Hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản tại ngân hàng thương mại cổ phần bưu điện liên việt thực trạng và giải pháp - Pdf 10

Hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản tại Ngân
hàng Thương mại cổ phần Bưu điện Liên Việt
Thực trạng và giải pháp

Trần Thị Thu Trang

Trường Đại học Kinh tế
Luận văn ThS ngành: Tài chính ngân hàng; Mã số: 60 34 20
Người hướng dẫn: PGS. TS Trần Thị Thái Hà
Năm bảo vệ: 2012 Abstract: Hệ thống hóa các vấn đề lý thuyết cơ bản về rủi ro thanh khoản và hoạt động
quản trị rủi ro thanh khoản. Phân tích thực trạng công tác quản trị rủi ro thanh khoản tại
Ngân hàng (thương mại cổ phần) TMCP Bưu điện Liên Việt, ảnh hưởng của nó đến trạng
thái thanh khoản hiện tại của ngân hàng. Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu
quả công tác quản trị rủi ro thanh khoản trong hoạt động của Ngân hàng TMCP Bưu điện
Liên Việt.

Keywords: Tài chính ngân hàng; Thanh khoản; Ngân hàng thương mại; Quản trị rủi ro

Content
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Một trong những nhiệm vụ quan trọng mà các nhà quản trị ngân hàng phải thực hiện là đảm
bảo khả năng thanh khoản hợp lý cho ngân hàng. Ngân hàng có khả năng thanh khoản tốt khi nó
luôn có được nguồn vốn khả dụng với chi phí hợp lý vào đúng thời điểm mà ngân hàng cần.
Không có đủ nguồn vốn khả dụng để đáp ứng nhu cầu đòi hỏi của thị trường có thể khiến ngân
hàng mất khả năng thanh toán, mất uy tín và dẫn đến sự sụp đổ của toàn hệ thống. Tuy nhiên,
lượng vốn dự trữ quá lớn sẽ tác động trực tiếp làm giảm khả năng đầu tư, sinh lời của bản thân
ngân hàng.

o Luận văn tập trung phân tích công tác quản trị rủi ro thanh khoản tại một NHTM cụ thể
(Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt), những mặt đạt được và những vấn đề còn hạn
chế, đặt trong mối tương quan so sánh với các NHTM khác tại Việt Nam (không chú
trọng phân tích sâu vào thực trạng thanh khoản).
o Các số liệu, thông tin chỉ tập trung nghiên cứu cho giai đoạn 2009 - 2011.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Ngoài phương pháp triết học biện chứng và lịch sử thường được dùng trong nghiên cứu
khoa học, luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như hệ thống, diễn dịch, phân tích
tổng hợp, so sánh và các công cụ như bảng biểu, đồ thị để chứng minh làm sáng tỏ các luận cứ
được nêu ra.
6. Những đóng góp mới của luận văn
o Làm rõ thực trạng công tác quản trị rủi ro thanh khoản tại Ngân hàng TMCP Bưu điện
Liên Việt dựa trên cách tiếp cận hiện đại, chỉ ra những thành công hay khiếm khuyết của
hoạt động này, từ đó đề xuất những giải pháp phù hợp.
o Đóng góp cho quy trình cơ bản của hoạt động quản trị tài sản Nợ - tài sản Có (ALM) của
các NHTM, trong đó một nội dung quan trọng là quản trị thanh khoản.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được kết
cấu thành 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về quản trị rủi ro thanh khoản trong hoạt động của
NHTM.
Chương 2: Thực trạng hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản tại Ngân hàng TMCP Bưu
điện Liên Việt.
Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị cải thiện hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản
tại Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt.

CHƢƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN TRONG
HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI
1.1. Rủi ro thanh khoản

