TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
KHOA ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
Tiểu luận môn TÀI CHÍNH QUỐC TẾ
ĐỀ TÀI: CÁC TỔ CHỨC TÀI CHÍNH –
WTO, WB, IMF Giảng viên hướng dẫn : TS Nguyễn Thị Liên Hoa
Lớp : Cao học K16 Đêm 2- Ngân hàng
Nhóm thực hiện : Nhóm6
Thành viên của nhóm:
1. Cao Như Hồng
2. Lê Thị Kim Loan
3. Đỗ Thị Kim Luyến
4. Trương Thị Ngọc Mai
5. Nguyễn Thị Thanh Nga
6. Nguyễn Thị Công Uyên
TP. Hồ Chí Minh 03/2008
II. Cơ cấu tổ chức: 24
III.Các thể thức cho vay của IMF: 25
IV.Quan hệ giữa IMF và Việt Nam: 26 A. TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI-WTO
I. Nguồn gốc và mục tiêu họat động
1. Nguồn gốc:
Hội nghị Bretton Woods vào năm 1944 đã đề xuất thành lập Tổ chức Thương mại Quốc
tế (ITO) nhằm thiết lập các quy tắc và luật lệ cho thương mại giữa các nước. Hiến chương ITO
được nhất trí tại Hội nghị của Liên Hiệp Quốc về Thương mại và Việc làm tại Havana tháng 3
năm 1948. Tuy nhiên, Thượng nghị viện Hoa Kỳ đã không phê chuẩn hiến chương này. M ột số
nhà sử học cho rằng sự thất bại đó bắt nguồn từ việc giới doanh nghiệp Hoa Kỳ lo ngại rằng Tổ
chức Thương mại Quốc tế có thể được sử dụng để kiểm soát chứ không phải đem lại tự do hoạt
động cho các doanh nghiệp lớn của Hoa Kỳ (Lisa Wilkins, 1997).
ITO chết yểu, nhưng hiệp định mà ITO định dựa vào đó để điều chỉnh thương mại quốc tế
vẫn tồn tại. Đó là Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT). GATT đóng vai trò là
khung pháp lý chủ yếu của hệ thống thương mại đa phương trong suốt gần 50 năm sau đó. Các
Giám sát các chính sách thương mại của các quốc gia
Trợ giúp kỹ thuật và huấn luyện cho các nước đang phát triển
Hợp tác với các tổ chức quốc tế khác
1. Đàm phán:
Phần lớn các quyết định của WTO đều dựa trên cơ sở đàm phán và đồng thuận. M ỗi
thành viên của WTO có một phiếu bầu có giá trị ngang nhau. Nguyên tắc đồng thuận có ưu điểm
là nó khuyến khích nỗ lực tìm ra một quyết định khả dĩ nhất được tất cả các thành viên chấp
nhận. Nhược điểm của nó là tiêu tốn nhiều thời gian và nguồn lực để có được một quyết định
đồng thuận. Đồng thời, nó dẫn đến xu hướng sử dụng những cách diễn đạt chung chung trong
hiệp định đối với những vấn đề có nhiều tranh cãi, khiến cho việc diễn giải các hiệp định gặp
nhiều khó khăn.
Trên thực tế, đàm phán của WTO diễn ra không phải qua sự nhất trí của tất cả các thành
viên, mà qua một quá trình đàm phán không chính thức giữa những nhóm nước. Những cuộc
đàm phán như vậy thường được gọi là "đàm phán trong phòng xanh" (tiếng Anh: "Green Room"
negotiations), lấy theo màu của phòng làm việc của Tổng giám đốc WTO tại Genève, Thụy Sỹ.
Chúng còn được gọi là "Hội nghị Bộ trưởng thu hẹp" (Mini-Ministerials) khi chúng diễn ra ở các
nước khác. Quá trình này thường bị nhiều nước đang phát triển chỉ trích vì họ hoàn toàn phải
đứng ngoài các cuộc đàm phán như vậy.
Richard Steinberg (2002) lập luận rằng mặc dù mô hình đồng thuận của WTO đem lại vị
thế đàm phán ban đầu dựa trên nền tảng luật lệ, các vòng đàm phán thương mại kết thúc thông
qua vị thế đàm phán dựa trên nền tảng sức mạnh có lợi cho Liên minh châu Âu và Hoa Kỳ, và có
thể không đem đến sự cải thiện Pareto. Thất bại nổi tiếng nhất và cũng gần đây nhất trong việc
đạt được một sự đồng thuận là tại các Hội nghị Bộ trưởng diễn ra ở Seattle (1999) và Cancún
(2003) do một số nước đang phát triển không chấp thuận các đề xuất được đưa ra.
