CHƯƠNG 4
TÁC ĐỘNG CỦA Ô NHIỄM
MÔI TRƯỜNG NƯỚC MẶT
69
BÁO CÁO MÔI TRƯỜNG QUỐC GIA 2012
MÔI TRƯỜNG NƯỚC MẶT
69
BÁO CÁO MÔI TRƯỜNG QUỐC GIA 2012
MÔI TRƯỜNG NƯỚC MẶT
CHƯƠNG 4
TÁC ĐỘNG CỦA Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG NƯỚC MẶT
Bệnh tật có liên quan đến ô nhiễm nguồn
nước đã từ lâu được xem là một mối đe dọa lớn
đối với sức khỏe cộng đồng, đặc biệt các bệnh
như: bệnh ung thư, bệnh thiếu máu, bệnh Antai-
Antai, bệnh viêm gan A, bệnh tả, bệnh đường
tiêu hóa và các bệnh ngoài da Tác hại ô nhiễm
môi trường nước đối với sức khỏe con người chủ
yếu do môi trường nước bị ô nhiễm vi trùng, vi
khuẩn và các chất ô nhiễm hữu cơ, ô nhiễm
kim loại nặng (Asen, Cadimi, thủy ngân, ) và
ô nhiễm các hóa chất độc hại. Hiện nay, vẫn
còn nhiều hộ dân sử dụng nước sông, ao hồ,
kênh rạch để phục vụ sinh hoạt hàng ngày. Do
đó ảnh hưởng đến sức khỏe, nguy cơ nhiễm các
bệnh về đường tiêu hóa là rất lớn. Việc tắm nước
sông, thậm chí cả nước ao hồ bị nhiễm nhiều
loại mầm bệnh là nguyên nhân gây đau mắt,
bệnh lỵ trực khuẩn, 3.021 người mắc bệnh thương
hàn do sử dụng nước sinh hoạt không đảm bảo vệ
sinh, trong đó 88% trường hợp mắc bệnh là do
thiếu nước sạch*.
2006 2007 2008 2009 2010
Lỵ (lỵ trực trùng, lỵ Amipe, hội chứng lỵ) 6.073 4.977 4.043 5.855 11.355
Tiêu chảy 12.448 10.668 11.171 14.457 9.609
Nhiễm khuẩn da và mô dưới da 135 134 199 240 250
Nấm 2 2 2 4 0
Ngộ độc hay ảnh hưởng của chất độc 2 21 36 41 12
Bênh do tiếp xúc với động vật và thực vật có chất độc 0 99 131 110 34
Nguồn: Chi cục Bảo vệ môi trường tỉnh Kon Tum, 2011
* Hội thảo khoa học “Môi trường nông nghiệp - nông thôn và đa
dạng sinh học ở miền Trung Việt Nam”, 2008
TÁC ĐỘNG CỦA Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG NƯỚC MẶT
70 71
BÁO CÁO MÔI TRƯỜNG QUỐC GIA 2012
MÔI TRƯỜNG NƯỚC MẶT
BÁO CÁO MÔI TRƯỜNG QUỐC GIA 2012
MÔI TRƯỜNG NƯỚC MẶT
Tỷ lệ mắc các bệnh liên quan đến chất lượng
nước mặt tại các xã ven sông thường cao hơn so
với các xã không bị ảnh hưởng của nước sông
(Biểu đồ 4.2).
Bên cạnh các bệnh về đường tiêu hóa như:
tiêu chảy, lỵ, ô nhiễm nguồn nước còn gây
bệnh thiếu máu, ung thư, bệnh về da. Nguyên
Nguồn: Sở Y tế Hà Nam, 2009.
