5/31/2014
ĐỀ CƯƠNG ÔN THI
HẾT HỌC PHẦN
MÔN: Ngo
ại Khoa Thú Y Thực Hành
Học kỳ II năm học 2013-2014 Thach Van Manh
Website: sites.google.com/site/thachvanmanh
Mail: [email protected]
Tel : +84983912823
Faculty of Veterinary Medicine
Thạch Văn Mạnh TYD-K55
1
Phần I: Kỹ thuật cơ bản trong ngoại khoa thú y thực hành
Chương 1 Cố định động vật
- Cố định gia súc là việc làm cần thiết, trước tiên của một caphẫu thuật. Cố định
gia súc giúp ngăn ngừa việc chống cự, tấn công của gia súc; tránh được những tai nạn
đáng tiếc cho cả người và gia súc; tạo điều kiện thuận lợi, rút ngắn được thời gian thực
hiện, giảm nguy cơ nhiễm trùng vết mổ và tránh việc mất máu nhiều khi phẫu thuật.
Một số lưu ý khi cố định gia súc
- Khi tiếp xúc với gia súc phải có thái độ ôn hòa, thân mật nhất là đối với loài có tính
c. Cố định một chân sau
- Cố định một chân sau của trâu, bò khó khăn hơn nhiều so với cố định chân
trước vì trâu, bò rất khỏe. Muốn thực hiện được, chúng ta phải dùng dây thừng buộc
vào đốt ngón chân của chúng rồikéo lên. Đầu dây thừng tự do vắt qua người con vật
hoặc thanh dọc của gióng cố định.
d. Cố định đứng trong giá
- Gía cố định được làm với 4 cột trụ chôn chặt xuống đấthoặc có bộ giá bằng sắt
hay xi măng cốt thép.Kết nối giữa bốn trụ là các gióng dọc và ngang trải đều 2 tầng
trên và dưới. Có các dây thừng và chão để buộc giữ; ghìm đầu, đỡ bụng, chằng
ngang lưng, khóa hai chân sau hoăc cả bốn chân.Cố định trâu, bò đứng trong giá bốn
trụ dùng để thực hiện các ca phẫu thuật phức tạp có thời gian kéo dài.
e. Vật bò
- Vật bò có thể dùng hai cách thông dụng sau đây:
- Cách thứ nhất:dùng một sợi dây thừng bền chắc, dài 5-6 m. Một đầu dây buộc cố
định vào hai gốc sừng con vật. Đầu kia luồn thành hai vòng;một vòng quanh ngực,
một vòng quanh bụng sao cho tạo thành hai vòng nút. Đoạn dây còn lại được kéo
dọc thân con vật. Khi vật, một người vặn đầu con vật ở tư thế: một tay ghìm sừng
xuống, một tay cầm mõm hất lên ; một người cầm đuôi kéo về phía định cho con
vật ngã; một số người khác kéo đầu dây tự do. Nếu có đủ người thì cả 2 đầu dây được
thả tự do, chia số người ra làm 2 tốp kéo về 2 phía ngượcchiều nhau, dọc thân con vật.
- Phải có sự hiệp đồng chặt chẽ giữa những người tham gia. Con vật nằm xuống,
nhanhchóng ghìm sừng, đè đầu và cột 4 chân lại. Đây là động tác quan trọng nhất khi
vật bò; nếu để đầu nó cất lên thì con vật lập tức đứng dậy.
Thạch Văn Mạnh TYD-K55
3 f. Vật trâu
- Để điều khiển ngựa, người ta dùng dây cương và hàm thiếc. Hàm thiếc làm
bằng kim loại, cho vào miệng ngựa để đè lưỡi xuống nhằm tránh cắn vào lưỡi khi làm
việc, vận động mạnh. Dây thừng buộc vào hàm thiếc để điều khiển ngựa gọi là dây
cương. Khi muốn khám bệnh, tiêm hay cho uống thuốc …chỉ cần giữ dây cương tại
nơi tiếp xúc với hàm thiếc, con vật tạm thời đứng yên tại chỗ (bốn chân vẫn rậm rịch)
nếu việc làm của chúng ta không gây sợ hãi cho con vật.
c. Cố định 2 chân sau
- Phương pháp này được sử dụng để tránh trường hợp ngựa đá, ứng dụng trong
các trường hợp khám bệnh hay phẫu thuật ở trực tràng hay âm đạo.
