Hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Bưu điện Liên Việt - thực trạng và giải pháp - Pdf 25



MỤC LỤC

Trang
Danh mục các ký hiệu viết tắt……………………………………………….
i
Danh mục các bảng………………………………………………………….
ii
Danh mục sơ đồ……………………………………………………………
ii
MỞ ĐẦU…………………………………………………………………….
1
CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO
THANH KHOẢN TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG
MẠI…………………………………………………………………………
4
1.1. Rủi ro thanh khoản……………………………………………………
4
1.1.1. Khái niệm tính thanh khoản và rủi ro thanh khoản ………………
4
1.1.2. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro thanh khoản…………………………….
10
1.1.3. Tác động của rủi ro thanh khoản đến hoạt động của NHTM…………
11
1.2. Nội dung quản trị rủi ro thanh khoản của NHTM……………………
13
1.2.1. Các phƣơng pháp đo lƣờng trạng thái thanh khoản của ngân hàng
13
1.2.2. Các chiến lƣợc quản trị thanh khoản……………………………….
17

48
2.4. Đánh giá……………………………………………………………….
52
2.4.1. Những kết quả đạt đƣợc…………………………………………….
52
2.4.2. Những tồn tại và nguyên nhân………………………………………
55
2.4.3. Tác động của công tác quản trị rủi ro thanh khoản đến tình hình thanh
khoản của ngân hàng……………………………………………………….
59
CHƢƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ CẢI THIỆN HOẠT
ĐỘNG QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN TẠI NGÂN HÀNG
THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN BƢU ĐIỆN LIÊN VIỆT
61
3.1. Định hƣớng và mục tiêu phát triển của Ngân hàng TMCP Bƣu điện
Liên Việt trong thời gian tới (năm 2012)…………………………………
61
3.1.1. Các mục tiêu chủ yếu………………………………………………
61
3.1.2. Định hƣớng…………………………………………………………
61
3.1.3. Giải pháp…………………………………………………………….
62
3.2. Một số giải pháp cải thiện hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản tại
Ngân hàng TMCP Bƣu điện Liên Việt…………………………………….
63
3.2.1. Hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy quản trị rủi ro thanh khoản……
63
3.2.2. Xác định mục tiêu, chiến lƣợc quản trị thanh khoản phù hợp……
64
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
STT
Ký hiệu
Nguyên nghĩa
1
ALM
Hoạt động quản trị tài sản Nợ - tài sản Có
2
HĐ ALCO
Hội đồng ALCO
3
LienVietPostBank
Ngân hàng TMCP Bƣu điện Liên Việt
4
NHNN
Ngân hàng Nhà nƣớc

STT
Bảng
Nội dung
Trang
1
Bảng 2.1
Kết quả hoạt động kinh doanh
26
2
Bảng 2.2
Chỉ tiêu thanh khoản theo quy định của Ngân hàng
Nhà nƣớc
47
3
Bảng 2.3
Các chỉ tiêu thanh khoản do ngân hàng theo dõi
49
4
Bảng 3.1
Chỉ tiêu dự kiến năm 2012
61
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Trong thời gian vừa qua, trƣớc những tác động tiêu cực của sự bất ổn định
nền kinh tế vĩ mô (lạm phát leo thang) và các chính sách của Nhà nƣớc (kiềm
chế lạm phát), thanh khoản của hệ thống ngân hàng thƣơng mại (NHTM) đã bị
ảnh hƣởng nghiêm trọng, cá biệt có một số ngân hàng rơi vào tình trạng thiếu
thanh khoản. Điều này không chỉ gây ảnh hƣởng nghiêm trọng đến hoạt động
kinh doanh của bản thân ngân hàng mà còn tác động đến thị trƣờng tiền tệ và
toàn bộ nền kinh tế nói chung. Đứng trƣớc những vấn đề đó, các ngân hàng đã
nhận thức đƣợc tầm quan trọng của công tác quản trị rủi ro thanh khoản trong
hoạt động kinh doanh của mình.
Xuất phát từ thực tế nêu trên, việc tìm hiểu cách tiếp cận hiện đại trong quản
trị rủi ro thanh khoản, ứng dụng nó để phân tích hoạt động quản trị rủi ro thanh
khoản trong hệ thống NHTM Việt Nam nói chung và Ngân hàng thƣơng mại cổ
phần (TMCP) Bƣu điện Liên Việt nói riêng là cần thiết, góp phần hoàn thiện một
bƣớc quy trình và nâng cao chất lƣợng hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản
trong ngân hàng. Đề tài “Hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản tại Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt - Thực trạng và giải pháp” đƣợc lựa chọn nhằm đáp
ứng nhu cầu trên.
2. Tình hình nghiên cứu
Liên quan đến công tác quản trị rủi ro thanh khoản trong hệ thống NHTM đã
có một số công trình nghiên cứu, bài viết có giá trị cao nhƣ:
Kỷ yếu hội thảo khoa học “Quản lý thanh khoản tại các Ngân hàng thƣơng
mại Việt Nam”, năm 2008, của Nhà xuất bản Thống kê.
Bài viết “Rủi ro thanh khoản của các Ngân hàng thƣơng mại Việt Nam và
giải pháp khắc phục”, năm 2008, của TS. Lê Văn Hùng và Trần Văn
Thịnh.
Tuy nhiên, trên thực tế các NHTM thƣờng không thực sự chú trọng đến hoạt
động quản trị rủi ro thanh khoản và thực hiện nó một cách khoa học, hiệu quả
(hầu nhƣ chỉ thực hiện xử lý sau khi đã xuất hiện rủi ro hoặc quản trị rủi ro trong