Nguồn: Sở TN&MT Hà Nam, 2008
TÁC ĐỘNG CỦA Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG NƯỚC MẶT
70 71
BÁO CÁO MÔI TRƯỜNG QUỐC GIA 2012
MÔI TRƯỜNG NƯỚC MẶT
BÁO CÁO MÔI TRƯỜNG QUỐC GIA 2012
MÔI TRƯỜNG NƯỚC MẶT
Bệnh lỵ, tả và các bệnh tiêu chảy khác vẫn
còn rất phổ biến là do nguồn nước bị ô nhiễm
gây ra, chủ yếu ở các địa phương nghèo có nguồn
nước bị ô nhiễm nặng. Chi phí khám chữa bệnh
cho các bệnh này đã lên đến con số hàng trăm
tỷ đồng. Chỉ trong vòng bốn năm gần đây đã có
khoảng 6 triệu ca bệnh liên quan đến nước tính
trên phạm vi toàn quốc, chi phí trực tiếp cho
việc khám chữa bệnh tả, thương hàn, lỵ và sốt rét
khoảng 400 tỷ đồng.
Thêm vào đó, bệnh liên quan đến ô nhiễm
môi trường còn ảnh hưởng đến người thân, tạo
nên chi phí gián tiếp do nghỉ học, nghỉ làm khi
Nguồn nước sinh hoạt của người dân tại làng Rêu,
thôn Gò Nghênh và thôn Hi Long của xã Ba Điền lấy
từ suối bắt nguồn từ núi Gò Khế bị ô nhiễm nặng (chỉ
số vi sinh vật trong mẫu nước quá cao, vượt 1,3-3 lần
cho phép.)
Trung tâm Y tế huyện Ba Tơ ghi nhận khoảng 240
lượt bệnh nhân viêm da lạ nhập viện, 45 người bị tái
phát, 23 người tử vong. Do chưa tìm được căn nguyên
của bệnh, nên nhiều người bị bệnh “lạ” đang điều trị
tại các bệnh viện nản chí, và đã có 34 người trốn viện
hoặc không chịu tiếp tục điều trị mặc dầu bệnh chưa
dứt hẳn, trong đó có 2 trường hợp rất nặng.
Nguồn: Cổng thông tin Báo nông nghiệp Việt Nam, 2012
TÁC ĐỘNG CỦA Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG NƯỚC MẶT
72 73
BÁO CÁO MÔI TRƯỜNG QUỐC GIA 2012
MÔI TRƯỜNG NƯỚC MẶT
BÁO CÁO MÔI TRƯỜNG QUỐC GIA 2012
MÔI TRƯỜNG NƯỚC MẶT
Ô nhiễm môi trường nước cũng gây những
thiệt hại kinh tế không nhỏ trong hoạt động sản
xuất nông nghiệp và khai thác, nuôi trồng thủy
sản. Theo số liệu thống kê, sản lượng nuôi trồng
thủy sản (đặc biệt là nuôi cá bè trên sông) đã bị
giảm sút nhiều do vấn đề ô nhiễm nước sông, đặc
biệt khi xảy ra các sự cố về môi trường nước.
Với đặc thù về điều kiện tự nhiên, đồng bằng
tại thôn Quang Ấm có 11 hộ nuôi cá, với khối lượng
cá bị chết khoảng 27,5 tấn. Xã Châu Sơn (Duy Tiên)
tổng số cá bị chết khoảng 45 tấn, có gia đình thiệt
hại đến 10 tấn cá.
Đầu tháng 11 năm 2012, tại sông Đáy đoạn từ
cầu Khuất tiếp giáp giữa Ninh Bình và Hà Nam
xuất hiện cá chết rải rác trên sông. Chi cục Bảo vệ
Môi trường Sở Tài nguyên và Môi trường Ninh Bình
đã lấy mẫu nước tại 03 điểm: cầu Khuất, cầu Non
Nước và nhà máy đạm Ninh Bình, kết quả cho thấy
hàm lượng chì cao gấp 20,8 - 27,4 lần, cadimi cao
gấp 3,2 - 5,3 lần quy chuẩn cho phép.