b) Nguyên nhân chủ quan:
 Sự mất cân đối về kỳ hạn giữa tài sản Nợ và tài sản Có.
 Chiến lược quản trị rủi ro thanh khoản không phù hợp và kém hiệu quả.
1.1.3. Tác động của rủi ro thanh khoản đến hoạt động của NHTM
a) Tác động của rủi ro thanh khoản đến mỗi NHTM riêng lẻ:
 Làm sụt giảm lợi nhuận và uy tín của ngân hàng (do chi phí huy động tăng đồng thời
phải cắt giảm nguồn cung tín dụng).
 Trong một số trường hợp có thể dẫn đến sự phá sản và sụp đổ của ngân hàng.
b) Tác động của rủi ro thanh khoản đến hệ thống ngân hàng và nền kinh tế:
 Việc phá sản của một ngân hàng sẽ dẫn đến sự hoảng loạn của người gửi tiền, kéo
theo sự rút tiền hàng loạt ở các ngân hàng khác và lúc này kéo theo sự sụp đổ của
toàn hệ thống chứ không chỉ của một ngân hàng riêng lẻ.
 Tăng trưởng của nền kinh tế bị giảm sút.
1.2. Nội dung quản trị rủi ro thanh khoản của NHTM
1.2.1. Các phương pháp đo lường trạng thái thanh khoản của ngân hàng
a) Phương pháp tiếp cận nguồn vốn và sử dụng vốn
Cách đo lường này bắt đầu với thực tế là: khả năng thanh khoản tăng khi tiền gửi tăng và
cho vay giảm; và khả năng thanh khoản giảm khi tiền gửi giảm và cho vay tăng. Bất cứ khi nào
nguồn thanh khoản và sử dụng thanh khoản không bằng nhau, ngân hàng phải đối mặt với khe
hở tài trợ (financing gap). Khe hở này được đo bằng độ chênh lệch giữa tổng nguồn vốn huy
động trung bình và tổng dư nợ trung bình.
Khe hở tài trợ = Tổng dư nợ trung bình - Tổng nguồn vốn huy động trung bình
Nếu khe hở này là dương thì ngân hàng buộc phải bù đắp bằng các khoản tiền mặt và các
tài sản có tính thanh khoản hoặc vay nợ trên thị trường tiền tệ.
b) Phương pháp tiếp cận cấu trúc vốn:
Với phương pháp này, bước đầu tiên là tiền gửi và các nguồn vốn khác nhau của ngân
hàng được chia thành nhiều nhóm dựa trên khả năng vốn bị rút ra khỏi ngân hàng, ví dụ như:
 Nhóm vốn “nóng”.
 Nhóm vốn kém ổn định.
 Nhóm vốn ổn định.

o Chỉ tiêu tiền gửi thường xuyên
1.2.2. Các chiến lược quản trị thanh khoản
a) Quản trị rủi ro thanh khoản tài sản - chiến lược dự trữ:
Trong chiến lược này, ngân hàng nắm giữ các tài sản có tính thanh khoản cao, chủ yếu là
tiền mặt và các chứng khoán dễ bán. Khi nhu cầu thanh khoản xuất hiện, ngân hàng sẽ sử dụng
phần dự trữ tiền mặt vượt quá và tiến hành bán một số tài sản cho tới khi toàn bộ nhu cầu được
đáp ứng.
Để quản trị rủi ro thanh khoản theo chiến lược này, ngân hàng có thể lựa chọn những tài
sản:
 Các khoản dự trữ ngân quỹ, bao gồm:
o Dự trữ bắt buộc
o Dự trữ thanh toán (dự trữ sơ cấp).
 Dự trữ ngoài ngân quỹ (dự trữ thứ cấp): các khoản dự trữ này chủ yếu tập trung vào
việc đầu tư chứng khoán có tính lỏng cao, dễ chuyển đổi thành tiền để đáp ứng nhu
cầu thanh khoản khi cần thiết như: tín phiếu kho bạc, trái phiếu chính phủ, thương
phiếu chấp nhận thanh toán, giấy nợ ngắn hạn,…
b) Quản trị rủi ro thanh khoản nợ - chiến lược huy động:
Trong phương pháp này, đại bộ phận các thiếu hụt thanh khoản của ngân hàng được đáp
ứng bằng cách đi vay mượn dưới các hình thức. Do đó, chiến lược này còn được gọi là chiến
lược “vay thanh khoản”. Một số hình thức được sử dụng trong chiến lược này là:
 Tạo thanh khoản từ việc đi vay: các khoản vay từ các tổ chức tín dụng khác trên thị
trường liên ngân hàng và/hoặc vay từ cửa sổ chiết khấu của NHNN.
 Tạo thanh khoản qua tiền gửi: đó là việc ngân hàng nhận tiền gửi của các cá nhân
nhân và tổ chức kinh tế dưới các hình thức tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn và các
loại tiền gửi khác.
 Tạo thanh khoản qua thị trường tiền tệ/thị trường vốn: các ngân hàng phát hành kỳ
phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi để huy động vốn của các tổ chức, cá nhân trong
nước và ngoài nước.
c) Quản trị rủi ro thanh khoản kết hợp:
Theo chiến lược quản lý thanh khoản phối hợp, một phần nhu cầu thanh khoản dự tính sẽ