- Trước hết buộc một vòng dây ở cổ, hai đầu của sợi dây đưa về phía sau và nằm
ở giữa 2 chân trước. Sau đó buộc một vòng ở mỗi chân sau. Hoặc có thể sử dụng một
vòng đeo cổ bằng vải để thay thế cho vòng dây và 2 vòng tròn nhượng để thay thế cho
mối cột ở trên 2 khớp nhượng. Thạch Văn Mạnh TYD-K55
5
d. Vật ngựa
- Có nhiều phương pháp vật ngựa, thông thường hay sử dụng phương pháp sau:
- Dùng 4 vòng cổ chân, đeo vào chân ngựa. Các vòng này được nối với nhau
bằng sợi dây thừng chừng 5m. Một người nắm đuôi nhằm đỡ con vật khi ngã.
- Kéo mạnh sợi dây , 4 chân ngựa gom lại gây mất thăng bằng làm ngựa ngã xuống.
- Tiếp theo dùng dây buộc một đầu vào trên khớp nhượng của chân sau phía
trên,phần còn lại luồn qua 2 chân trước,choàng qua vai bên kia và quấn 1 vòng vào cổ
chân sau để nhấc lên. Phương pháp cố định này thường dùng để thiến ngựa. 3. Phương pháp cố định lợn
định lợn to. Dụng cụ này có thể đưa vào chân sau của lợnrất đơn giản và nhanh chóng.
- Dùng một ống hình tròn, đường kính 3-4 cm, chiều dài 40 cm. Hai đầu ống gắn với 2
vòng kim loại đường kính khoảng 5cm. Hai vòng này được nối với hai sợi dây xích
dài khoảng50-60cm. Đầu cuối của hai sợi dây xích nối với một vòng kim loại thứ 3.
- Từ vòng thứ 3 này nối với sợi dây thừng chắc chắn. Trư ớc hết dùng dây để khớp
mõm lại. Sau đó đưa dụng cụ tròng vào hai chân sau của lợn. Nắm sợi dây thừng
kéo mạnh về phía sau. Lợn sẽ dễ dàng ngã xuống.
- Nếu thực hiện những ca tiểu phẫu mà không gây đau đớn thái quá cho lợn, người ta
chỉ cần sử dụng một sợi dây cột vào mõm lợn và kéo căng dây là được.
Thạch Văn Mạnh TYD-K55
7
4. Phương pháp cố định chó, mèo
- Cố định chó:phải có rọ mõm và dây hay xích buộc cổ. Nếu không có rọ mõm phải
dùng sợi dây mềm buộc lại. Để thăm khám con vật, sau khi đã cố định mõm chỉ
cần giữ ngắn dây xíchcổ là được.
- Cố định mèo: có thể dùng dây buộc mõm kết hợp với dùng vải mềm bó chặt tứ chi
hay dùnggiá cố định chuyên dụng.
- Giá này gồm hai tấm gỗ, mỗi bên cắt một lỗ thủng là một nửa vòng tròn, khi ghép
lại được một lỗ thủng hình tròn. Hai tấm đó được chạy trên một thanh trượt. Đưa
mèo vào giá, ép hai tấm gỗ sát nhau ở ngang nách con vật; sao cho đầu và hai chân
con vật nằm ởphía trước tấm gỗ, một người cầm hai chân sau kéo lại.
- Một số phòng mạch chó, mèo và thú cảnh ở các thành phố lớn thiết kế cũi bằng
thép không gỉ. Sau khi đưa vật nuôi vào cũi, có dụng cụ ép con vật vào một phía,
làm như thế rất tiện lợi và an toàn.
phải kiểm tra trước khi phẫu thuật. Ngoài ra có thể kiểm tra các chức năng của gan,
thận… Xác định được các quá trình bệnh lý trong cơ thể giúp ta đề phòng được các tai
biến có thể xảy ra, liên quan đến việc: cố định, gây mê, gây tê và chính cuộc phẫu
thuật đó.