Nguồn: Tổng cục Môi trường, 2010;
Sở Tài nguyên và Môi trường Ninh Bình
Vào thời điểm tháng 4/2007 có hàng loạt bè cá
đang gần ngày thu hoạch ở La Ngà đột ngột chết
trắng do nước sông La Ngà bị ô nhiễm từ nguồn nước
thải của hai Công ty Men Mauri Việt Nam và Công
ty cổ phần mía đường La Ngà Theo thông tin từ
UBND huyện Định Quán (Đồng Nai) cho biết hai
Công ty trên đã thỏa thuận đền bù cho các hộ nuôi
cá bè bị thiệt hại do ô nhiễm sông La Ngà số tiền bồi
thường là 2 tỷ đồng.
Theo báo cáo của Chi cục Thủy sản Đồng Nai,
trong 3 ngày (từ 06 - 08/6/2010), đã xảy ra sự cố cá
bè chết hàng loạt trên sông Đồng Nai đoạn thuộc
các phường: Tân Mai, An Bình, Thống Nhất và xã
Hiệp Hòa (Tp. Biên Hòa). Chỉ trong 3 ngày với lượng
mạnh mẽ của ngành công nghiệp, kinh phí dùng
để khắc phục sự cố ô nhiễm môi trường nước mặt
do các KCN gây ra đã làm thiệt hại không nhỏ tới
nền kinh tế nước ta.
Tại nhiều địa phương ở ĐBSCL, tôm đang bị chết
hàng loạt do ô nhiễm môi trường nước nghiêm trọng:
Tại tỉnh Sóc Trăng bị thiệt hại đến trên 500 ha.
Riêng tôm sú cũng bị thiệt hại hơn 30% (tháng 2, 3
năm 2012).
Tại tỉnh Trà Vinh, vụ tôm năm 2012 diện tích nuôi
trồng khoảng 6.000 ha, mới hơn 1 tháng, tôm đã bị
chết trong khoảng 600 ha nuôi trồng thủy sản do dịch
bệnh và chưa có dấu hiệu dừng.
Tỉnh Cà Mau, diện tích nuôi trồng khoảng 3.500
ha, hơn 20% diện tích đó đã bị dịch bệnh. Đặc biệt,
ở nhiều nơi như huyện Phú Tân, Đầm Dơi diện tích
có tôm bị chết lên đến 50% diện tích thả nuôi.
Nguồn: Cổng thông tin điện tử địa phương:
Sóc Trăng, Trà Vinh, Cà Mau, 2012
Tại xã Dương Nội - huyện Hoài Đức (Hà Nội),
nước thải từ các hộ gia đình và các doanh nghiệp
dệt, tẩy nhuộm chưa được xử lý đổ thẳng xuống kênh
dẫn chảy ra sông Nhuệ khiến nước bị ô nhiễm nặng.
Vào mùa khô lòng mương cạn, nước bốc lên mùi hắc
khó chịu, những hôm trời mưa, nước thải dệt nhuộm
74 75
BÁO CÁO MÔI TRƯỜNG QUỐC GIA 2012
MÔI TRƯỜNG NƯỚC MẶT
BÁO CÁO MÔI TRƯỜNG QUỐC GIA 2012
MÔI TRƯỜNG NƯỚC MẶT
Các thiệt hại kinh tế từ việc khắc phục sự cố
môi trường do khai thác, chế biến khoáng sản
cũng đã trở thành gánh nặng đối với nhiều địa
phương. Quá trình đào, khoan, nổ mìn làm phá
vỡ các tầng đất đá, cùng với hoạt động hòa tan,
rửa trôi các thành phần chứa trong quặng và đất
đá đều tác động làm thay đổi tính chất vật lý và
thành phần hóa học của nguồn nước xung quanh
khu mỏ. Nhiều nơi môi trường tại khu vực khai
khoáng, đặc biệt môi trường nước, đã bị suy thoái
nghiêm trọng. Muốn phục hồi môi trường nơi đây
đòi hỏi một lượng kinh phí rất lớn.
