ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA TÀI CHÍN H DOANH NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
KIỆT QUỆ TÀI CHÍNH
&
HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ RỦI RO Giảng viên: PGS.TS Nguyễn Thị Ngọc Trang
Nhóm 10 Phạm Tuấn Anh
7701221466
Nguyễn Thanh Bình
Nguyễn Thành Đông
7701220180
Nguyễn Huy Hoàng
7701221533
Phạm Văn Hiệp
7701221529
Nguyễn Phương Quang
bằng cách thay thế các tài sản hiện tại bởi tài sản khác.
Dựa vào mô hình của Smith và Stulz, 1985, tác giả cho thấy các công ty có đòn
bẩy cao thì có động lực cao hơn để tham gia hoạt động bảo hiểm rủi ro . Tuy nhiên,
động lực quản trị rủi ro biến mất đối với các công ty có đòn bẩy cực cao.
Nghiên cứu thực nghiệm của Opler và Titman (1994) và Chevalier (1995a, b)
cho thấy nợ làm suy yếu vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp trong ngành.
Nếu như không có chi phí kiệt quệ tài chính, động lực quản trị rủi ro biến mất.
Mặt khác, nếu chi phí này quá cao, sự khác biệt giữa kiệt quệ tài chính và mất khả
năng thanh toán giảm xuống. Vì vậy, mô hình của t ác giả dự đoán một mối quan hệ
hình chữ U giữa chi phí kiệt quệ tài chính và bảo hiểm rủi ro.
Những dự báo trong mô hình có mức độ ảnh hưởng cho các nghiên cứu thực
nghiệm. Để kiểm tra lý thuy ết đã có, bài nghiên cứu thực hiện hồi quy một số thước
đo kiệt quệ tài chính lên hoạt động quản trị rủi ro của doanh nghiệp.
Dữ liệu được lấy từ hơn 2000 công ty trong năm tài chính 1996-1997. Tác giả
tìm được bằng chứng đáng tin cậy về việc các công ty có đòn bẩy cao thì bảo hiểm rủi
ro cao hơn, mặc dù các công ty có đòn bẩy quá cao thì bảo hiểm rủi ro biến mất. Tác
giả cũng t ìm ra rằng các công ty kiệt quệ tài chính thì bảo hiểm rủi ro nhiều hơn. Tác
giả lấy thêm số liệu từ 1997 - 1998 và 1998 - 1999 thì kết quả vẫn như vậy.
2. Cơ sở lý thuyết
2.1. Một số khái niệm trong bài nghiên cứu
- Kiệt quệ tài chính là tình trạng dòng tiền thấp dẫn đến công ty xuất hiện thua lỗ
mà không có khả năng chi trả.
- Các ký hiệu sử dụng trong bài nghiên cứu
A
i
(i là viết tắt của đầu tư ban đầu)
L là mệnh giá của các khoản nợ không trả lãi định kỳ, thanh toán tại thời
điểm T. (mệnh giá trái phiếu)
K mức rào cản kiệt quệ tài chính
عt là vốn chủ sở hữu của công ty tại thời điểm t.
thấp và tập trung. Hơn nữa, sự giảm giá này liên quan đến việc các công ty LBO
thoát khỏi thị trường địa phương. Những phát hiện này cho thấy rằng các đối thủ
nỗ lực để săn mồi trên dây chuyền LBO.
- Phillips (1995) nghiên cứu sự tương tác giữa thị trường sản phẩm và cơ cấu tài
chính ở bốn ngành công nghiệp và tìm thấy bằng chứng nhất quán rằng nợ sẽ
làm suy yếu vị trí cạnh tranh của các công ty (xem thêm Kovenock và Phillips -
1997; Arping - 2000).