WTO bắt đầu tiến hành vòng đàm phán hiện tại, Vòng đàm phán Doha, tại Hội nghị Bộ
trưởng lần thứ 4 diễn ra tại Doha, Qatar vào tháng 11 năm 2001. Các cuộc đàm phán diễn ra
căng thẳng và chưa đạt được sự nhất trí, mặc dù đàm phán vẫn đang tiếp diễn qua suốt Hội nghị
Tất cả các thành viên WTO đều có thể tham gia vào các hội đồng, ủy ban của WTO,
ngoại trừ Cơ quan Phúc thẩm, các Ban Hội thẩm Giải quyết Tranh chấp và các ủy ban đặc thù.
3.1 Cấp cao nhất: Hội nghị Bộ trưởng
Cơ quan quyền lực cao nhất của WTO là Hội nghị Bộ trưởng diễn ra ít nhất hai năm một
lần. Hội nghị có sự tham gia của tất cả các thành viên WTO. Các thành viên này có thể là một
nước hoặc một liên minh thuế quan (chẳng hạn như Cộng đồng châu Âu). Hội nghị Bộ trưởng có
thể ra quyết định đối với bất kỳ vấn đề trong các thỏa ước thương mại đa phương của WTO.
3.2 Cấp thứ hai: Đại Hội đồng
Công việc hàng ngày của WTO được đảm nhiệm bởi 3 cơ quan: Đại Hội đồng, Hội đồng
Giải quyết Tranh chấp và Hội đồng Rà soát Chính sách Thương mại. Tuy tên gọi khác nhau,
nhưng thực tế thành phần của 3 cơ quan đều giống nhau, đều bao gồm đại diện (thường là cấp
đại sứ hoặc tương đương) của tất cả các nước thành viên. Điểm khác nhau giữa chúng là chúng
được nhóm họp để thực hiện các chức năng khác nhau của WTO.
1. Đại Hội đồng là cơ quan ra quyết định cao nhất của WTO tại Geneva, được nhóm họp
thường xuyên. Đại Hội đồng bao gồm đại diện (thường là cấp đại sứ hoặc tương đương) của tất
cả các nước thành viên và có thẩm quyền quyết định nhân danh hội nghị bộ trưởng (vốn chỉ
nhóm họp hai năm một lần) đối với tất cả các công việc của WTO.
2. Hội đồng Giải quyết Tranh chấp được nhóm họp để xem xét và phê chuẩn các phán
quyết về giải quyết tranh chấp do Ban Hội thẩm hoặc Cơ quan Phúc thẩm đệ trình. Hội đồng bao
gồm đại diện của tất cả các nước thành viên (cấp đại sứ hoặc tương đương).
3. Hội đồng Rà soát Chính sách Thương mại được nhóm họp để thực hiện việc rà soát
chính sách thương mại của các nước thành viên theo cơ chế rà soát chính sách thương mại. Đối
với những thành viên có tiềm lực kinh tế lớn, việc rà soát diễn ra khoảng hai đến ba năm một
lần. Đối với những thành viên khác, việc rà soát có thể được tiến hành cách quãng hơn.
3.3 Cấp thứ ba: Các Hội đồng Thương mại
Các Hội đồng Thương mại hoạt động dưới quyền của Đại Hội đồng. Có ba Hội đồng
Thương mại là: Hội đồng Thương mại Hàng hóa, Hội đồng Thương mại Dịch vụ và Hội đồng
Các khía cạnh của Quyền Sở hữu Trí tuệ liên quan đến Thương mại. Một hội đồng đảm trách
một lĩnh vực riêng. Cũng tương tự như Đại Hội đồng, các hội đồng bao gồm đại diện của tất cả
các nước thành viên WTO. Bên cạnh ba hội đồng này còn có sáu ủy ban và cơ quan độc lập khác
đối tượng tương tự trong nước.
2. Đãi ngộ tối huệ quốc: Các ưu đãi thương mại của một thành viên dành cho một
thành viên khác cũng phải được áp dụng cho tất cả các thành viên trong WTO.
Tự do mậu dịch hơn nữa: dần dần thông qua đàm phán
Tính Dự đoán thông qua Liên kết và Minh bạch: Các quy định và quy chế thương mại
phải được công bố công khai và thực hiện một cách ổn định.
Ưu đãi hơn cho các nước đang phát triển: Giành những thuận lợi và ưu đãi hơn cho các
thành viên là các quốc gia đang phát triển trong khuôn khổ các chỉ định của WTO.