- Nếu hiện tại gia súc không đủ sức khoẻ để chịu đựng cuộc phẫu thuật thì phải chăm
sóc, nuôi dưỡng tốt để tăng sức đề kháng rồi mới thực hiện phẫu thuật.
- Kiểm tra xem gia súc có thai không, nếu có thì phải thận trọng trong phẫu thuật,
không gây mê sâu.
- Kiểm tra các ổ nhiễm trùng trên cơ thể.
- Kiểm tra tình trạng vệ sinh chung của vật nuôi, phải tắm rửa toàn thân hay cục bộ
cho vật nuôi phẫu thuật. Những chỗ có nhiều nếp nhăn, nếp gấp, khe, kẽ như cổ, yếm,
nách, bẹn, bàn, ngón… cần được kỳ cọ, rửa sạch bằng bàn chải, xà phòng và nước
sạch.
3. Xử lý vùng phẫu thuật trên cơ thể động vật
a. Xử lý đối với da vùng phẫu thuật
Thạch Văn Mạnh TYD-K55
9
- Cắt, cạo lông vùng phẫu thuật, vùng lông cắt phải lớn hơn 2-3 lần vùng phẫu thuật.
- Rửa sạch da vùng phẫu thuật bằng xà phòng và nước sạch.
- Lau khô bằng vải gạc hay khăn sạch vô trùng
- Sát trùng bằng cồn Iod 5%. Sát trùng hai lần, một lần trước lúc gây tê và một lần
trước khi phẫu thuật.
Cách sát trùng: Ðối với những phẫu thuật thực hiện ở vùng tổ chức lành thì sát trùng từ
trong ra ngoài. Với vùng nhiễm trùng thì sát trùng ngược lại tức là từ ngoài vào trong.
Ðối với vùng bàn ngón, sau khi đã rửa sạch thì ngâm vào dung dịch sát trùng 15 phút.
- Dùng tấm choàng bằng vải, cao su có khoét lỗ đã xử lý vô trùng đắp lên vùng phẫu
thuật để ngăn cách với các vùng xung quanh bảo vệ vùng phẫu thuật.
Thạch Văn Mạnh TYD-K55
10
Dùng nồi hấp cao áp autochlave. Ưu điểm của phương pháp này là có thể nâng nhiệt
độ hấp lên trên 1000C, do dùng nhiệt độ cao từ hơi nước để tiệt trùng nên có thể tiệt
trùng được cho hầu hết các dụng cụ, nguyên liệu dùng trong phẫu thuật. Nếu hấp ở áp
xuất 1,5atm, nhiệt độ đạt tới 126,80C thì duy trì thời gian xử lý 30 phút, nếu ở 2atm,
nhiệt độ đạt tới 132,90C thì duy trì thời gian xử lý 20 phút.
e. Phương pháp sấy khô
Dùng tủ sấy, tác nhân tiệt trùng là nhiệt độ cao từ không khí bị đốt nóng. Dùng để tiệt
trùng các dụng cụ bằng thủy tinh, sành sứ, bông vải sợi, các dụng cụ có nguồn gốc
nguyên liệu khác, trừ dụng cụ bằng nhựa mềm. Để tiệt trùng dụng cụ, duy trì ở nhiệt
độ 1200C với thời gian là 30’. Chỉ đưa dụng cụ vào sấy khi chúng đã được rửa sạch,
lau khô.
f. Phương pháp là
Hiện nay chúng ta hay sử dụng bàn là điện. Mặt bàn là đang hoạt động nóng tới
1500C, các vi sinh vật nằm dưới đó đều bị thiêu cháy. Người ta dùng bàn là để tiệt
trùng một số dụng cụ có nguồn gốc nguyên liệu từ sợi bông tự nhiên (quần áo bảo hộ,
mũ, khẩu trang, tấm choàng, vải gạc…). Khi sử dụng di chuyền bàn là trên khắp bề
mặt của đồ vật vài lần.