- Bằng việc sử dụng các bãi bỏ quy định của ngành vận tải đường bộ như là một
cú sốc ngoại sinh, Zingales (1998 ) nghiên cứu sự tương tác giữa cấu trúc tài
chính và sự cạnh tranh ở thị trường sản phẩm và cho thấy rằng đòn bẩy làm giảm
khả năng sống sót của công ty sau khi có sự gia tăng trong cạnh tranh.
Thông điệp chung từ các bài nghiên cứu trên là kiệt quệ tài chính có thể phát sinh chi
phí thực tế tại công ty bằng việc suy yếu vị thế cạnh tranh của họ trên thị trường sản
phẩm.
3. Dữ liệu và Phương pháp nghiên cứu
3.1. Dữ liệu nghiên cứu
- Dữ liệu được lấy từ hơn 2000 công ty trong năm tài chính 1996-1999.
- Dữ liệu CRSP và Compustat có sẵn trên trang web của SEC.
3.2. Phương pháp nghiên cứu
Bài nghiên cứu phát triển mô hình lý thuy ết dựa trên các nghiên cứu trước đây.
Sau đó thực hiện hồi quy một số thước đo kiệt quệ tài chính lên hoạt động quản trị rủi
ro của doanh nghiệp để kiểm định các giả thuyết đưa ra trong mô hình.
4. Kết luận
4.1. Mô hình
Tác giả xem xét một mô hình minh họa cho một nền kinh tế giao dịch liên tục
với vùng thời gian [t
0
, T]. Có ba thời điểm quan trọng trong mô hình sẽ được thảo
luận dưới đây. M ặc dù mô hình thời gian rời rạc cũng có thể được sử dụng để ghi
nhận các đặc điểm quan trọng của mô hình này, mô hình thời gian liên tục sẽ cho phép
1
Є (t
0
,T)), các cổ đông (hoặc người quản lý
đại diện cho họ) đưa ra quyết định quản trị rủi ro. Khi đó, có thể ngay lập tức hoặc vài
ngày hoặc vài tháng sau khi quyết định cơ cấu vốn, họ có cơ hội thay đổi rủi ro của tài
sản mà không cần có sự chấp thuận của trái chủ. Để nắm bắt được động cơ hoán
chuyển rủi ro này, tác giả giả định các trái chủ không thể thỏa thuận lại với các cổ
đông tại t = t
1
. Mở rộng ra, tác giả giả định hai bên không t hể thỏa thuận với nhau về
lựa chọn đối với các vấn đề quản trị rủi ro tại thời điểm t
0
thông qua điều khoản trong
hợp đồng mua trái phiếu. Giả định sau đây sẽ cho thấy sự gia tăng động cơ hoán
chuyển rủi ro trong mô hình của tác giả. Giả định này là vấn đề căn bản trong các
nghiên cứu lớn đối với thỏa thuận bất hoàn hảo trong kinh tế và tài chính (xem ví dụ ở
Bolton và Dewatripont - 2005). Vấn đề ở đây là quá tốn kém để nêu ra tất cả các tình
huống và ghi lại điều khoản nợ để hạn chế hành vi của cổ đông có thể gây rủi ro cho
công ty. Ngay cả khi có thể thực hiện được điều đó, nó sẽ là quá tốn kém để thực hiện
chúng đặc biệt đối với tình huống đòn bẩy rất cao khi cổ đông có một động lực mạnh
mẽ trong việc không thực hiện các điều khoản như đã thỏa thuận.