Thiết lập môi trường cạnh tranh bình đẳng cho thương mại giữa các nước thành viên
V. Các hiệp định:
Các thành viên WTO đã ký kết khoảng 30 hiệp định khác nhau điều chỉnh các vấn đề về
thương mại quốc tế. Tất cả các hiệp định này nằm trong 4 phụ lục của Hiệp định về việc Thành
lập Tổ chức Thương mại Thế giới được ký kết tại Marrakesh, M aroc vào ngày 15 tháng 4 năm
1994. Bốn phụ lục đó bao gồm các hiệp định quy định các quy tắc luật lệ trong thương mại quốc
tế, cơ chế giải quyết tranh chấp, cơ chế rà soát chính sách thương mại của các nước thành viên,
các thỏa thuận tự nguyện của một số thành viên về một số vấn đề không đạt được đồng thuận tại
diễn đàn chung. Các nước muốn trở thành thành viên của WTO phải ký kết và phê chuẩn hầu hết
những hiệp định này, ngoại trừ các thỏa thuận tự nguyện. Sau đây sẽ là một số hiệp định của
WTO:
Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại 1994 (GATT 1994)
Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ (GATS)
Hiệp định về Các khía cạnh liên quan đến Thương mại của Quyền Sở hữu Trí tuệ
(TRIPS)
Angola – 23 tháng 11 năm 1996
Antigua và Barbuda – 1 tháng 1 năm 1995
Argentina – 1 tháng 1 năm 1995
Armenia – 5 tháng 2 năm 2003
Úc – 1 tháng 1 năm 1995
Áo – 1 tháng 1 năm 1995
Bahrain – 1 tháng 1 năm 1995
Bangladesh – 1 tháng 1 năm 1995
Barbados – 1 tháng 1 năm 1995
Bỉ – 1 tháng 1 năm 1995
Kuwait – 1 tháng 1 năm 1995
Kyrgyzstan – 20 tháng 12 năm 1998
Latvia – 10 tháng 2 năm 1999
Lesotho – 31 tháng 5 năm 1995
Burkina Faso – 3 tháng 6 năm 1995
Burundi – 23 tháng 7 năm 1995
Kampuchia – 13 tháng 10 năm 2004
Cameroon – 13 tháng 12 năm 1995
Canada – 1 tháng 1 năm 1995
Cộng hoà Trung Phi – 31 tháng 5
năm
1995
Tchad – 19 tháng 10 năm 1996
Chile – 1 tháng 1 năm 1995
Trung Quốc – 11 tháng 12 năm 2001
Colombia – 30 tháng 4 năm 1995
Cộng hoà Congo – 27 tháng 3 năm 1997
Costa Rica – 1 tháng 1 năm 1995
Côte d'Ivoire – 1 tháng 1 năm 1995
Croatia – 30 tháng 11 năm 2000
Mozambique – 26 tháng 8 năm 1995
Myanma – 1 tháng 1 năm 1995
Namibia – 1 tháng 1 năm 1995
Nepal – 23 tháng 4 năm 2004
Hà Lan (và Antilles thuộc Hà Lan) –
1 tháng 1 năm 1995
New Zealand – 1 tháng 1 năm 1995
Nicaragua – 3 tháng 9 năm 1995
Niger – 13 tháng 12 năm 1996
Nigeria – 1 tháng 1 năm 1995
Na Uy – 1 tháng 1 năm 1995
Oman – 9 tháng 11 năm 2000
Pakistan – 1 tháng 1 năm 1995
Panama – 6 tháng 9 năm 1997
Phần Lan – 1 tháng 1 năm 1995
M acedonia – 4 tháng 4 năm 2003
Pháp – 1 tháng 1 năm 1995
Gabon – 1 tháng 1 năm 1995
Gambia – 23 tháng 10 năm 1996
Gruzia – 14 tháng 6 năm 2000
Đức – 1 tháng 1 năm 1995
Ghana – 1 tháng 1 năm 1995
Hy Lạp – 1 tháng 1 năm 1995
Grenada – 22 tháng 2 năm 1996
Guatemala – 21 tháng 7 năm 1995
Guinée – 25 tháng 10 năm 1995
Guiné-Bissau – 31 tháng 5 năm 1995
Guyana – 1 tháng 1 năm 1995
Haiti – 30 tháng 1 năm 1996
Sénégal – 1 tháng 1 năm 1995
Sierra Leone – 23 tháng 7 năm 1995
Singapore – 1 tháng 1 năm 1995
Slovakia – 1 tháng 1 năm 1995
Slovenia – 30 tháng 7 năm 1995