pháp phù hợp.
o Đóng góp cho quy trình cơ bản của hoạt động quản trị tài sản Nợ - tài sản
Có (ALM) của các NHTM, trong đó một nội dung quan trọng là quản trị
rủi ro thanh khoản.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận
văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng:
Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về quản trị rủi ro thanh khoản trong hoạt
động của Ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản tại Ngân
hàng thương mại cổ phần Bưu điện Liên Việt.
Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị cải thiện hoạt động quản trị rủi
ro thanh khoản tại Ngân hàng thương mại cổ phần Bưu điện Liên Việt. CHƢƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN
TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI
1.1 Rủi ro thanh khoản
1.1.1 Khái niệm tính thanh khoản và rủi ro thanh khoản
1.1.1.1 Các cách tiếp cận
Có nhiều cách tiếp cận và cách hiểu khác nhau về tính thanh khoản.
Dƣới góc độ tài sản: thanh khoản đƣợc hiểu là khả năng chuyển hóa thành
tiền của tài sản. Theo Giáo sƣ Peter Rose, một tài sản có tính thanh khoản cao
khi nó thỏa mãn đồng thời ba đặc điểm: có một thị trƣờng sẵn sàng để có thể
đƣợc chuyển thành tiền nhanh chóng; giá của tài sản phải ổn định, dù tài sản giá
trị lớn thế nào hay cần đƣợc bán nhanh ra sao, thị trƣờng vẫn đủ “sâu” để chấp
nhận với mức giá thay đổi không đáng kể; thị trƣờng của tài sản phải có khả