Giả định trên là điểm cơ bản trong tranh luận của Jensen và Meckling, cho rằng
''Để bảo vệ hoàn toàn các trái chủ trước những tác động của động cơ hoán chuyển rủi
ro, các quy định phải cực kỳ chi t iết và đề cập đến hầu hết các khía cạnh hoạt động
của công ty bao gồm cả những hạn chế về độ rủi ro của các dự án thực hiện. Các chi
phí liên quan đến việc nêu ra các quy định, các chi phí thực t hi chúng và khoản lợi
nhuận sụt giảm (bởi vì đôi khi các điều khoản hạn chế khả năng quản lý để có những
hành động tối ưu trong một số vấn đề nhất định) có thể sẽ đáng kể. Trong thực tế, bởi
vì việc quản trị là một quá trình ra quyết định liên tục nên sẽ gần như không thể xác
Trong khuôn khổ mô hình này sẽ cho phép tác giả nêu ra vấn đề hành vi quản trị
rủi ro của công ty trước so với sau sự hiện diện của động cơ hoán chuyển rủi ro của
các cổ đông. Sau đây, tác giả thảo luận về giả định chính của bài nghiên cứu, đó là sự
phân biệt giữa kiệt quệ tài chính và mất khả năng thanh toán.
4.1.1. Kiệt quệ tài chính và mất khả năng thanh toán
Nếu trong khoản thời gian (t
0
,T), giá trị tài sản của công ty A
t
sụt giảm dưới mức
giới hạn K(L), công ty sẽ rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính. Mặt khác, mất khả năng
thanh toán sẽ xảy ra tại thời điểm T nếu giá trị cuối cùng của công ty (V
T
) thấp hơn
các nghĩa vụ nợ. Vì vậy, trong t ình trạng kiệt quệ tài chính, việc kiểm soát công ty
chưa chuyển sang cho trái chủ ngay lập tức, nhưng công ty sẽ phát sinh các chi phí gia
tăng cùng với đòn bẩy nợ.
Hình.1 Con số này vẽ ba đường minh họa sự biến thiên của giá trị tài sản của công
ty. Tác giả giả sử không có lá chắn thuế của nợ ở đây. Ba đường tương ứng với ba
trạng thái của công ty trong mô hình của tác giả. Đường trên cùng, giá trị tài sản
không bao giờ cắt rào cản kiệt quệ tài chính (K). Điều này tương ứng với trạng thái
'khỏe mạnh'. Đường giữa mô tả trạng thái mà rào cản kiệt quệ bị cắt (thời điểm τ),
nhưng công ty vẫn còn khả năng thanh toán tại thời điểm T. Đây là trạng thái kiệt quệ
tài chính. Trong trạng thái này, giá trị cuối cùng của công ty, giá trị thuần giữa tổn
thất (f(A
t
)), phần còn lại trên mệnh giá trái phiếu (L). Do đó, đây là trạng thái trong
đó (f(A
thấp hơn L. Hãy để chúng tôi xác định inf
t1 ≤ t ≤ T
A
t
≡ m
T
cho giá trị tài sản tối thiểu
trong thời gian (t
1
; T). Trong trường hợp không có kiệt quệ (tức là, m
T
> K) và khả
năng thanh toán vào ngày đầu cuối (ví dụ, V
T
> L), các cổ đông nhận thanh toán cổ
tức (V
T
- L). Nếu khủng hoảng tài chính đã xảy ra (tức là, m
T
< K), nhưng vào ngày
cuối khả năng thanh toán công ty vẫn còn (ví dụ, f(V
T
) > L, các cổ đông nhận thanh
toán cổ tức f(V
T
)- L. Trong trường hợp phá sản, cổ đông không nhận được gì và giá trị
công ty giảm xuống bằng các phần nhỏ γ∈[0,1]?. Tiền chi trả các cổ đông dưới trạng
thái khác nhau được tóm tắt như sau:
Đề xuất 1. Trong điều kiện kỹ thuật đơn giản, việc định giá vốn chủ sở hữu tại thời
){1
{VT≤L}
+ 1
{f
-1
(L)>VT >L, mT≤K}
đại diện cho các
khoản tiết kiệm được hưởng bởi các cổ đông của một công ty sử dụng đòn bẩy
do đặc tính trách nhiệm hữu hạn của vốn chủ sở hữu. Điều kiện này thu hút
động cơ thay đổi rủi ro của các cổ đông. Bằng cách tăng rủi ro của tài sản, các
cổ đông có thể làm cho mình tốt hơn bằng cách tăng giá quyền chọn (nhiệm kỳ
thứ ba). Tuy nhiên, đồng thời, mức lỗ kỳ vọng trong trư ờng hợp kiệt quệ tài
chính cũng tăng lên cùng với sự gia tăng tài sản rủi ro. Mức tối ưu của rủi ro
đầu tư được xác định rõ ràng bởi sự đánh đổi giữa rủi ro và sinh lợi.