g. Phương pháp hơ lửa
Một số dụng cụ to lớn kềnh càng như mặt bàn, khay, cưa… không tiệt trùng
được bằng các phương pháp trên, chúng ta dùng biện pháp hơ lửa. Tẩm cồn trên 700C
trên những cục bông hay vải có nguồn gốc là sợi bông tự nhiên rồi châm lửa đốt, ngọn
lửa cháy bùng lên như ngọn đuốc, hơ ngọn lửa đó trên khắp bề mặt của vật cần xử lý.
Tương tự như phương pháp là, cần hơ qua lại một số lần tại một vị trí nhất định mới
đảm bảo khả năng tiệt trùng.
h. Phương pháp ngâm trong dung dịch sát trùng
Phương pháp này được áp dụng để xử lý các loại chỉ khâu tự tiêu (catgut). Chỉ
hoàn toàn. Vật nuôi lớn nên cố định trong giá bốn trụ, có dụng cụ nâng đỡ; vật nuôi
nhỏ nên để trong cũi, lồng.
- Trợ tim bằng các loại thuốc camphoral 10%, cafein 20%, adrenalin 0,1%.
- Kích thích hô hấp bằng cách cho thở dưỡng khí hay ngửi amoniac (tẩm
amoniac vào bông rồi để cách mũi vật nuôi 5-10 cm).
- Chống chảy máu trong: dùng vitamin K tiêm bắp, calci chloride hay calci
gluconat.
- Để tăng cường hồi phục sức khỏe, dùng các dung dịch truyền máu: glucose 5%,
nước muối sinh lý, lactat ringer,…sử dụng các loại vitamin B1, B12, A,…
- Cho ăn thức ăn đầy đủ chất dinh dưỡng, dễ tiêu, chín. Nếu phẫu thuật có gây mê
chỉ cho vật nuôi ăn khi tỉnh hẳn, chúng tự lấy và nuốt được thức ăn. Khi thực hiện
phẫu thuật ở vùng bụng nên cho vật nuôi ăn từ từ, chia khẩu phần ăn ra từng phần.
Chương 3: Vô cảm khi phẫu thuật
1. Gây mê
a. Khái niệm
- Gây mê là dùng thuốc đưa con vật vào tình trạng mất toàn bộ nhận thức, mất
cảm giác đau, ức chế các phản xạ nội tạng, giãn cơ và cần ngủ.
- Mê là sự mất cảm giác và ý thức tạo bởi các thuốc mê khác nhau, gồm bốn hợp
thành là không đau, giãn cơ, mất ý thức và quên.
Mục đích
- Làm cho con vật không đau trong quá trình phẫu thuật.
- Làm cho con vật không giãy giụa trong khi tiến hành phẫu thuật:
Máu dễ cầm hơn, không ảnh hưởng tới vết thương của gia súc.
Người phẫu thuật yên tâm tiến hành công việc của mình, rút ngắn thời gian
phẫu thuật.
b. Phân loại
1. Căn cứ vào mức độ mê người ta chia ra: mê nông và mê sâu.
Thạch Văn Mạnh TYD-K55
đầu bị hạn chế.
- Giai đọan hưng phấn: Các cảm giác tiếp tục giảm. Xuất hiện tình trạng mất tri
giác, nhưng các phản xạ lại tăng cường. Động vật biểu hiện sợ sệt rõ rệt, thét lên
những tiếng thất thanh. Trương lực cơ tăng cường, vật giãy đạp mạnh. Đầu lắc lư,
bốn chân lảo đảo, xiêu vẹo. Ngựa và trâu, bò có hiện tượng giật nhãn cầu, đồng tử
tiếp tục giãn. Tăng tiết các tuyến: tuyến nước bọt, tuyến lệ, tuyến phế quản. Xuất
hiện nôn và nấc. Mạch nhanh và đầy, tăng huyết áp. Hô hấp nhanh không đều.