sinh lời. Vấn đề thanh khoản chỉ xuất hiện khi ngân hàng đứng trƣớc nhu cầu rút
tiền từ khách hàng. Khi đó ngân hàng không chỉ lo cân đối nhu cầu rút tiền với
lƣợng tiền hiện có, mà còn là cân đối với khả năng huy động vốn tiếp theo. Vì
thế, tính thanh khoản của ngân hàng phải đƣợc nhìn ở trạng thái động, tức là xem
xét trong tƣơng quan cung - cầu thanh khoản của ngân hàng trong giai đoạn nhất
định.
Tƣơng quan cung - cầu về vốn thanh khoản này quyết định trạng thái thanh
khoản ròng của ngân hàng tại bất cứ thời điểm nào. Khi nhu cầu về thanh khoản
của ngân hàng vƣợt quá cung thanh khoản, ngân hàng đứng trƣớc tình trạng thâm hụt thanh khoản, nhà quản trị ngân hàng phải quyết định xem vốn thanh
khoản bổ sung sẽ đƣợc huy động ở đâu và vào lúc nào. Ngƣợc lại, nếu tại một
thời điểm nào đó, tổng cung thanh khoản vƣợt quá tổng cầu thanh khoản, tình
trạng thặng dƣ thanh khoản xuất hiện và nhà quản trị ngân hàng phải xem xét
việc đầu tƣ có hiệu quả các khoản thặng dƣ vốn thanh khoản này cho tới khi
chúng cần đƣợc sử dụng để đáp ứng nhu cầu thanh khoản trong tƣơng lai.
Cầu thanh khoản phản ánh nhu cầu rút tiền khỏi ngân hàng ở những thời
điểm khác nhau, nhu cầu này phát sinh từ các yêu cầu rút vốn khỏi ngân hàng từ
những khách hàng gửi tiền, nhu cầu tín dụng của các khách hàng mà ngân hàng
đã cấp hạn mức và các nhu cầu khác nhƣ thanh toán nợ đến hạn với các Tổ chức
tín dụng (TCTD) khác, đáp ứng các yêu cầu của Ngân hàng Nhà nƣớc
(NHNN),… Cần lƣu ý một điểm rằng, trong thời điểm lãi suất cao thì các khách
hàng vay mới cũng nhƣ các khách hàng đã đƣợc ngân hàng cấp hạn mức tín
dụng sẽ không có nhu cầu giải ngân. Tuy nhiên khi lãi suất vay vốn xuống mức
thấp thì cầu về thanh khoản sẽ tăng mạnh do lúc này các khách hàng đƣợc cấp
hạn mức tín dụng trƣớc đó sẽ phát sinh nhu cầu giải ngân nhiều. Đối với những
khách hàng vay vốn mới, ngân hàng có quyền từ chối, nhƣng đối với những
khách hàng đã đƣợc ngân hàng ký cam kết tín dụng thì buộc phải có nghĩa vụ
thực hiện cam kết đó. Cầu thanh khoản sẽ chịu sự tác động của các nhân tố:

chúng có thể đem lại nhiều rủi ro hơn việc gửi tiền vào ngân hàng nhƣng một lƣợng lớn nhà đầu tƣ sẽ có xu hƣớng rút vốn khỏi ngân hàng để chuyển sang các
kênh đầu tƣ sinh lợi này hơn, do đó làm gia tăng cầu thanh khoản.
Các nhân tố trên có mức độ tác động khác nhau đến cầu thanh khoản của
ngân hàng, tùy vào điều kiện, hoàn cảnh, mức độ và cƣờng độ tác động.
Nguồn cung thanh khoản của ngân hàng đến chủ yếu từ các khoản tiền gửi
mới; nguồn thanh toán nợ của khách hàng và nguồn vốn vay nợ trên thị trƣờng
tiền tệ và NHNN. Các nguồn cung thanh khoản này chịu sự tác động của các
nhân tố:
Trƣớc hết là các quy định và chính sách tiền tệ của NHNN. Khi NHNN thực
hiện chính sách tiền tệ thắt chặt thông qua việc tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tăng lãi
suất chiết khấu và tái cấp vốn, bán tín phiếu cho các ngân hàng,… sẽ làm giảm
khả năng vay vốn của các ngân hàng từ NHNN và trên thị trƣờng tiền tệ.
Thứ hai, các điều kiện kinh tế vĩ mô: trong điều kiện môi trƣờng kinh doanh
thuận lợi, tăng trƣởng cao,… thì việc huy động các khoản tiền gửi từ khu vực
dân cƣ và các tổ chức kinh tế trở nên dễ dàng hơn, các nguồn tiền gửi gia tăng
giúp tăng nguồn cung thanh khoản cho ngân hàng. Cũng tƣơng tự, khả năng trả
nợ của khách hàng tăng, doanh thu từ việc cung cấp các dịch vụ tài chính tăng,…
làm tăng cung thanh khoản. Ngƣợc lại, khi điều kiện kinh tế vĩ mô trở nên xấu đi
nhƣ môi trƣờng kinh doanh không thuận lợi, suy thoái kinh tế hay lạm phát
cao,… sẽ có tác động làm giảm nguồn cung tiền gửi, giảm khả năng trả nợ của
khách hàng, giảm các khoản thu dịch vụ khác của ngân hàng, kết quả là nguồn
cung vốn khả dụng của ngân hàng giảm.
Thứ ba, sự phát triển và tính dễ dàng tiếp cận của thị trƣờng tiền tệ. Thị
trƣờng tiền tệ là nguồn huy động vốn ngắn hạn linh hoạt và an toàn của các ngân
hàng. Thị trƣờng tiền tệ phát triển và nếu các ngân hàng đều có khả năng tiếp cận
1.1.2.1 Nguyên nhân khách quan
Thay đổi trong điều hành chính sách tiền tệ của NHNN thông qua các công
cụ nhƣ tỷ lệ dự trữ bắt buộc, các loại lãi suất nhƣ lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp
vốn, lãi suất thị trƣờng mở… Khi các chỉ số này tăng thì sẽ gián tiếp tác động
làm cho nguồn cung thanh khoản của các ngân hàng bị giảm xuống và chi phí
vay vốn của ngân hàng tăng lên.
Thay đổi lựa chọn kênh đầu tƣ của các nhà đầu tƣ do có sự thay đổi đáng kể
về lợi suất. Khách hàng luôn luôn có sự lựa chọn đầu tƣ vào nơi có lợi suất cao
hơn. Vì thế thay đổi trong lãi suất có thể tác động đến cả ngƣời gửi tiền và ngƣời
vay vốn. Khi lãi suất giảm, việc gửi tiền vào ngân hàng trở nên kém hấp dẫn
hơn, một số ngƣời gửi tiền có xu hƣớng rút vốn khỏi ngân hàng để đầu tƣ vào
nơi có tỷ suất sinh lợi cao hơn. Trong khi đó, những ngƣời đi vay tích cực tiếp
cận các khoản tín dụng vì lãi suất đã thấp hơn trƣớc (bao gồm các khoản vay mới
và hạn mức tín dụng đƣợc cấp với lãi suất cho vay thả nổi theo lãi thị trƣờng).
Ngƣợc lại khi lãi suất tăng, trạng thái thanh khoản của ngân hàng cũng có thể bị
tác động theo chiều hƣớng xấu. Nhƣ đã đề cập ở trên, khi lãi suất tăng nhu cầu
giải ngân của khách hàng có thể tăng lên (đối với các Hợp đồng tín dụng ký kết
giữa ngân hàng và khách hàng có lãi suất cố định) làm tăng cầu thanh khoản của
ngân hàng. Tuy nhiên lúc này nguồn vốn huy động từ khách hàng cũng có xu
hƣớng tăng lên làm tăng nguồn cung thanh khoản của ngân hàng. Trạng thái
thanh khoản của ngân hàng có thể diễn biến theo chiều hƣớng xấu hơn nếu nguồn tăng cung thanh khoản không đủ bù đắp lƣợng tăng lên của nhu cầu thanh
khoản.
Nhƣ vậy, rốt cuộc lãi suất thay đổi sẽ ảnh hƣởng đến trạng thái thanh khoản
của ngân hàng. Hơn nữa, những xu hƣớng của sự thay đổi lãi suất còn ảnh hƣởng
đến giá trị thị trƣờng của các tài sản mà ngân hàng có thể đem bán để tăng thêm
nguồn cung thanh khoản và trực tiếp ảnh hƣởng đến chi phí vay mƣợn trên thị
trƣờng tiền tệ. Nguyên nhân này có hệ quả từ nguyên nhân thứ nhất.