4.1.3. Chi phí kiệt quệ tài chính
Đề xuất 1 cung cấp một công thức định giá chung trong mô hình của tác giả. Đ ể
tiến hành thêm tác giả cần phải làm rõ ràng về các hình thức chi phí kiệt quệ tài chính
được tạo bởi các cổ đông của một công ty kiệt quệ tài chính. Ngoài ra, tác giả cho một
số giả định đơn giản hoá cho dễ kiểm soát phân tích. Tác giả giả định trong trường
hợp kiệt quệ (ví dụ , m
T
≤
K ), dòng tiền của công ty rơi vào khoảng lδ
t
, l ∈(0,1) và
không bao giờ vượt quá một số tùy ý ràng buộc trên U<∞ tại thời điểm T (tức là , δ
t
<
Nhằm mục đích minh họa, tác giả thiết lập các mức thuế suất bằng không và γ=1
cho biểu đồ này. Giá trị vốn chủ sở hữu trong mô hình của tác giả được mô tả bởi các
đường liền nét. Đường đứt khúc bên trên đại diện cho các giá trị vốn chủ sở hữu cho
trạng thái lành mạnh. Đường đứt khúc bên dưới mô tả giá trị vốn chủ sở hữu trong
tình trạng kiệt quệ tài chính. Giá trị vốn chủ sở hữu trong mô hình của tác giả là bình
quân gia quyền (trọng số được quyết định bởi khả năng tương đối của hai trạng thái)
của giá trị vốn chủ sở hữu trong hai trạng thái này
Chúng ta hãy biểu thị giá trị tài sản (A
T
) tương ứng với δ
t
= U bằng L+M. Việc
thanh toán cổ tức của cổ đông được cho là
Chi phí kiệt quệ tài chính có thể được thể hiện như (A
T
-M).1
{ AT >L+M, mT ≤ K}
. Một
giá trị cao hơn của M tương ứng với thiệt hại gánh nặng thấp hơn trong mô hình. Phù
hợp với Đề xuất 1, giá trị vốn chủ sở hữu có thể được thể hiện như sau:
Như biểu đồ cho thấy, giá trị vốn chủ sở hữu không phải là một hàm số lồi ngặt
bên dưới giá trị công ty trong phương p háp cổ điển, nơi vốn chủ sở hữu có giá trị như
một quyền chọn trên giá trị công ty. Sự tổn thất vô ích của kiệt quệ đưa ra một sự lõm
vào giá trị của Vốn chủ sở hữu, là kết quả của động cơ quản lý rủi ro.
4.2. Lựa chọn tối ưu của quản trị rủi ro
M à không mất tính tổng quát, tác giả đặt lãi suất phi rủi ro bằng không trong phần
ty, mô hình của tác giả cung cấp cái nhìn sâu vào các chính sách quản lý rủi ro của
công ty, như được thảo luận dưới đây.
Đề xuất 3: Công ty chọn một mức độ rủi ro đầu tư thấp nếu (a) công ty đối mặt với
rào cản kiệt quệ cao (K), và (b) có thời gian đáo hạn dự án lâu hơn (T’ = T – t
1
). Mối
quan hệ giữ tổn thất vô ích và và rủi ro đầu tư tối ưu là hình chữ U.
Để . Khi M > M
c
, rủi ro đầu tư tối ưu giảm thì tổn thất vô
ích sẽ tăng, nếu không nó tăng lên cùng với sự gia tăng của tổn thất vô ích.