Giai đoạn này có nguy cơ xảy ra các tai biến, song cũng được lợi dụng để chỉnh
xương khớp.
- Giai đoạn mê: Con vật ngày càng mê sâu hơn. Hô hấp đều hơn rồi thưa dần và
nông dần, ngày càng trở nên thưa hơn và nông hơn. Tim đập chậm và yếu dần, mê
càng sâu thì nhịp tim càng thưa, càng yếu hơn. Mạch thưa và không đầy, mê sâu
rất khó bắt được mạch. Sự tiết dịch giảm dần rồi ngừng hẳn. Trương lực cơ giảm
dần, rồi đột ngột mất hẳn. Cơ mềm ra, nhẽo ra; nếu gây mê ở tư thế đứng con vật
Thạch Văn Mạnh TYD-K55
13
mất khả năng trụ có thể ngã vật xuống. Các phản xạ giảm dần rồi mất hẳn. Lưỡi
khô và thè ra ngoài. Nhãn cầu xoay xuống dưới, đồng tử co đến giới hạn. Tình
trạng của động vật trở nên nguy hiểm hơn khi hô hấp nông và ngắt quãng, mạch
chỉ hoặc không bắt được mạch, huyết áp tụt, niêm mạc bắt đầu xanh, tím tái, đồng
tử dãn ra, thân nhiệt giảm
- Giai đoạn cuối phụ thuộc vào tác dụng của thuốc tiếp tục hay ngừng lại.
Thuốc hết tác động, con vật dần dần tỉnh lại, biểu hiện của con vật ngược lại với
quá trình mê; được gọi là thoát mê. Khi đã mê sâu nhưng thuốc mê vẫn tiếp tục tác
động, con vật bị trúng độc do thuốc mê. Con vật có những biểu hiện: thở thưa dần
rồi ngừng thở, tim đập thoi thóp rồi cũng ngừng hẳn, kết cục dẫn đến cái chết của
động vật.
d. Chú ý khi gây mê động vật
14
- Không ép con vật ăn khi chưa nuốt được thức ăn.
- Bổ xung năng lượng, tăng cường hồi phục sức khỏe bằng truyền glucose 5%,
nước muối sinh lý, lactat ringer… Sử dụng các loại vitamin A,C, B1,B12…
- Dùng thuốc trợ tim (cafein 20%, adrenalin 0,1%), kích thích hô hấp bằng cho
thở dưỡng khí hay ngửi amoniac (tẩm amoniac vào cục bông rồi để cách mũi con
vật 5-10 cm)
e. Phương pháp gây mê động vật : ngựa, trâu bò, lợn, chó, mèo, động vật hoang dã.
1. Gây mê cho ngựa
- Ngựa có hệ thần kinh tương đối linh hoạt, khả năng chịu đau kém, vì vậy khi thực
hiện phẫu thuật ở ngựa nên chỉ định gây mê.
- Thuốc tiền mê dùng cho ngựa là atropin sulfat 1%, liều lượng: 1-2ml/100kg TT.
Tiêm dưới da trước khi dùng thuốc mê 15-20 phút.
1.1 Gây mê bằng cloral hydrat
Cloral hydrat có thể đưa vào cơ thể bằng nhiều cách: tiêm tĩnh mạch, cho uống, thụt
trực tràng.
Liều dùng: 8-10g/100kg TT.
+ Gây mê tĩnh mạch:
- Để tránh tác dụng gây dung huyết của thuốc, phải pha thành nồng độ 10% trong
dung môi (Glucose 10%, natri clorid 0,9%, natri xitrat 5%).
Thuốc pha xong dùng ngay, để lâu mất tác dụng, khi tiêm không được để thuốc
lọt ra ngoài tĩnh mạch.
+ Gây mê dạ dày:
Để tránh kích thích của thuốc vào niêm mạc dạ dày, pha thuốc trong nước ngọt, hồ
tinh bột thành nồng độ 5%, cho uống qua ống thông thực quản.