Mặc dù, trong thời gian gần đây, Chính phủ
đã có những chính sách, đầu tư cung cấp nước
sạch, nhưng vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu của
người dân nghèo. Một bộ phận người dân sinh
sống tại vùng nông thôn và núi cao vẫn không
được tiếp cận với hệ thống nước sạch hoặc thiếu
nước cho sinh hoạt. Giữa các nhóm có thu nhập
khác nhau, mức độ được tiếp cận với nước sạch
cũng khác nhau.
2006 2007 2008 2009
Tây Nguyên 82,8
Đông Nam Bộ 98,1
Đồng bằng sông Cửu Long 81,6
Nguồn: TCTK, 2011
TÁC ĐỘNG CỦA Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG NƯỚC MẶT
74 75
BÁO CÁO MÔI TRƯỜNG QUỐC GIA 2012
MÔI TRƯỜNG NƯỚC MẶT
BÁO CÁO MÔI TRƯỜNG QUỐC GIA 2012
MÔI TRƯỜNG NƯỚC MẶT
Tỷ lệ nguồn cung cấp nguồn nước chính cho
khu vực thành thị là 63,5% nước máy; 30,4%
nước giếng khoan và nước giếng đào được bảo
vệ; 2,4% nước mưa; 3,7% nước khe, nước giếng
đào không được bảo vệ và các nguồn nước khác.
Tỷ lệ nguồn cung cấp nước chính cho khu vực
nông thôn là 8,6% nước máy; 57,8% nước giếng
khoan và nước giếng được bảo vệ; 16% nước
mưa; 17,5% nước khe, nước giếng đào không
được bảo vệ và các nguồn nước khác.
Ví dụ, tại đồng bằng sông Hồng, chỉ có khoảng
hơn 80% số dân nghèo được tiếp cận với nguồn
nước sạch trong khi đó những người ở nhóm có
thu nhập cao chiếm tỷ lệ 96%. Tại khu vực đô
thị, mặc dù tỷ lệ người dân được sử dụng nước
sạch cao hơn, nhưng với những người dân nghèo,
khả năng tiếp cận với nước sạch vẫn rất hạn chế.
Việc đầu tư hệ thống xử lý nước sinh hoạt cho
một hộ gia đình thường vượt quá mức thu nhập
Nguồn: Trung tâm Quốc gia nước sạch
và vệ sinh môi trường nông thôn 2012
Từ ngày 11 tháng 7 năm 2012, so với quy định
hiện hành, khung giá nước sạch đã có biến động khá
lớn. Cụ thể, nước sạch ở đô thị đặc biệt, đô thị loại 1
sẽ có giá tối đa là 18.000 đồng/m
3
và tối thiểu là 3.500
đồng/m
3
(khung giá hiện hành giá tối đa là 12.000
đồng/m
3
, và tối thiểu là 3.000 đồng/m
3
). Giá tối đa
nước sạch ở đô thị loại 2, loại 3, loại 4, loại 5 sẽ có
mức mới 15.000 đồng/m
3
thay vì 10.000 đồng/m
3
như
trước. Giá tối thiểu ở khu vực này cũng sẽ tăng thêm
1.000 đồng/m
3
lên thành là 3.000 đồng/m
3
. Ở khu vực
nông thôn, khung giá nước sạch sinh hoạt mới sẽ dao
về môi trường, sự ô nhiễm sẽ ảnh hưởng nghiêm
trọng đến dòng chảy và phương kế sinh nhai của
hàng triệu người sống dựa vào con sông này.
Việt Nam đã và đang tiếp tục bị ảnh hưởng do
hoạt động thủy điện của các nước vùng thượng
nguồn. Nhiều khu vực thuộc vùng đồng bằng
sông Cửu Long của Việt Nam bị thiếu nước ngọt,
nước biển xâm thực, gây ảnh hưởng tới sinh hoạt
của người dân và hoạt động sản xuất lương thực.
Vấn đề chuyển nước trên các dòng sông cũng
đang làm phát sinh nhiều vấn đề cần quan tâm.