Rủi ro đầu tư giảm (ví dụ như động cơ quản trị rủi ro tăng) với rào cản kiệt quệ
(K). Như kỳ vọng, một ranh giới cao hơn làm tăng khả năng kiệt quệ tài chính. Do đó
các công ty lựa chọn tối ưu một mức độ rủi ro thấp hơn để tránh chi phí kiệt quệ tài
chính. Kết quả cho thấy công ty với khung hoạt động lâu hơn (T’ = T-t
1
) tìm thấy sự
tối ưu để tham gia vào các hoạt động tăng quản lý rủi ro. Với thời gian lâu hơn, xác
suất đạt tới rào cản thấp hơn sẽ tăng lên. Hơn nữa, hậu quả của việc rơi vào tình trạng
kiệt quệ, tổn thất dự kiến sẽ tăng lên cùng với thời gian đáo hạn bởi vì có một xác suất
cao hơn cải thiện điều kiện ngành công nghiệp và các công ty rơi vào tình trạng kiệt
quệ sẽ không thể tận dụng những cơ hội này. Có bằng chứng thực nghiệm đáng kể mà
các công ty lớn tự bảo hiểm nhiều hơn các công ty nhỏ. Sự theo đuổi của các nền kinh
tế quy mô được đề xuất như một lời giải thích cho thực nghiệm này. Mô hình của tác
giả cho thấy lời giải thích khác: khung thời gian hoạt động (the time horizon of
operation). Nếu các doanh nghiệp khung thời gian dài hơn phát triển lớn hơn theo
thời gian, các nhà nghiên cứu sẽ tìm thấy một mối liên hệ giữa các hoạt động quản lý
rủi ro và quy mô doanh nghiệp tại bất kỳ điểm nào trong thời gian .
Cuối cùng, tác giả tìm thấy một mối quan hệ hình chữ U giữa động cơ quản lý
rủi ro và chi phí kiệt quệ tài chính .
như động cơ quản trị rủi ro tăng) trong khi đòn bẩy gia tăng, với một loạt các thông số
tổn thất vô ích và ranh giới kiệt quệ. M ối quan hệ này đảo ngược khi đòn bẩy tăng rất
cao do các động cơ hoán chuyển rủi ro. Khi đòn bẩy rất cao, giá trị liên quan đến
quyền mua vốn chủ sở hữu chi phối các chi phí phát sinh của các cổ đông và do đó họ
mất động cơ quản lý rủi ro. Sử dụng một đặc điểm kỹ thuật tham số của K và M, tác
giả giải quyết rủi ro tối ưu như một hàm số của đòn bẩy và báo cáo kết quả trong Hình
4. M ối quan hệ được tóm tắt như sau:
Đề xuất 4: Động cơ quản trị rủi ro gia tăng với đòn bẩy của công ty; mối quan hệ này
đảo ngược khi đòn bẩy cực kỳ cao.
Tóm tắt mô hình lý thuyết
Trong phần này tác giả trình bày một bản tóm tắt của phần lý thuyết của bài
nghiên cứu, đó là cơ sở cho các bài kiểm tra thực nghiệm sau này. Trong mô hình
cách điệu của t ác giả , một công ty bắt đầu với một số kết hợp của nợ và vốn chủ sở
hữu tại thời điểm bằng không và mua một tài sản sản xuất . Tại thời điểm này cơ cấu
vốn của công ty được xác định bằng việc đánh đổi lợi ích về thuế của nợ với chi phí
phá sản và kiệt quệ tài chính. Tác giả không giải quyết các chính sách đòn bẩy tối ưu
trong mô hình lý thuyết mà tập trung phân tích về các quyết định quản lý rủi ro .
Tuy nhiên, quy ết định cơ cấu vốn nội sinh không làm thay đổi kết quả quan trọng của
bài nghiên cứu . Trong phân tích không được báo cáo, tác giả giải quyết đòn bẩy tối
ưu và như kỳ vọng cho thấy tỷ lệ nợ tăng cùng với lợi ích về thuế và giảm với chi phí
phá sản và kiệt quệ tài chính.