Quần đảo Solomon – 26 tháng 7
năm
1996
Cộng hoà Nam Phi – 1 tháng 1
năm
1995
Tây Ban Nha – 1 tháng 1 năm 1995
Sri Lanka – 1 tháng 1 năm 1995
Suriname – 1 tháng 1 năm 1995
Swaziland – 1 tháng 1 năm 1995
Thụy Điển – 1 tháng 1 năm 1995
Zambia – 1 tháng 1 năm 1995
Zimbabwe – 5 tháng 3 năm 1995
Tonga – 27 tháng 7 năm 2007
Tanzania – 1 tháng 1 năm 1995
Thái Lan – 1 tháng 1 năm 1995
Togo – 31 tháng 5 năm 1995
Trinidad và Tobago – 1 tháng 3
năm
1995
Tunisia – 29 tháng 3 năm 1995
Thổ Nhĩ Kỳ – 26 tháng 3 năm 1995
Uganda – 1 tháng 1 năm 1995
Các Tiểu Vương qu
ốc Ả Rập Thống
nhất – 10 tháng 4 năm 1996
Vương quốc Liên hiệp Anh và B
ắc
Việt Nam đang có được niềm tin tốt nhất từ các nhà đầu tư nước ngoài với triển vọng đầu
tư rất cao. Thời gian qua, chúng ta đã nhìn thấy nhiều thay đổi lớn trong chính sách của Chính
phủ, kết quả của quá trình tự do hóa thị trường ở Việt Nam. Chúng tôi trông đợi năm 2008 và
những năm kế tiếp sẽ là một năm bùng nổ cho ngành tài chính ngân hàng với những cải cách
không ngừng của Chính phủ.
Song song với những triển vọng tốt đẹp đối với Việt Nam nói chung và khu vực ngân
hàng tài chính nói riêng, vẫn còn không ít những thách thức mà một trong số đó là sự khan hiếm
nguồn nhân lực có chuyên môn cao. Cơ sở hạ tầng vẫn còn là một trở ngại không nhỏ khi hệ
thống đường sá, cảng biển, cơ sở vật chất và các dự án xây dựng… đang chịu một áp lực không
nhỏ để theo kịp đà phát triển nhanh chóng cũng như tăng trưởng kinh tế cao trong giai đoạn sắp
tới.
Ông Henry Birr - Phó Chủ tịch Tập đoàn Metro: “Nhấn mạnh vai trò của một quốc
gia thương mại”
Việc gia nhập WTO đã nhấn mạnh vai trò quan trọng của Việt Nam như một quốc gia
thương mại. Trong thời gian qua, Chính phủ Việt Nam đã chứng minh được chính sách kinh tế
vững mạnh và đáng tin cậy. Metro hoàn toàn tin tưởng đường lối này sẽ được tiếp tục và sẽ tạo
nền tảng vững chắc cho đầu tư và cho thành công trong tương lai. (Thương mại)
B. NGÂN HÀNG THẾ GIỚI (WORLD BANK)
I. Giới thiệu:
1. Tổng quan:
World Bank Group, thường được gọi tắt là Ngân hàng Thế giới và được viết tắt là WB là
một tổ chức tài chính đa phương có mục đích trung tâm là thúc đẩy phát triển kinh tế và xã hội ở
các nước đang phát triển bằng cách nâng cao năng suất lao động ở các nước này. Nhóm Ngân
hàng Thế giới bao gồm năm tổ chức tài chính thành viên, đó là Ngân hàng Quốc tế Tái thiết và
Phát triển, Hội Phát triển Quốc tế, Công ty Tài chính Quốc tế, Trung tâm Quốc tế Giải quyết
Mâu thuẫn Đầu tư, và Cơ quan Đảm bảo Đa phương.
Ngân hàng Quốc tế Tái thiết và Phát triển (IBRD: International Bank for Reconstruction
and Development): được chính thức thành lập ngày 27/12/1945 với trách nhiệm chính là cấp tài
IDA. Các khoản vay sẽ không đòi lãi suất và có thời hạn lên tới 35-40 năm.
Trong hai thập kỳ đầu kể từ khi được thành lập, IBRD đã dành hơn 2/3 tổng giá trị các
khoản cho vay của mình cho các dự án phát triển năng lượng và giao thông vận tải.