Để đáp ứng nhu cầu nước cho hoạt động phát
triển vùng Đông Bắc (thuộc lưu vực sông Mê
Công) và vùng đồng bằng trung tâm (thuộc lưu
vực sông Chao Phrya), Chính phủ Thái Lan đang
đẩy nhanh nghiên cứu và triển khai thực hiện
các giải pháp tăng cường sử dụng nguồn nước
từ lưu vực sông Mê Công. Tổng lượng nước dự
kiến được chuyển là 15,2 tỷ m
3
/năm, theo Đề án
được nghiên cứu: 1) chuyển nước từ lưu vực sông
Mê Công sang lưu vực sông Chao Phrya khoảng
6,2 tỷ m
3
/năm; 2) chuyển nước từ dòng chính
sông Mê Công vào trữ trong các hồ chứa vùng
Đông Bắc (chuyển nước trong lưu vực) khoảng
6,5 tỷ m
3
phục hồi sinh thái sông Mê Công, đồng thời đặt sinh kế
và an ninh nguồn nước, lương thực của hàng chục triệu
dân cư sống phụ thuộc vào các nguồn tài nguyên của
dòng sông vào tình trạng đe dọa. Theo các nhà khoa học
hiện có khoảng 1.200 loài cá nhưng với việc ngăn đập
để xây dựng thủy điện bằng mọi giá sẽ dẫn đến nguy
cơ hủy diệt khi môi trường sống của các cá thể này khi
bị thay đổi. Đối với những loài cá có thể chống chọi với
thiên nhiên khắc nghiệt để tồn tại cũng dần biến mất do
không thể sinh sản mà không có dòng chảy. Cụ thể tổn
thất tài nguyên cá sẽ khoảng 550.000 - 880.000 tấn mi
năm, không chỉ người dân bị ảnh hưởng mà các công ty
sản xuất, cảng cá cũng bị ảnh hưởng.
Lượng tổn thất về thủy sản ước đạt gần 500 triệu
USD mi năm; 54% đất trồng trọt ven sông Mê Công
sẽ bị mất, cộng với tổn thất đất nông nghiệp do các hồ
chứa dòng chính và các đường dẫn điện ước khoảng
25,1 triệu USD/năm. Việc giảm dinh dưỡng đòi hỏi
phải bù tương đương 24 triệu USD/năm để duy trì năng
suất nông nghiệp của đồng bằng ngập lụt.
Nguồn: Liên hiệp Các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam và
Mạng lưới sông ngòi Việt Nam, 2012
TÁC ĐỘNG CỦA Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG NƯỚC MẶT
76 77
BÁO CÁO MÔI TRƯỜNG QUỐC GIA 2012
MÔI TRƯỜNG NƯỚC MẶT
BÁO CÁO MÔI TRƯỜNG QUỐC GIA 2012
MÔI TRƯỜNG NƯỚC MẶT
càng thêm nghiêm trọng. Nước sông Đăk Mi
được chuyển về sông Thu Bồn, mà không trả
lại cho sông Vu Gia. Bởi vì, trên thực tế, tuy
có một lượng nhỏ nước sông Thu Bồn chảy
về sông Hàn qua sông Vĩnh Điện, nhưng đã
không sử dụng được, do sông Vĩnh Điện bị
nhiễm mặn quanh năm.
Xung đột môi trường giữa cộng đồng làm
nghề và cộng đồng không làm nghề trong
bản thân làng nghề. Đây là xung đột lợi ích
điển hình khi quyền lợi và lợi ích kinh tế của
cộng đồng không làm nghề bị ảnh hưởng do
ô nhiễm môi trường bởi hoạt động làng nghề
gây nên. Đây là loại xung đột phổ biến nhất.
Sự hình thành các cơ sở sản xuất nghề nằm
trong các khu dân cư, đặc thù hơn là tổ chức
sản xuất ngay tại trong nhà mình, do vậy, các
loại chất thải phát sinh đã ảnh hưởng trực tiếp
đến các hộ xung quanh, gây ra những xung
đột, khiếu kiện.