khả năng thanh toán và đưa ngân hàng đối mặt với khả năng bị phá sản, bị bán hoặc bị sáp nhập.
Hơn nữa, rủi ro thanh khoản mang tính hệ thống, có thể đe dọa đến sự ổn định của cả hệ thống
tài chính.
CHƢƠNG 2
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN TẠI NGÂN HÀNG
THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN BƢU ĐIỆN LIÊN VIỆT
2.1. Khái quát về Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển
Ngân hàng Thương mại cổ phần Bưu điện Liên Việt (LienVietPostBank) tiền thân là Ngân
hàng Liên Việt (LienVietBank) được thành lập theo Giấy phép thành lập và hoạt động số 91/GP-
NHNN ngày 28/03/2008 của Thống đốc NHNN Việt Nam với vốn chủ sở hữu ở mức 3.447 tỷ
đồng.
Năm 2011, với việc VNPost góp vốn vào LienVietBank bằng giá trị Công ty Dịch vụ Tiết
kiệm Bưu điện và bằng tiền mặt, Ngân hàng Liên Việt đã được Thủ tướng Chính phủ và Thống
đốc NHNN Việt Nam cho phép đổi tên thành Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt. Cùng với
việc đổi tên này, VNPost chính thức trở thành cổ đông lớn nhất của LienVietPostBank.
Cổ đông sáng lập của LienVietPostBank là Công ty Cổ phần Him Lam, Tổng Công ty
Thương mại Sài Gòn (SATRA) và Công ty dịch vụ Hàng không sân bay Tân Sơn Nhất
(SASCO). Hiện nay, với số vốn điều lệ 6.594 tỷ đồng, LienVietPostBank hiện là một trong mười
Ngân hàng TMCP lớn nhất tại Việt Nam.
Các cổ đông và đối tác chiến lược của LienVietPostBank là các tổ chức tài chính - ngân
hàng lớn đang hoạt động tại Việt Nam và nước ngoài như Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn Việt Nam (Agribank), Ngân hàng Wells Fargo (Mỹ), Ngân hàng Credit Suisse (Thụy
Sỹ), Công ty Oracle Financial Services Software Limited…
LienVietPostBank định hướng xây dựng thương hiệu mạnh trên cơ sở phát huy nội lực,
hoạt động minh bạch, gắn xã hội trong kinh doanh. Mục tiêu trở thành “Ngân hàng bán lẻ hàng
đầu của Việt Nam - Ngân hàng của mọi người”.
2.1.2. Cơ cấu tổ chức
2.1.3. Kết quả hoạt động kinh doanh trong thời gian gần đây
a) Kết quả hoạt động kinh doanh:

10.114
12.757
Lợi nhuận thuần từ Hoạt động kinh doanh
trước trích lập dự phòng rủi ro tín dụng
449
569
816
1.161
Lợi nhuận trước thuế
444
540
759
1.086
Lợi nhuận sau thuế
444
540
682
977
Đơn vị: %
B- Các chỉ tiêu tài chính cơ bản
2008
2009
2010
2011
Tỷ lệ LNST/TTS bình quân (ROAA)
5,96
4,35
2,61
2,14
Tỷ lệ LNST/VCSH bình quân (ROAE)

PCRT với yêu cầu đảm bảo đánh giá và kiểm soát được các rủi ro trọng yếu của hoạt động ngân
hàng, bao gồm (nhưng không giới hạn): rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro thị trường, rủi
ro hoạt động và công tác phòng chống rửa tiền.
Tuy nhiên do ngân hàng còn mới thành lập nên hệ thống quy trình, quy chế làm cơ sở
pháp l‎ý cho hoạt động quản trị rủi ro còn chưa đầy đủ và bài bản. Hệ thống công nghệ chưa thể
hỗ trợ toàn diện cho công tác quản trị rủi ro. Vì vậy, trong năm 2012, LienVietPostBank đang
tích cực hoàn thiện, chỉnh sửa khung chính sách và chiến lược quản trị rủi ro phù hợp để hỗ trợ
hiệu quả cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng cũng như hướng tới mục tiêu phù hợp với các
chuẩn mực quốc tế.
d) Phát triển mạng lưới
Trong năm 2011, ngân hàng mở thêm 16 điểm giao dịch trên phạm vi toàn quốc, đưa
tổng số điểm giao dịch của ngân hàng lên 60 và hiện tại, LienVietPostBank đã có mặt tài 21
Tỉnh/Thành phố.
Bằng việc hợp tác với VNPost và triển khai cung cấp sản phẩm dịch vụ ngân hàng thông
qua hệ thống mạng lưới bưu chính trên toàn quốc (hiện tại trên 10.000 điểm), LienVietPostBank
đã trở thành một trong những TCTD có mạng lưới rộng nhất cả nước.
2.2. Hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản tại Ngân hàng TMCP Bƣu điện Liên Việt
2.2.1. Khuôn khổ pháp l ý của hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản
a) Quy định của NHNN Việt Nam:
 Thông tư 13/2012/TT/NHNN “Quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt
động của Tổ chức tín dụng” (Thông tư 13): Thông tư 13 được NHNN ban hành vào
ngày 20/05/2010, có hiệu lực từ ngày 01/10/2010, gồm 22 điều, đề cập đến nhiều vấn
đề liên quan đến mức độ an toàn của các TCTD, trong đó có một số điểm mấu chốt
như sau: (i) Tăng tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR); (ii) hạn chế việc tham gia của các
TCTD vào các hoạt động liên quan đến chứng khoán và kinh doanh bất động sản;
(iii) tăng cường quy định về đảm bảo khả năng thanh khoản của các TCTD.
 Thông tư 15/2009/TT-NHNN “Quy định về tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn
được sử dụng để cho vay trung hạn và dài hạn đối với Tổ chức tín dụng” (Thông tư
15): Thông tư 15 được NHNN ban hành ngày 10/08/2009, trong đó quy định các
NHTM chỉ được sử dụng tối đa 30% vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn (so với