Trong hai thập niên 1960 và 1970, các dự án phát triển cơ sở hạ tầng vẫn quan trọng nhất,
song hoạt động của IBRD và IDA đã rất đa dạng, từ hỗ trợ giáo dục, y tế, dinh dưỡng, kế hoạch
hóa gia đình, đến hỗ trợ phát triển nông thôn và hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ. Các hoạt động của
IBRD và IDA đều trực tiếp liên quan đến giúp đỡ người nghèo và mang hình thức hỗ trợ tài
chính lẫn kỹ thuật.
Từ thập niên 1980, ngoài đầu tư vào vốn vật chất và vốn con người, IBRD và IDA bắt
đầu cho vay để cải cách cơ cấu kinh tế và điều chỉnh chính sách ở các nước đang phát triển.
Phản ứng nhạy bén và chú trọng xóa nghèo là các mục tiêu hiện nay của IBRD và IDA.
2. IFC:
IFC cho các dự án tư nhân ở các nước đang phát triển vay theo giá thị trường nhưng là
vay dài hạn hoặc cấp vốn cho họ. Sự tham gia của IFC như một sự bảo đảm đối với các nhà đầu
tư khác quan tâm tới dự án và khuyến khích họ đầu tư vào dự án. Nhiệm vụ của IFC là thúc đẩy
đầu tư vào khu vực tư nhân tại các nước đang phát triển nhằm xoá đói giảm nghèo và cải thiện
đời sống nhân dân. IFC cấp vốn cho các dự án đầu tư bằng tiền của mình và qua huy động vốn
trên thị trường tài chính quốc tế. IFC cũng cung cấp trợ giúp kỹ thuật và tư vấn cho chính phủ và
doanh nghiệp.
IFC là tổ chức đa phương cung cấp vốn cổ phần và vốn vay lớn nhất cho các doanh
nghiệp tư nhân tại các nước đang phát triển. Nguồn vốn của IFC là dài hạn và theo điều kiện thị
trường.
Vốn điều lệ của IFC do 175 nước thành viên cung cấp, và họ cùng quyết định chính sách
và phê duyệt các khoản đầu tư của IFC.
Trong năm 2001 IFC phê duyệt 240 dự án, cung cấp 3.7 tỷ USD vốn của IFC và 1.6 t ỷ
USD từ các ngân hàng tư nhân qua các chương trình cho vay hợp vốn.
chính phủ ấy đã làm lợi phần lớn cho các quốc gia phát triển. Ví dụ vào 1/11/2006 M ỹ giữ
16,4% tổng số phiếu; Nhật:7,9%; Đức:4,5% và Anh, Pháp mỗi bên giữ 4,3%. Và kết quả chỉ
được thông qua khi đạt được 85% trên tổng số phiếu.
Như thế chứng tỏ M ỹ có thể khống chế được hầu hết chính sách hay thay đổi của WB.
III. Vị thế của Việt nam tại WB
1. Vị thế:
- Gia nhập WB: Ngày 18/8/1956, chính quyền Sài gòn Nam Việt Nam gia nhập WB. Ngày
21/9/1976, nước CHXHCN Việt Nam tiếp quản tư cách hội viên tại WB của Chính quyền Sài
gòn cũ.
- Cổ phần của Việt nam tại
+ IBRD là 968 cổ phần. Tổng số phiếu bầu là 1218, chiếm 0,08%
+ IDA là 14.778 cổ phần. Tổng số phiếu bầu là 19.203, chiếm 0,14%
+ IFC là 446 cổ phần. Tổng số phiếu bầu là 696, chiếm 0,03%
+ M IGA là 388 cổ phần. Tổng số phiếu bầu là 565, chiếm 0,29%
2. Các hoạt động của WB tại Việt Nam
2.1. Quan hệ VN - WB giai đoạn 1978-1993
- Năm 1978, WB đã cho Việt Nam vay một khoản tín dụng trị giá 60 triệu USD để thực hiện dự
án Thuỷ lợi Dầu tiếng. Tháng 1/1985, IMF và WB đình chỉ quyền vay vốn của Việt nam do
Việt nam mắc nợ quá hạn.
2.2. Quan hệ VN-WB giai đoạn 93 đến nay
Sau một thời gian bị gián đoạn, đến tháng 10/1993, với nỗ lực to lớn và quyết tâm thực
hiện cải cách của Chính phủ Việt Nam cùng với sự vận động dàn xếp tài chính thiện chí của các
nhà tài trợ thuộc Câu lạc bộ Paris, quan hệ tín dụng giữa WB và Việt Nam đã chính thức được
nối lại.