Nhƣ đã đề cập ở các phần trên, tâm lý khách hàng có hiệu ứng dây chuyền
và hoạt động của các ngân hàng cũng mang tính hệ thống. Việc phá sản của một
ngân hàng sẽ dẫn đến sự hoảng loạn của ngƣời gửi tiền, kéo theo sự rút tiền hàng
loạt ở các ngân hàng khác và lúc này kéo theo sự sụp đổ của toàn hệ thống chứ
không chỉ của một ngân hàng riêng lẻ. Chính vì điều này nên hầu nhƣ không một
nƣớc nào để cho một ngân hàng sụp đổ mà sẽ có biện pháp hỗ trợ kịp thời, nhanh
chóng nhằm tránh đổ vỡ hệ thống tài chính của quốc gia.
Khi nguồn vốn của hệ thống ngân hàng khan hiếm, lãi suất cho vay sẽ tăng
lên, đẩy chi phí vốn đầu vào của các doanh nghiệp cũng tăng theo và việc tiếp
cận nguồn vốn khó khăn. Do đó tăng trƣởng của nền kinh tế chắc chắn sẽ bị
giảm sút.
Nhƣ vậy có thể nói rằng tác động của rủi ro thanh khoản đến một ngân hàng
là rất lớn và nó không chỉ nằm ở phạm vi cá thể mà có thể ảnh hƣởng lan rộng
đến toàn hệ thống tài chính cũng nhƣ nền kinh tế của một quốc gia. Vì vậy hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản hiện nay càng trở nên quan trọng hơn bao giờ
hết.
1.2 Nội dung quản trị rủi ro thanh khoản của NHTM
1.2.1 Các phương pháp đo lường trạng thái thanh khoản của ngân hàng
1.2.2.1 Phương pháp tiếp cận nguồn vốn và sử dụng vốn
Cách đo lƣờng này bắt đầu với thực tế là: Khả năng thanh khoản tăng khi
tiền gửi tăng và cho vay giảm; và khả năng thanh khoản giảm khi tiền gửi giảm
và cho vay tăng. Bất cứ khi nào nguồn thanh khoản và sử dụng thanh khoản
không bằng nhau, ngân hàng phải đối mặt với khe hở tài trợ (financing gap). Khe
hở này đƣợc đo bằng độ chênh lệch giữa tổng nguồn vốn huy động trung bình và
tổng dƣ nợ trung bình.
Khe hở tài trợ = Tổng dƣ nợ trung bình - Tổng nguồn vốn huy động
trung bình
Nếu khe hở này là dƣơng thì ngân hàng buộc phải bù đắp bằng các khoản

ngân hàng, ví dụ nhƣ:
(i) Nhóm vốn “nóng” là vốn vay và tiền gửi nhạy cảm với lãi suất đƣợc dự
tính sẽ bị rút khỏi ngân hàng trong kỳ kế hoạch
(ii) Nhóm vốn kém ổn định gồm các khoản tiền gửi của khách hàng trong
đó một phần đáng kể (25% - 30%) sẽ có thể bị rút ra khỏi ngân hàng tại một thời
điểm nào đó trong kỳ kế hoạch
(iii) Nhóm vốn ổn định (hay còn gọi là tiền gửi cơ sở hay vốn cơ sở) là
khoản mục vốn đƣợc tin tƣởng rằng ít có khả năng bị chuyển khỏi ngân hàng
[12, tr. 431-432].
Tiếp theo, nhà quản lý thanh khoản phải dành riêng một phần vốn thanh
khoản tùy theo những nguyên tắc quản lý đối với mỗi nhóm vốn nêu trên. Dự trữ
thanh khoản này có thể bao gồm tiền gửi có thể sử dụng tức thời tại các ngân
hàng khác, đầu tƣ vào trái phiếu kho bạc và các hợp đồng mua lại,… Do vậy, dự
trữ thanh khoản đằng sau vốn tiền gửi và phi tiền gửi của ngân hàng đƣợc xác
định:
Dự trữ thanh khoản vốn = ∑ tỷ lệ dự trữ thanh khoản xác định của nhóm x
(nhóm vốn tiền gửi và phi tiền gửi – dự trữ bắt buộc)
Nhu cầu vay tiền của khách hàng là một phần của nhu cầu về vốn thanh
khoản. Nếu nhƣ ngân hàng không đƣợc phép từ chối nhu cầu xuất phát từ phía
ngƣời gửi tiền, thì nhu cầu vay tiền từ khách hàng lại có thể từ chối (đối với những khách hàng có nhu cầu vay mới). Tuy nhiên, công tác quản trị ngân hàng
sẽ là yếu nếu ngân hàng luôn phải từ chối khách hàng vay tiền có chất lƣợng cao
vì lý do thanh khoản, bởi nó đồng nghĩa với việc ngân hàng đánh mất cơ hội đầu
tƣ sinh lời cho ngân hàng. Điều này gợi ý rằng, nhà quản trị ngân hàng phải cố
gắng dự tính con số vốn vay tối đa tiềm năng và cần có lƣợng dự trữ thanh khoản
hay năng lực vay vốn hợp lý, tƣơng đƣơng với 100% phần chênh lệch giữa tổng
dƣ nợ thực tế và tổng cho vay tối đa tiềm năng. Do đó:
Tổng yêu cầu thanh khoản của ngân hàng = ∑ tỷ lệ dự trữ thanh khoản xác