d) Ngoài ra trong trường hợp đặc biệt, ngân hàng còn có thể bán tài sản của mình để đáp
ứng nhu cầu thanh khoản, ví dụ như bán ngoại tệ (hiếm khi sử dụng vì nó ảnh hưởng đến trạng
thái ngoại tệ của TCTD). Đối với các tài sản khác như chứng khoán đầu tư sẵn sàng để bán (trái
phiếu chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp…) hầu hết có kỳ hạn tương đối dài, giao dịch trên thị
trường sẽ mất nhiều thời gian hơn nên cũng ít khi được sử dụng để đáp ứng nhu cầu thanh khoản
cấp bách. Và trên thực tế, cũng ít khi ngân hàng sử dụng phương án bán tài sản mà chỉ cầm cố
chúng làm tài sản bảo đảm để vay vốn mà thôi. Nguyên nhân của việc các ngân hàng ít sử dụng
phương án bán tài sản nhằm đáp ứng nhu cầu thanh khoản một phần xuất phát từ yêu tố chủ quan
là các tài sản ngân hàng nắm giữ thường là các chứng khoán đầu tư (kỳ hạn dài, nắm giữ đến lúc
đáo hạn). Tuy nhiên nguyên nhân phần lớn do yếu tố khách quan là thị trường chứng khoán thứ
cấp ở Việt Nam chưa phát triển, các giao dịch mua/bán diễn ra không sôi động và nhanh chóng,
trong khi nhu cầu thanh khoản của Ngân hàng là khẩn cấp.
Như vậy, hiện tại LienVietPostBank đang sử dụng hài hòa chiến lược quản trị thanh khoản
dự trữ và thanh khoản nợ để đáp ứng nhu cầu thanh khoản của toàn hệ thống. Chiến lược quản trị
thanh khoản hỗn hợp này được sử dụng tương đối hiệu quả.
Trường hợp thanh khoản của ngân hàng cực kỳ khó khăn, việc tiếp cận vốn vay trên thị
trường liên ngân hàng cũng không hề dễ dàng (dịp cuối năm), ngân hàng còn sử dụng phương án
hạn chế giải ngân mới. Tuy nhiên phương pháp này chỉ được dung trong trường hợp bất khả
kháng vì nó sẽ ảnh hưởng đến uy tín của ngân hàng và lòng tin của khách hàng đối với ngân
hàng.
2.2.3. Nội dung hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản
a) Nhân sự và tổ chức:
Các Đơn vị/bộ phận tham gia vào hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản bao gồm:
 Hội đồng quản trị.
 Ủy ban ALCO, Pháp chế, QLRR & PCRT (thuộc Hội đồng quản trị).
 Hội đồng ALCO (trực thuộc Ủy ban ALCO, Pháp chế, QLRR & PCRT).
 Tổng Giám đốc.
 Phòng ALM – Khối Tài chính.
 Các Khối/Phòng/Ban tại Hội sở.
b) Quy trình:

o Báo cáo MCO
o Báo cáo ALCO định kỳ
o Hạn mức và các tỷ lệ thanh khoản:
 Các tỷ lệ theo quy định của NHNN:
 Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR)
 Tỷ lệ giữa Tổng tài sản Có thanh toán ngay và Tổng nợ phải trả
 Tỷ lệ giữa Tổng tài sản Có đến hạn thanh toán trong 7 ngày tiếp theo kể từ
hôm sau và Tổng tài sản Nợ đến hạn thanh toán trong 7 ngày tiếp theo
 Tỷ lệ cấp tín dụng từ nguồn vốn huy động
 Tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn
 Các tỷ lệ về cơ cấu tài sản:
 Tỷ lệ vốn khả dụng/Tổng tài sản
 Tỷ lệ tài sản lỏng/Tổng tài sản
 Tỷ lệ chứng khoán đầu tư/Tổng tài sản
 Tỷ lệ Giấy tờ có giá có thể chiết khấu, tham gia thị trường mở/Tổng tài sản
 Tỷ lệ cho vay/ Tổng tài sản
 Các tỷ lệ về cơ cấu nguồn:
 Tỷ lệ nguồn vốn huy động từ thị trường 2/Tổng nguồn vốn
 Tỷ lệ nguồn vốn huy động từ khách hàng/Tổng nguồn vốn huy động
 Tỷ lệ nguồn vốn huy động từ dân cư/Tổng nguồn vốn huy động
 Tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn/Tổng nguồn vốn huy động
 Tỷ lệ tiền gửi & cho vay TCTD/nhận tiền gửi & vay TCTD
o Kế hoạch vốn dự phòng:
 Được sử dụng cho việc quản lý thanh khoản hàng ngày;
 Được xây dựng dựa trên các giả định về những biến động bất thường có thể
xảy ra gây mất cân đối thanh khoản của ngân hàng;
 Phản ánh tập hợp những chiến lược duy trì vốn khả dụng, khả năng chuyển
đổi tài sản sang tiền và huy động thêm vốn mới để đáp ứng nhu cầu trong từng
trường hợp cụ thể mà ngân hàng có thể gặp phải.
2.3. Thực trạng thanh khoản của Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt

tổng tài sản, vốn tự có của ngân hàng cũng không ngừng tăng lên. Do vậy tỷ lệ CAR của ngân
hàng vẫn tương đối cao, theo đúng quy định của NHNN tại Thông tư 13.
Tuy nhiên tỷ lệ khả năng thanh toán ngay trong 2 năm 2010 và 2011 vẫn chưa đạt (dưới
mức 15%). Nguyên nhân chủ yếu là do khối lượng tài sản Có thanh toán ngay ở mức tương đối
thấp, cụ thể ở đây là tiền gửi tại NHNN.
Tỷ lệ khả năng thanh toán trong vòng 7 ngày của ngân hàng ở trong tình trạng ổn định và
tốt do đối tượng tài sản Có được tính vào mở rộng hơn so với tỷ lệ khả năng thanh toán ngay.
2.3.2. Một số chỉ tiêu quan trọng Ngân hàng theo dõi
Bảng 2.3: Các chỉ tiêu thanh khoản do Ngân hàng theo dõi
STT
Chỉ tiêu
2010
2011
Tháng
06/2012
1
Vốn khả dụng/Tổng Tài sản Có
1.40
2.77
1.44
2
Chứng khoán đầu tư/Tổng Tài sản
48.07
28.45
21.68
3
Giấy tờ có giá có thể chiết khấu, tham gia thị

11.89
7.36
11.73
9
Tiền gửi & cho vay TCTD/Nhận tiền gửi & vay
TCTD
44.76
96.84
105.01
(Nguồn: Báo cáo tài chính đã được kiểm toán của các năm)
Các tỷ lệ (1), (2) và (3) tỷ lệ thuận với khả năng thanh khoản của ngân hàng. Tuy nhiên
LienVietPostBank duy trì tỷ lệ (1) tương đối thấp. Trung bình các TCTD nên duy trì tỷ lệ này ở
mức 5%.
Tỷ lệ (3) của LienVietPostBank tương đối cao. Tuy nhiên các chứng khoán đầu tư của
ngân hàng chủ yếu là trái phiếu do tổ chức kinh tế phát hành (bản chất là các khoản cho vay dài
hạn), Chứng khoán nợ nước ngoài (CLN) còn lại là trái phiếu chính phủ và các TCTD khác phát
hành. Do đó xét trên thực tế tỷ lệ (2) cao chưa phản ánh thực sự khả năng thanh khoản của
LienVietPostBank. Ngân hàng cần điều chỉnh lại cơ cấu danh mục đầu tư để vừa đảm bảo lợi
nhuận nhưng đồng thời cũng nâng cao khả năng thanh khoản của mình.
Tỷ lệ (4) tỷ lệ nghịch với khả năng thanh khoản của ngân hàng bởi vì các khoản cho vay
là tài sản có tính thanh khoản thấp nhất mà ngân hàng nắm giữ. Tỷ lệ (4) ở bảng trên chưa tính
đến các khoản cho vay doanh nghiệp dưới dạng trái phiếu tổ chức kinh tế mà ngân hàng nắm giữ
(khoảng gần 6.000 tỷ tính tại thời điểm 30/06/2012). Nếu tinh đến khoản mục trái phiếu tổ chức
kinh tế thì tỷ lệ (4) này tăng lên đến mức 60%. Đồng thời các khoản cho vay này là dài hạn. Điều
đó càng tăng rủi ro thanh khoản cho ngân hàng.
Các tỷ lệ (5), (6) (7) và (8) phản ánh cơ cấu nguồn vốn của LienVietPostBank. So sánh tỷ
lệ (5) và (6) chúng ta thấy rằng nguồn vốn huy động từ khách hàng (nguồn vốn thị trường (1)
chiếm tỷ trọng nhiều hơn trong tổng nguồn vốn huy động của LienVietPostBank. Trong năm
2012 tỷ lệ (5) đạt mức thấp nhất do trong giai đoạn này thanh khoản của ngân hàng tương đối dồi
dào (hoạt động tín dụng hạn chế). Nguồn vốn thị trường 1 là nguồn vốn tương đối ổn định so với