Văn phòng Đại diện của WB tại Việt Nam: Ngày 14/09/1994, WB chính thức mở Văn
phòng tại Hà nội. Từ năm 1993 đến nay, WB đã bổ nhiệm 03 cán bộ giữ chức vụ Giám đốc Văn
phòng WB tại Việt nam: ông Bradley Babson (1993-1997), ông Andrew Steer (1997-2002) và
hiện này Ajay Chhibber
Trong số các tổ chức cho vay thuộc nhóm WB, hỗ trợ tài chính dưới hình thức cho vay ưu
Hiện nay, WB đang dự kiến việc mở thêm một Trung tâm Đào tạo Từ xa tại TP. Hồ Chí
Minh và mở rộng mạng kết nối đào tạo phát triển toàn cầu (GDLN) .
3. Chiến lược hỗ trợ của WB tại Việt Nam
Chiến lược hỗ trợ quốc gia của Ngân hàng Thế giới là “kế hoạch kinh doanh” được trực
tiếp thông tin cũng như hướng dẫn của Chiến lược tăng trưởng và giảm nghèo toàn diện của
Chính phủ Việt Nam (CPRGS), chiến lược này đặt mục tiêu giảm nghèo và tăng trưởng ở trung
tâm của các chiến lược phát triển của Chính phủ.
Chiến lược tăng trưởng và giảm nghèo toàn diện được Thủ tướng chính phủ thông qua
tháng 5 năm 2002, được xây dựng trên cơ sở tham vấn rộng rãi với các bộ, ngành, các nhà tài trợ
và các cộng đồng trong xã hội, đóng vai trò là một kế hoạch hành động cho Chính phủ và thông
qua Chiến lược hỗ trợ quốc gia mới cho Việt Nam, là khuôn khổ cho chương trình hỗ trợ của
Ngân hàng Thế giới cho Việt Nam trong tương lai. Chiến lược tăng trưởng và giảm nghèo toàn
diện đặt ra ba mục tiêu lớn và ba mục tiêu này lại được coi là các nguyên tắc tổ chức chính của
Chiến lược hỗ trợ quốc gia của Ngân hàng Thế giới cho Việt Nam.
Mục tiêu thứ nhất là hỗ trợ Việt Nam chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, sẽ vẫn tiếp
tục là mục tiêu trung tâm của các hoạt động của Ngân hàng Thế giới, với sự chuyển hướng từ
“thiết kế” sang hỗ trợ Chính phủ “thực hiện” chương trình cải cách chính sách.
Các chương trình kế hoạch được thiết kế trong Chiến lược hỗ trợ quốc gia tập trung vào
phát triển ngành tài chính; cải cách các doanh nghiệp nhà nước; hỗ trợ cho khu vực kinh tế tư
nhân đang nổi lên; quản trị doanh nghiệp và sự tham gia của khu vực tư nhân vào cơ sở hạ tầng.
Công ty tài chính quốc tế IFC, Chương trình Phát triển Dự án Mê kông MPDF và Tổ chức bảo
lãnh đầu tư đa phương M IGA sẽ mở rộng chương trình hoạt động để cải thiện môi trường đầu tư
trong nước cũng như nước ngoài.
Chiến lược tăng trưởng và giảm nghèo toàn diện đưa ra một chương trình 6 bước nêu bật
các thách thức trong tương lai để đạt được mục tiêu lớn thứ hai của chiến lược này là củng cố
phát triển công bằng, hội nhập và bền vững. Mục tiêu này được Ngân hàng Thế giới hỗ trợ tích
cực thông qua toàn bộ giai đoạn thực hiện của Chiến lược hỗ trợ quốc gia CAS. Các ưu tiên
chính được đưa ra ở mục tiêu này gồm phối hợp với Chính phủ thu hẹp các khoảng cách phát
triển của các vùng khó khăn và tụt hậu; nâng cao mức sống của các cộng đồng dân tộc thiểu số;
cố và phát triển. Điều này được thể hiện thông qua các chuyến thăm và làm việc chính thức tại
Việt Nam của Chủ tịch WB - Ngài James D. Wolfensohn năm 1996 và 2000 và các chuyến thăm
của các Tổng Giám đốc, các Phó Chủ tịch. Phía WB đã đánh giá cao những kết quả đạt được và
nỗ lực to lớn của Chính phủ Việt Nam trong công cuộc cải cách kinh tế, xoá đói giảm nghèo và
thực hiện công bằng xã hội
Quan hệ với IFC: Kể từ năm 1993, IFC đã thông qua 30 dự án với tổng số vốn đầu tư là
605 triệu USD dưới hình thức tài trợ trực tiếp và hợp vốn, hỗ trợ cho các dự án có tổng số vốn
đầu tư khoảng 1,6 tỷ USD. Hoạt động của IFC chủ yếu đầu tư vào khu vực ngoài quốc doanh
của nền kinh tế như sản xuất xi măng, thép, khách sạn, may mặc, chế biến nông sản Ngoài ra,
IFC còn thành lập Chương trình Phát triển Dự án Mê kông (MPDF). Trong thời gian vừa qua,
MPDF đã hỗ trợ tiếp cận tài chính cho 72 dự án của các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SM E) trị giá
50 triệu USD và thực hiện 15 khoản HTKT. M PDF đã tích cực giúp đánh giá môi trường kinh
doanh cho các doanh nghiệp tư nhân ở Việt nam, trong lĩnh vực đào tạo cho các ngân hàng và
các nhà quản lý trong nước, và xây dựng năng lực cho tư vấn trong nước
Quan hệ với MIGA: với mục tiêu hoạt động của mình, MIGA đã phát hành 7 Hiệp định
bảo lãnh ở Việt nam với tổng trị giá 451 triệu USD trong lĩnh vực xây dựng khách sạn, chế biến
xuất khẩu cà phê, xây dựng nhà máy sản xuất kính và dự án điện BOT Phú Mỹ 3.