+ Gây mê trực tràng:
Tương tự như cho uống, phải pha thuốc trong các dung môi bảo vệ niêm mạc trực
tràng, đạt nồng độ không quá 5%. Thụt vào trực tràng sau khi đã giải thoát hết phân, khi rút
chậm vào tĩnh mạch. Sau đó dùng cloral hydrat 8g/100kg TT, pha thành nồng độ 10%
trong dung môi (Glucose 10%, natri clorid 0,9% hoặc natri xitrat 5%), tiêm tĩnh mạch.
Con vật mê kéo dài 1-1,5 giờ.
2.4 Gây mê bằng natri thiopental
Thạch Văn Mạnh TYD-K55
16
Natri thiopental là thuốc mê dạng bột, liều gây mê cho loài nhai lại là 1,5g/100kg
TT, pha trong nước muối sinh lý, đạt nồng độ 5%, tiêm chậm vào tĩnh mạch (không được
lọt ra ngoài tĩnh mạch). Thời gian mê kéo dài khoảng 1 giờ.
Chú ý: Theo dõi sát sao hành vi của con vật, quá trình mê đến rất nhanh con vật có
thể đổ vật xuống ngay khi chưa kết thúc tiêm thuốc.
2.5 Gây mê bằng rượu ngon
Dùng rượu ngon (30-40%) cho trâu, bò cái, bê, nghé uống, liều 200-300ml/100kg
TT. Đạt được mức độ chếnh choáng ở vật nuôi, cho phép tiến hành các thủ thuật chỉnh
xương khớp. 3. Gây mê cho lợn
Thuốc tiền mê dùng cho lợn là amilazin, liều 0,5mg/1kg TT, tiêm dưới da hoặc bắp
thịt.
3.1 Gây mê bằng natri thiopental
Liều 1,5g/100kg TT, pha trong nước muối sinh lý đạt nồng độ 5%, tiêm tĩnh mạch
(không được để thuốc lọt ra ngoài). Quá trình mê kéo dài khoảng 1 giờ.
3.2 Gây mê bằng cloral hydrat
Liều 10g/100kg TT, pha thành nông độ 10% trong dung môi (glucose 10%, natri
clorid 0,9%, natri xitrat 5%), tiêm tĩnh mạch hay phúc mạc. Thời gian mê kéo dài khoảng
1,5 giờ.
3.3 Gây mê bằng combelen
2. Gây tê
a. Khái niệm
- Gây tê cục bộ là dùng thuốc để làm mất tạm thời cảm giác đau, cảm giác nhiệt,
cảm giác xúc giác và các cảm giác khác ở tổ chức cục bộ vùng định phẫu thuật.
- Những chất gây tê thường dùng là: Novocain, lidocain, dicain… ở nước ta thông
dụng là novocain va lidocain, trong thú y thường dùng novocain vì nó rẻ tiền hơn.
Người ta pha novocain trong nước cất hay nước muối sinh lý ở các nồng độ khác
nhau 0,125-10%, nồng độ thông dụng là 0,25-3%.
+ Để tăng cường tác dụng của novocain, người ta cho adrenalin 0,1% vào dung
dich novocain, với tỷ lệ 2ml adrenalin 0,1%/ 1 lít dung dịch novocain ở nồng độ
nào đó.
Thạch Văn Mạnh TYD-K55
18
+ Để có thêm tác dụng tiệt trùng thêm rivanol vào dung dịch novocain đạt nồng độ
0,1%.
+ Để kéo dài thời gian tê và giảm chảy máu trong phẫu thuật thêm huyết thanh
vào dung dịch gây tê.
+ Để kéo dài sự tê (có khi đến 2 ngày) pha thuốc tê trong dầu thực vật, dầu cá làm
chậm sự hấp thu thuốc tê Kéo dài thời gian tê.
b. Phương pháp gây tê
Gây tê bề mặt
Sử dụng để gây tê niêm mạc, tương mạc, màng hoạt dịch…
- Để gây tê niêm mạc mắt, ta nhỏ vào niêm mạc mắt vài giọt novocain 5-10%.