thuận lợi cho hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản hàng ngày.
c) Xây dựng hệ thống thông tin, báo cáo:
Để đáp ứng yêu cầu quản lý thanh khoản (dự báo thanh khoản và quyết định trạng thái
thanh khoản) đồng thời giám sát việc tuân thủ các chính sách, quy trình, thủ tục quản lý rủi ro
thanh khoản và các giới hạn rủi ro thanh khoản, ngân hàng đã xây dựng hệ thống thông tin, báo
cáo tương đối đầy đủ dựa trên nền tảng hệ thống Corebanking.
d) Về phương pháp đo lường thanh khoản:
Về cơ bản LienVietPostBank thực hiện theo quy định tại Thông tư số 13 và các văn bản
sửa đổi có liên quan của Thống đốc NHNN, thông qua việc:
(i) Thiết lập thang đáo hạn, xác định chênh lệch ròng của luồng vốn vào và luồng vốn
ra cho từng kỳ hạn và chênh lệch ròng gộp đối với mỗi đồng tiền (báo cáo MCO);
(ii) Xác định và duy trì các tỷ lệ về khả năng chi trả đối với từng loại tiền tệ.
Với sự quan tâm và chú trọng đúng mức của Hội đồng quản trị và các bộ phận nghiệp vụ
có liên quan, thanh khoản của ngân hàng trong giai đoạn 2010 - 2011 tương đối ổn định. Thời
điểm nửa cuối năm 2011, lạm phát của nền kinh tế ở mức cao, đứng trước tình trạng đó, Thống
đốc NHNN đã đưa ra chính sách thắt chặt tiền tệ. Điều này khiến cho hệ thống NHTM lâm vào
tình trạng khó khăn về thanh khoản nghiêm trọng.
Đứng trước tình trạng khó khăn chung của toàn hệ thống, LienVietPostBank không thể
không chịu tác động tiêu cực. Tuy nhiên ngân hàng đã sử dụng linh hoạt phương pháp quản trị
thanh khoản nợ để đáp ứng nhu cầu nguồn vốn của hệ thống. Vì thế thanh khoản của ngân hàng
vẫn được duy trì ổn định. Đến đầu năm 2012, ngân hàng đã ở trong trạng thái dư thừa thanh
khoản.
Để vượt qua được giai đoạn khó khăn đó, có thể nói một phần cũng là nhờ hoạt động
quản trị rủi ro thanh khoản phát huy được hiệu quả. Nhận diện được rủi ro thanh khoản tiềm ẩn
vào giai đoạn cuối năm nên các nhà quản trị rủi ro đã chuẩn bị sẵn phương án xử lý.
2.4.2. Những tồn tại và nguyên nhân
a) Khung pháp lý cơ bản liên quan đến hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản chưa được
ban hành chính thức:
Mặc dù ngân hàng đã đi vào hoạt động hơn 4 năm, tuy nhiên Chính sách Quản lý rủi ro
mới được ban hành vào nửa cuối năm 2012 còn quy định chi tiết, cụ thể về hoạt động quản trị rủi