khoản đƣợc xác định nhƣ sau:
“I = ∑[w
i
×(P
i
/P
*
i
)]” [14, tr.502]
Trong đó: w
i
: tỷ trọng của tài sản thứ i trong danh mục tài sản
P
i
: Giá bán tháo tài sản của tài sản thứ i
P
*
i
: Giá thị trƣờng của tài sản thứ i
(ii) Các chỉ báo trạng thái thanh khoản khác:
Chỉ số dự trữ thanh toán/tổng tài sản Có
Tổng dƣ nợ/tổng tiền gửi
Tỷ lệ khả năng chi trả
Tiền đi vay/tổng tài sản
Chỉ tiêu cơ cấu tiền gửi
Chỉ tiêu chứng khoán thanh khoản
Cam kết tín dụng/tổng tài sản
Chỉ số nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn
Chỉ tiêu tiền gửi thƣờng xuyên
Các nhà quản trị thanh khoản sẽ tập trung vào đánh giá xu hƣớng thay đổi

NHNN về dự trữ bắt buộc và vừa tối đa hóa hiệu quả sử dụng nguồn vốn). Với
những ngân hàng có quy mô nhỏ, lƣợng dự trữ bắt buộc có thể không đủ đáp ứng
nhu cầu thanh khoản và buộc họ phải để thêm phần dự trữ vƣợt quá. Tuy nhiên
đối với những ngân hàng lâu đời, có quy mô lớn thì khối lƣợng tiền gửi tại NHNN để đảm bảo đủ dự trữ bắt buộc theo quy định tƣơng đối cao, nhiều khi
còn vƣợt lên trên nhu cầu thanh khoản hàng ngày của họ. Điều này dẫn đến sự
lãng phí trong việc sử dụng vốn. Vì vậy các ngân hàng này có thể tính toán
lƣợng tiền mặt/tiền gửi tối ƣu và an toàn từ đó tính toán chi phí - lợi ích giữa việc
không đảm bảo dự trữ bắt buộc theo đúng quy định và chỉ đảm bảo phần dự trữ
tối ƣu trên để đƣa ra phƣơng án hiệu quả và phù hợp cuối cùng.
(ii) Dự trữ ngoài ngân quỹ (dự trữ thứ cấp): các khoản dự trữ này chủ yếu
tập trung vào việc đầu tƣ chứng khoán có tính lỏng cao, dễ chuyển đổi thành tiền
để đáp ứng nhu cầu thanh khoản khi cần thiết nhƣ: tín phiếu kho bạc, trái phiếu
chính phủ, thƣơng phiếu chấp nhận thanh toán, giấy nợ ngắn hạn,…
Phƣơng pháp này có ƣu điểm là các yêu cầu thanh khoản đƣợc giải quyết
nhanh chóng, kịp thời và ngân hàng chủ động hơn trong việc đối phó với các áp
lực về thanh khoản. Tuy nhiên, chuyển đổi tài sản không phải là một phƣơng
pháp quản lý thanh khoản có chi phí thấp. Thứ nhất, bán tài sản có nghĩa là ngân
hàng sẽ mất đi những khoản thu nhập tạo ra từ tài sản trong tƣơng lai. Đồng thời,
việc bán tài sản đều liên quan tới chi phí giao dịch, hoặc chúng có thể đƣợc bán
trên những thị trƣờng đang đi xuống với giá thấp gây tổn thất về vốn cho ngân
hàng. Bên cạnh đó, việc bán tài sản để tăng cƣờng thanh khoản cho ngân hàng sẽ
làm cho hình ảnh của ngân hàng thể hiện qua bảng cân đối kế toán yếu đi (giảm
phần tài sản). Ngoài ra, với việc đầu tƣ vào các tài sản thanh khoản, ngân hàng sẽ
phải bỏ qua tỷ lệ thu nhập cao mà nó mong muốn đạt đƣợc từ những tài sản khác
có rủi ro cao hơn nhƣng mang lại lợi tức lớn hơn (chi phí cơ hội).
1.2.2.2 Quản trị rủi ro thanh khoản nợ - chiến lược huy động
Trong phƣơng pháp này, đại bộ phận các thiếu hụt thanh khoản của ngân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status