Đưa ra một mức độ nợ được xác định tại thời gian t
0
, các công ty có kinh
nghiệm lựa chọn một vài cú sốc ngẫu nhiên đến giá trị của công ty tới thời điểm t
1
,
điều mà ảnh hưởng đến tỷ lệ đòn bẩy của công ty. Tại thời điểm này các cổ đông đưa
ra quyết định quan trọng trong mô hình, như là một quyết định quản lý rủi ro, để tối đa
hóa giá trị vốn chủ sở hữu. Cấu trúc mô hình này cho phép tác giả tập trung vào các
5. Bằng chứng thực nghiệm
Có ba thách thức quan trọng trong thực nghiệm kiểm tra lý thuyết nói trên:
Đầu tiên, dữ liệu về quyết định của một công ty bảo hiểm rủi ro là rất hạn chế.
Thứ hai, đòn bẩy và bảo hiểm rủi ro có khả năng được xác định bởi công ty,
dẫn đến một vấn đề nội sinh.
Thứ ba, để biết rõ là BHRR trước hay sau, tác giả cần dữ liệu về thời gian của
các vấn đề nợ và quyết định bảo hiểm rủi ro, mà tiếc là không có sẵn. Dưới đây chúng
tác giả bắt đầu với thảo luận về các mẫu và thu thập dữ liệu cho vấn đề nội sinh. Sau
đó tác giả thảo luận về các vấn đề liên quan đến tác động trước và sau trong phần sau.
(Thực hiện chọn mẫu và dùng p p kinh tế lượng để xử lý vấn đề nội sinh. Sau đó thảo
luận mối quan hệ giữa ex-ant và expost.)
5.1. Dữ liệu mẫu
Tác giả kiểm tra các dự đoán chính của mô hình của tác giả bằng cách sử dụng
ngoại tệ và hàng hóa phái sinh và dữ liệu chéo các doanh nghiệp trong năm tài chính
1996 và 1997.
Trước đó nghiên cứu thực nghiệm và bằng chứng khảo sát cho thấy rằng các
công ty nhỏ như vậy là rất khó để sử dụng sản phẩm phái sinh cho mục đích bảo hiểm
rủi ro (Dolde, 1993), có thể là do thiếu sự cân bằng các nền kinh tế.
Bài này tập t rung vào 200 công ty sản xuất để mẫu nhỏ hơn cho phép liên hệ các
liên kết trong các hoạt động bảo hiểm rủi ro của công ty đến hoạt động tài chính để
hiểu sâu sắc hơn.
5.1.1. Nguy cơ rủi ro về ngoại hối
Xem công ty có rủi ro ngoại tệ không, xem xét có doanh số, thuế, sự điều chỉnh,
công cụ phái sinh có liên quan/ bằng ngoại tệ .
5.1.2. Nguy cơ rủi ro về giá hàng hoá
So với rủi ro ngoại tệ thì rủi ro hàng hoá khó đo lường hơn, vì những yêu cầu của
kế toán không yêu cầu p hải ghi chi tiết, do đó tác giả chỉ ư ớc lượng và Thu thập theo
EBIT hàng quý, lấy trên 60 quý và sai số 10%.
Trong đó, tác giả thoái thu nhập hàng quý trước lãi vay và thuế thu được từ các
dòng tiền trước thuế bằng công cụ p hái sinh. Doanh số ngoại tệ là 1 biến bổ sung (liên
quan tỷ giá hối đoái). Giảm rủi ro bằng nhiều cơ sở ở nhiều nơi trên thế giới.
5.2. M ô hình nội sinh của đòn bẩy và bảo hiểm rủi ro.
M ô hình dự báo quan hệ thuận giữa đòn bẩy và bảo hiểm và tươn g quan nghịch nếu
đòn bẩy cao. Ngành công nghiệp thì sẽ có ảnh hưởng mạnh hơn ngành khác.