- Gây tê niêm mạc miệng, mũi, hầu, cơ quan sinh dục hay các niêm mạc khác, dùng dung
dịch novocain 5-10% tẩm vào cục bông rồi thấm vào niêm mạc.
- Gây tê niêm mạc bàng quang, dùng novocain 0,25-0,5%, bơm vào trong bàng quang sau
tiêm xung quanh vùng phẫu thuật với nhiều điểm tiêm.
Gây tê dẫn truyền
- Gây tê dẫn truyền là dùng thuốc tê tiêm vào tổ chức xung quanh dây thần kinh chi phối vùng
định phẫu thuật, làm cho dây thần kinh đó mất khả năng dẫn truyền kích thích từ vùng phẫu
thuật đến trung khu thần kinh.
- Dùng dung dịch gây tê có nồng độ cao hơn so với gây tê thấm (novocain 2-3%) do các dây
thần kinh có tổ chức liên kết thưa và lớp mỡ bao bọc.
- Liều từ 5-20 ml tùy thuộc vào độ dày của dây thần kinh và vị trí nằm nông, sâu của nó.
- Khi tiêm cần chú ý tránh tiêm vào mạch máu vì dây thần kinh thường đi kèm với mạch máu.
- Khi thực hiện gây tê dẫn truyền thường phải kết hợp với gây tê thấm hay gây tê bề mặt, vì tại
mô bào cục bộ có nhiều đầu mút của các dây thần kinh khác nhau chi phối. Gây tê ngoài màng cứng tủy sống.
Xoang ngoài màng cứng
là xoang ở giữa màng cứng của tuỷ sống và màng xương bên
trong của xương sống. Dùng thuốc tê tiêm vào xoang ngoài màng cứng sẽ cắt đứt dẫn truyền
kích thích của thần kinh cạnh sống đi qua xoang ấy.
Gây tê ngoài màng cứng tủy sống được xem như một loại gây tê dẫn truyền trung tâm.
Căn cứ vào vị trí tiêm thuốc tê mà người ta chia ra:
+ Gây tê thắt lưng (lumbalis): Điểm giữa đốt sống hông 1 và 2
Thạch Văn Mạnh TYD-K55
20
+ Gây tê hông khum (lumba-sacralis): Điểm giữa đốt sống hông cuối và đốt sống khum đầu
tiên.
+ Gây tê đốt sống đuôi (sacralis): Điểm giữa đốt sống đuôi thứ nhất và đốt sống đuôi thứ 2.
Phương pháp gây tê đốt sống đuôi (sacralis):
3
Thạch Văn Mạnh TYD-K55
21
cho 3 được 17
để gây tê sacralis thấp cần tiêm17ml novocain 2%, gây tê sacralis cao cần
tiêm nhiều hơn 17ml novocain 2%).
+ Đối với vật nuôi nhỏ: đo khoảng cách từ xương chẩm đến gốc đuôi, được bao
nhiêu chia cho 10, thương số chính là số ml novocain 2% để gây tê sacralis thấp, gây tê
sacralis cao cần tiêm nhiều hơn. - Gây tê ngoài màng cứng thời gian tê kéo dài 1,5-2 giờ.
- Cách tiêm:
+ Một tay cầm đuôi lắc qua, lắc lại, một tay sờ phía trên gốc đuôi tìm khớp.
+ Đâm kim chếch một góc 45
0
, cảm giác qua khung xương sống, chạm thành đốt sống
thì rút lại một chút. Đầu kim tự do, bơm thuốc chậm, thấy nhẹ tay ấn lên pittông.
Chú ý: Nhiệt độ của thuốc tiêm phải tương đương với thân nhiệt vật nuôi.
Chương 4: chảy máu và pp cầm máu:
sẫm và màu đỏ tươi. Loại xuất huyết này rất khó cầm máu.
e. Chảy máu ngoài
- Máu chảy từ cơ thể tràn ra bề mặt da hay các niêm mạc, có thể nhìn thấy được.
