sự giao hảo vội vàng của nhà Tống
với ta cho thấy những lo ngại của họ trước cuộc chiến tranh xâm lược ồ ạt của Mông Thát
vào đất Tống và chung quanh đất Tống. Cho sứ sang gấp nước ta, nhà Tống muốn tranh
thủ quan hệ hữu hảo với ta, phòng trước sự tiếp xúc của Mông Thát với ta, có thể bất lợi
cho Tống.
24
Hành động thân thiện của nhà Tống là một bảo đảm cho ta không có gì phải lo đối phó với
Tống, mà cái chính phải lo tính lúc ấy là cuộc xâm lược của Mông Thát đang ngày càng
mở rộng và tiến sâu xuống phía nam. Những biến động trên đất Tống, do sự thâm nhập của
quân Mông Thát, có thể ảnh hưởng tới nền an ninh biên giới nước ta. Và cũng rất có thể

Do đấy miền biên giới nước ta và Tống tạm yên. Nhưng miền biên giới nước ta giáp Vân
Nam thì dần dần biến động nghiêm trọng.
Vân Nam thời đó chưa phải là đất Trung Quốc, mà là lãnh thổ của một số dân tộc độc lập,
trong đó có nước Đại Lý ở liền sát biên giới nước ta. Giữa ta và Đại Lý trải mấy trăm năm,
quan hệ biên giới được duy trì tốt. Nếu Mông Thát đánh chiếm Đại Lý thì miền biên giới
nước ta giáp Đại Lý sẽ bị uy hiếp nghiêm trọng. Mà Đại Lý mất nước là điều không tránh
25

Trích đoạn NGOẠI GIAO CỦA NHÀ LÊ TRUNG HƯNG NGOẠI GIAO CỦA LÊ TRỊN HỞ BẮC HÀ 1 Quan hệ với Trung Quốc Quan hệ với Xiêm QUAN HỆ VỚI CHÂN LẠP NGOẠI GIAO CỦA HỌ NGUYỄ NỞ GIA ĐỊNH NHỮNG NĂM CUỐI THẾ KỶ X
Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status