Vào thời điểm t
1
: mức nợ được xác định trước
BHRR giảm khả năng phá sản, giảm kh ả năng biến động giá trị công ty, vay với chi
vốn thấp hơn, khả năng vay cao hơn dẫn đến nội sinh giữa đòn bẩy và BHRR
Do đó ước lượng bởi mô hình gồm 2 phương trình sau: pt7 và pt8
Ước lượng 2 giai đoạn:
1. Dùng OLS cho biến Đòn bẩy và OLD cho BHRR
2. Ước lượng Logit và Tobit
Ở PT (8): Mong đợi kết quả thu được là anpha1 sẽ dương và anpha 2 sẽ âm
Vì: Đ òn bẩy cao thì mất vị thế cạnh tranh của công ty và Tương quan cùng chiều giữa
BHRR và mức độ tập trung. Với Biến giả concd =1 kh i mức độ t ập trung trên trung
bình, ngược là 0.
5.2.1. Phương pháp xác định
Giai đoạn 1: đòn bẩy: quy mô, TS hữu hình, tỷ lệ giá trị sổ sách/GT thị t rường, biến
động thu nhập và thuế suất cận biên
(Thời điểm T0: ex-ante và T1: post-ante)
Ảnh hưởng quan trọng nhất đến BHRR là nợ. Tác động của Nợ vì nó ảnh hưởng đến
thuế cận biên. Lấy trung bình 5 năm, 10 năm chứ không phải trung bình tất cả.
Công cụ thứ 2 là lá chắn thuế phi nợ (khấu hao) (MTR và DA/TA) và chi tiết các biến
trong mô hình chi tiết
5.3. Kiểm tra đơn biến
Để hiểu mối quan hệ không đơn giản giữa đòn bẩy và BHRR, thực hiện một
kiểm tra bán tham số. Bằng cách tách 2 nhóm nhỏ hơn, kết luận là hiệu ứng đòn bẩy
lên BHRR là không đơn điệu.
5.4.3. Bảo hiểm hàng hoá
Xem Bảng 5, hồi quy log cho các quyết định BHRR về hàng hoá.
Thấy mố i qu an hệ dương với đòn bẩy và âm với đòn bẩy bình phương 1% hay
6%. Đún g dự báo lý thuyết: công ty lớn dùng công cụ phái sinh hàng hoá tuy nhiên,
hệ số khả năng thanh toán nhanh là dương và ảnh hưởng quan trọng. Tham gia BHRR
làm cho t ài sản có thanh khoản cao hơn.
Khác biệt chính giữa 2 mô hình là biến RD, dư ơng và quan trọng tron g m ô
hình logarit. Tuy nhiên nó lại mang dấu âm và không đ óng vai trò quan trọng trong
BHRR hàng hoá. Trong khi các công ty phát tr iển cao sẽ BHRR hàng hoá nhiều thì lại
ít sử dụng BHRR hàng hoá hơn.
Tác giả không tìm các động lực khác sử dụng BHRR vì là ngoài đề tài nghiên
cứu này. Nhưng thấy sự khác nhau giữa BHRR và cơ hội tăng trưởng công ty. Công ty
tăng t rưởng cần dòng tiền cao để có nhiều cơ hội đầu tư, ngược lại sẽ ít cơ hội đầu tư.
5.5. Thông số mô hình thay thế
a/ Tỷ lệ đòn bẩy điều chỉnh công nghiệp
b/ Điểm số Z: chi phí kiệt quệ tài chính
c/ Sai số tiêu chuẩn:
Xem chi tiết kết quả tại bảng 6 5.6. Phân tích sự thay đổi
Xem Bảng 7 a/ Thay đổi hồi quy:
Chạy trong 3 năm và 200 công ty, cho kết quả phù hợp với mô hình của tác giả.