Loại xuất huyết này dễ phát hiện và dễ xử lý
f. Chảy máu trong
- Xuất hiện khi các cơ quan nằm sâu (dưới lớp che phủ) bị tổn thương, nhưng lớp
che phủ bên ngoài cơ thể không bị tổn thương, hoặc sau phẫu thuật mà da đã
được khâu kín. Máu không chảy ra ngoài cơ thể mà tích tụ lại trong các xoang
của cơ thể, mắt thường không nhìn thấy được. Xuất huyết dạng này khó phát
hiện, khó xử lý.
g. Chảy máu kẽ mô
- Là những trường hợp tổn thương mạch quản, máu thoát ra ngoài mạch quản nhưng
tích lại giữa các lớp tổ chức tạo thành các u máu.
h. Chảy máu tiên phát
- Xuất hiện ngay sau khi mạch máu bị tổn thương.
i. Chảy máu thứ phát
- Xuất hiện sau khi xuất huyết nguyên phát đã thực hiện biện pháp cầm máu
nhưng không triệt để. Nó phát triển do sự suy yếu và tuột nút chỉ thắt mạch quản
hay sự tan rã của cục máu đông. 2. Đề phòng mất máu nhiều khi phẫu thuật ( cầm máu dự phòng )
Cầm máu dự phòng cục bộ
- Đặt garo là phương pháp tốt nhất để đề phòng chảy máu cục bộ, khi phẫu thuật ở 4 chân
và đuôi. Dùng dây cao su, băng cuộn, dây vải… buộc vòng quanh cơ quan, phía trên vùng
phẫu thuật, theo hướng dòng chảy của động mạch.
như Gluconat Canxi, Canxi fort có ưu điểm hơn là không gây áp-xe nếu tiêm dưới da, tiêm bắp.
- Tiêm dưới da dung dịch Gelatin 2%, vật nuôi lớn: 100-200 ml, vật nuôi nhỏ: 10-20 ml
dung dịch này vừa có tác dụng làm tăng độ nhớt của máu, do đó máu chảy chậm hơn, tiểu
cầu dễ vỡ hơn, quá trình đông máu dễ xảy ra, hơn nữa nó còn cung cấp ion Ca
++
cũng làm
tăng quá tình đông máu.
- Dùng huyết thanh ngựa bình thường, tiêm dưới da hay tĩnh mạch cho ngựa, liều 100-150
ml/con trưởng thành.
- Dùng Adrenalin 0,1% tiêm bắp, tĩnh mạch hoặc thấm trên bề mặt đang chảy máu làm co
mạch máu, giúp cầm máu.
- Tiêm vitamin K trước khi phẫu thuật 1-2 ngày. Vitamin K thúc đẩy quá trình tổng hợp
prothrombin ở gan là chất tham gia vào quá trình đông máu.
Có thể thực hiện cầm máu dự phòng toàn thân kết hợp cầm máu dự phòng cục bộ hoặc
chỉ dùng 1 trong 2 phương pháp trên. Đa số các phương pháp cầm máu dự phòng toàn
Thạch Văn Mạnh TYD-K55
24
thân hay cục bộ đều với nguyên tắc cung cấp cho cơ thể bệnh súc yếu tố đông máu,
cung cấp thêm máu, làm co mạch hoặc tăng độ nhớt máu…
3. Phương pháp cầm máu khi phẫu thuật
a. Cầm máu tạm thời
- Phương pháp xoắn vặn: Áp dụng khi thiến vật nuôi còn non. Mạch máu ở
thừng dịch hoàn của con đực và mạch máu vùng ống dẫn trứng của con cái chưa
dai chắc lắm. Sau khi bộc lộ được thừng dịch hoàn và buồng trứng dùng panh
kẹp mạch máu, kẹp ngang qua thừng dịch hoàn hay ống dẫn trứng. Cầm dịch
+ Dùng nhiệt độ cao: Nung nóng thanh kim loại, mỏ hàn điện… áp vào nơi
đang chảy máu. Nhiệt độ cao làm cháy các tổ chức trên bề mặt, tạo điều kiện
cho sự hình thành các cục nghẽn, vít các mạch quản bị đứt.