IV. Vai trò của WB đối với sự phát triển kinh tế của Việt Nam và xu hướng ODA của WB
cho Việt Nam.
Kể từ khi nối lại quan hệ tín dụng với WB vào 10/1993, WB cung cấp 3 loại dịch vụ chủ
yếu là: (1) thiết kế và tài trợ cho các dự án phát triển; (2) hỗ trợ kỹ thuật (TA), tư vấn về chính
sách và các báo cáo phân tích; và (3) điều phối viện trợ
(1) Tài trợ của WB cho Việt nam thường tập trung vào các dự án trong các lĩnh vực phát
triển cơ sở hạ tầng, phát triển thể chế và nguồn nhân lực nay hướng trọng tâm vào xoá đói
giảm nghèo, các khoản vay chương trình điều chỉnh cơ cấu kinh tế và các khoản vay chương
trình theo ngành trong thời gian tới. Điều này cho thấy Việt nam đã dần dần nâng cao năng lực
tiếp nhận và sử dụng nguồn vốn ODA trong thời gian qua
Chương trình Tín dụng Điều chỉnh Cơ cấu (SAC I) và Chương trình Tín dụng Hỗ trợ
Giảm nghèo (PRSC) I và II tập trung vào 5 lĩnh vực cải cách trọng tâm của nền kinh tế bao gồm
V. Các Tổ chức thành viên của WB tại Việt Nam
1. IFC tại Việt Nam
Từ năm 1994, cho đến tháng 10 năm 2001, IFC đã cam kết cấp vốn cho 15 dự án tại Việt
Nam.
Đối với các dự án này IFC đã cung cấp 383 triệu USD trong đó 180 triệu USD do bản
thân IFC và 203 triệu USD cho các ngân hàng tham gia.
IFC hỗ trợ sự phát triển của khu vực tư nhân tại Việt Nam qua đầu tư và tư vấn. Ưu tiên
chiến lược của IFC tại Viêt Nam là tiếp tục tập trung vào:
Xây dựng tổ chức và thị trường tài chính trong nước.
Phát triển cơ sở hạ tầng qua tư nhân hoá và đầu tư.
Cải cách Doanh nghiệp nhà nước.
Hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs).
Cải thiện môi trường đầu tư.
Ngoài ra, IFC quản lý Chưong Trình Phát Triển Dự Án Mekong (MPDF), một hoạt động
do nhiều tổ chức tài trợ nhằm đẩy mạnh việc thành lập và phát triển của các SMEs tại Việt Nam,
Lào, Cambodia.
Từ khi thành lập vào năm 1997, MPDF đã cung cấp hỗ trợ cho 80 công ty và thu xếp tài
chính trị giá khoảng 40 triệu USD.
IFC, cùng với Ngân Hàng Thế Giới, hiện đang tích cực đẩy mạnh Diễn Đàn Doanh
Nghiệp. Mục tiêu của diễn đàn nhằm cải thiện môi trường kinh doanh tại Việt Nam và tổ chức 2
lần một năm hội nghị giữa các nhà hoạch định chính sách, đại diện doanh nghiệp và các nhà tài
trợ.