Công tác quản trị rủi ro thanh khoản tại LienVietPostBank mặc dù đạt những kết quả nhất
định tuy nhiên cần phải đẩy nhanh hoàn thiện hơn nữa mới có thể đối phó với những biến động
ngày càng phức tạp của nền kinh tế như hiện nay.
Hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản trong thời gian qua đã có tác động đến tình hình
thanh khoản của ngân hàng ở một số điểm sau:
Quy trình quản trị rủi ro thanh khoản của LienVietPostBank chưa được xây dựng hoàn
chỉnh. Ngân hàng mới chỉ chú trọng vào bước giám sát và xử lý rủi ro mà bỏ qua bước nhận diện
và cảnh báo sớm về nguy cơ xảy ra rủi ro thanh khoản cũng như xây dựng kế hoạch dự phòng.
Vì vậy khi gặp khó khăn về thanh khoản ngân hàng sẽ lâm vào thế bị động và lúng túng trong
việc tìm phương án đối phó.
Mặt khác, phương pháp quản trị rủi ro của ngân hàng thiên về quản trị thanh khoản nợ.
Các tài sản dự trữ chủ yếu là chứng khoán đầu tư với kỳ hạn tương đối dài, tính thanh khoản trên
thị trường không cao do đó khi diễn biến thị trường gặp chiều hướng xấu, thanh khoản của toàn
hệ thống gặp khó khăn như giai đoạn cuối năm 2011 thì LienVietPostBank cũng bị cuốn theo.
Ngân hàng buộc phải vay vốn trên thị trường liên ngân hàng với lãi suất cao, đẩy lãi suất huy
động thị trường 1 tăng lên để cạnh tranh với các TCTD khác.
Nguồn thông tin, số liệu phục vụ cho hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản nhiều khi còn
chưa phản ánh đúng thực tế và chính xác thực trạng thanh khoản của ngân hàng do đó có thể dẫn
đến những nhận định và đánh giá sai của nhà quản trị rủi ro thanh khoản.
Như vậy với quy trình và phương pháp quản trị rủi ro thanh khoản còn hạn chế đã ảnh
hưởng tiêu cực tới trạng thái thanh khoản của LienVietPostBank trong giai đoạn năm 2010 -
2011.
Sang giai đoạn đầu năm 2012, rút kinh nghiệm từ những khó khăn phải trải qua trong thời
điểm cuối năm 2011 liên quan đến thanh khoản, các cấp lãnh đạo đã thực sự quan tâm và hết
sức chú trọng đến hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản của ngân hàng. Điều đó biểu hiện ở việc
ra đời liên tục các văn bản liên quan đến chính sách quản lý rủi ro, thay đổi cơ cấu nhân sự của
Ủy ban ALCO, Pháp chế, QLRR và PCRT và HĐ ALCO cũng như cơ chế làm việc của các Ủy
ban và Hội đồng này. Những thay đổi trên cộng với những tác động tích cực từ thị trường và
chính sách của NHNN đã giúp thanh khoản của ngân hàng được ổn định, có lúc dư thừa thanh
khoản trong ngắn hạn. Tuy nhiên lúc này đây các nhà quản trị rủi ro thanh khoản ngân hàng lại

8.49%
(Nguồn: Báo cáo tài chính đã được kiểm toán của các năm)
b) Mục tiêu tổng quát:
Tái cấu trúc từng hoạt động nghiệp vụ trên cơ cở xem xét sửa đổi quy chế, quy định; đổi
mới con người từ cách nghĩ, cách làm đến việc thay thế nhân sự; xử l‎ý dứt điểm những tồn tại
nếu có; phát triển an toàn, bền vững, thượng tôn pháp luật.
3.1.2. Định hướng
Bám sát vào chiến lược hoạt động dài hạn của LienVietPostBank “Bán lẻ - Dịch vụ - Kinh
doanh đa năng” trở thành “Ngân hàng bán lẻ hàng đầu Việt Nam - Ngân hàng của mọi người”.
Năm 2012 được xác định là điểm rơi khó khăn chung của nền kinh tế, cũng là năm Việt
Nam có nhiều cơ hội cho dấu hiệu bước đầu phục hồi kinh tế, nên hoạt động ngân hàng có cả
những diễn biến phức tạp, thách thức và cơ hội kinh doanh nếu biết nhìn xa, trông rộng và xử l‎ý
tình huống nhanh nhạy “đi trước đón đầu”.
Năm 2012, LienVietPostBank xác định:
 Sổ sách lành mạnh để minh bạch;
 Có nhiều dịch vụ mới, mạng lưới mới, chất lượng để phục vụ bán lẻ; có nhiều nguồn
vốn để kinh doanh tạo lợi nhuận;
 Có nhân sự mạnh để hệ thống phát triển hơn.
3.1.3. Giải pháp
a) Khắc phục những tồn tại của năm 2011, xử l‎ý dứt điểm những tồn tại nghiệp vụ để tập
trung sức phát triển;
b) Tập trung thu hút mạnh nguồn vốn với chi phí đầu vào hợp l‎ý đồng thời mở rộng đầu ra
tín dụng và đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ một cách có hiệu quả;
c) Tăng cường củng cố nguồn lực con người, với phương châm “tất cả từ con người, tất cả
vì con người”;
d) Nâng cao chất lượng quản trị, điều hành;
e) Hiện đại hóa hoạt động đáp ứng yêu cầu phát triển, nhất là nối mạng hoạt động mạng lưới
tiết kiệm bưu điện tương thích với hệ thống corebanking.
3.2. Một số giải pháp cải thiện hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản tại Ngân hàng TMCP
Bƣu điện Liên Việt

khách hàng mà vẫn có thể đảm bảo tương đối tính ổn định lâu dài của nguồn vốn.
3.2.3. Xây dựng và hoàn thiện quy trình quản trị rủi ro thanh khoản
Sau hơn 4 năm đi vào hoạt động cũng như trải qua nhiều biến động thăng trầm của thị
trường mà ngân hàng vẫn chưa thể hoàn thiện và ban hành Quy định về quản lý rủi ro thanh
khoản là một thiếu sót vô cùng lớn.
Việc Quy định về quản lý rủi ro thanh khoản chưa được ban hành khiến cho hoạt động
quản trị rủi ro thanh khoản hiện đang bị bỏ ngỏ. Ngân hàng chưa có một quy trình chuẩn làm căn
cứ để các đơn vị có liên quan theo đó thực hiện hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản một cách
trình tự, chính xác. Đồng thời trách nhiệm của các đơn vị và bộ phận có liên quan theo đó không
được phân định rõ ràng, có sự chồng chéo, ỷ lại giữa các bên liên quan trong công tác quản trị rủi
ro thanh khoản của ngân hàng.
3.2.4. Vận dụng phương pháp, công cụ quản trị rủi ro thanh khoản khoa học của thế giới
(điều chỉnh phù hợp với thực tế hoạt động của ngân hàng)
Thông tư 13 và các văn bản sửa đổi ra đời đã đưa ra một số yêu cầu liên quan đến hoạt
động quản trị rủi ro thanh khoản tương đối cập nhật theo chuẩn mực quốc tế, cụ thể như sau:
 Xây dựng hệ thống đo lường, đánh giá và báo cáo về khả năng chi trả, khả năng
thanh khoản và hệ thống cảnh báo sớm về rủi ro thiếu hụt tạm thời khả năng chi trả
và các giải pháp xử lý;
 Xây dựng mô hình đánh giá và thử nghiệm khả năng chi trả, thanh khoản (Stress-
testing). Mô hình đánh giá và thử nghiệm khả năng chi trả, thanh khoản phải có các
tình huống để phân tích (scenario analysis) về khả năng chi trả, tính thanh khoản.
Với những đòi hỏi khắt khe như vậy, ngân hàng phải vận dụng những phương pháp, công
cụ quản trị rủi ro thanh khoản khoa học của thế giới (điều chỉnh phù hợp với thực tế hoạt động
của ngân hàng) để hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản hiệu quả hơn và đáp ứng theo quy định
của NHNN.
3.2.5.Các biện pháp hỗ trợ
 Thông tin.
 Công nghệ thông tin.
 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực quản lý thanh khoản.
 Củng cố hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ.

phát triển. Đồng thời cần nhìn nhận vấn đề đảm bảo dự trữ bắt buộc ở nhiều khía
cạnh: là công cụ để đảm bảo an toàn trong hoạt động nhưng vẫn phải đảm bảo tính
hiệu quả trong việc sử dụng nguồn vốn trên toàn hệ thống, tránh tình trạng hiện nay
một số ngân hàng phải duy trì số dư tiền gửi đến vài nghìn tỷ VND tại NHNN trong
khi nhu cầu thanh khoản hàng ngày chỉ bằng 1/3 hay 1/5 con số đó. Để giải quyết
tình trạng trên, NHNN có thể xem xét việc quy định tỷ lệ DTBB theo từng thời điểm
trong năm (ví dụ tỷ lệ phải duy trì trong thời điểm cuối năm có thể cao hơn trong
năm) hay chỉ áp dụng hình thức phạt kinh tế đối với các ngân hàng vi phạm…
 Đối với công cụ tái cấp vốn: cần hoàn thiện để tạo ra khả năng cho các NHTM có thể
tiếp cận nguồn tái cấp vốn của NHNN, sao cho NHNN thực hiện tốt chức năng là
người cho vay cuối cùng.
 Bên cạnh đó NHNN cũng cần tiếp tục nghiên cứu gắn việc tự do hóa lãi suất với tự
do hóa tỷ giá hối đoái để lãi suất và tỷ giá thực sự là tín hiệu phản ánh cung, cầu về
vốn trên thị trường.
3.3.3.Xây dựng chính sách và quy trình kiểm soát, đo lường rủi ro (dần tiến tới các chuẩn
mực quốc tế về đảm bảo an toàn thanh khoản):
Việc Thông tư 13 và các văn bản sửa đổi ra đời đã đánh dấu một bước tiến mới trong việc
hướng dẫn, kiểm soát hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản của NHNN đối với các NHTM. Theo
đó NHNN đã dần đưa các chuẩn mực quốc tế liên quan đến việc đảm bảo an toàn thanh khoản


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status