Các Dự án IFC tại Việt Nam
Tài Chính: vào năm tài chính 1997 IFC giúp thành lập Công ty Cho Thuê Quốc Tế Việt Nam
Tổ chức bảo lãnh đầu tư đa phương (MIGA) hiện đang tìm kiếm khả năng hợp tác với
khối ASEAN để hỗ trợ cho các chương trình xây dựng năng lực thúc đẩy đầu tư được chỉnh sửa
cho các nước thành viên mới nhất của ASEAN( trong đó có Việt Nam) nhằm làm giảm bớt
khoảng cách phát triển giữa những nước này và các thành viên khác của ASEAN.
Tính đến ngày 28 tháng 02 năm 2003, tổng hỗ trợ của M IGA cho Việt Nam là 10 triệu đô
la M ỹ. Số tiền này bao gồm cả một dự án viễn thông được bảo lãnh vào năm 2001. MIGA hiện
cũng đang xem xét hỗ trợ cho một dự án năng lượng ( lên đến khoảng 100 triệu đô la M ỹ).
Chương trình Việt Nam - MIGA, năm tài chính 1999-2002
1999 2000 2001 2002 ước tính
Công cụ đầu tư (%)
Khoản cho vay 0 100 100 30
Góp vốn 14
Những khoản đóng góp t
ương đương
với vốn
56
Các công cụ khác
Tổng cộng 0 100 100 100
Các tín dụng bảo lãnh MIGA (US$m) 36.00 36.00 20.00 20.00
3. Chương trình Phát triển Dự án Mê Kông (MPDF)
Chương trình Phát triển Dự án Mê Kông (MPDF) là chương trình
do nhiều bên tài trợ được điều hành bởi Công ty Tài chính Quốc
tế (IFC), bộ phận kinh tế tư nhân thuộc Tập đoàn Ngân hàng Thế
giới.
Các nhà tài trợ khác của MPDF bao gồm: Ngân hàng Phát triển Châu A, Canada,
Australia, IFC, Na Uy, Nhật Bản, Phần Lan, Thuỵ Sỹ, Thuỵ Điển, và Vương quốc Anh. Sứ mện
của MPDF là thúc đẩy sự hình thành và phát triển của các doanh nghiệp tư nhân nhỏ và vừa
(DNNVV) sở tại ở Việt nam, Căm pu chia và Lào.
chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng 10% so với cùng kỳ năm ngoái, tức là đã tăng 9,5% kể từ đầu
năm, vượt xa mục tiêu của Chính phủ giữ tỉ lệ này thấp hơn tỷ lệ tăng trưởng GDP. Nguyên
nhân chính, theo WB, là do chính sách tỷ giá của Việt Nam gắn chặt với đồng USD nên việc
tăng giá một số mặt hàng trao đổi được trên thị trường thế giới đã có ảnh hưởng rất lớn đến một
nền kinh tế mở như Việt Nam.
Thêm vào đó, những biến động do cung đẩy lạm phát tăng nhanh vẫn chưa lắng xuống.
Trong đó phải kể đến những cú sốc như các đợt dịch bệnh gia súc gia cầm, lũ lụt ở miền Trung,
và giá các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu như sắt thép, xi măng và các sản phẩm xăng dầu
Báo cáo của WB cho biết: Chính phủ Việt Nam đã dành một khoản ngân sách khoảng
500 triệu USD để trợ giá xăng dầu, trong đó khoảng 140 triệu USD được chi tính đến cuối tháng
10/2007. Tuy nhiên, giá bán lẻ xăng dầu đã tăng 15% (từ 11.300 đồng lên 13.000 đồng/lít) vào
ngày 22/11, khi giá dầu thế giới đạt ngưỡng gần 100 USD/thùng. Giá bán lẻ dầu diesel cũng tăng
từ 8.600 đồng lên 14.500 đồng/lít.
Về mặt tín dụng, báo cáo cho rằng quan ngại chủ yếu là mức tăng trưởng tín dụng quá
nhanh sẽ không đảm bảo chất lượng tín dụng. M ặc dù mức tăng trưởng tín dụng đã được kiềm
chế và giảm xuống còn 25% trong năm 2006 nhưng đã lại tăng quá nhanh lên đến 40% tính tới
tháng 8/2007. Những tháng gần đây, Ngân hàng Nhà nước đã tỏ ra lo ngại về những rủi ro liên
quan tới kế hoạch tăng vốn của các ngân hàng thương mại.
Với sự sôi động của thị trường chứng khoán, nhiều ngân hàng đã lợi dụng cơ hội này để
tăng vốn mà thiếu những kế hoạch kinh doanh thích hợp. Do vậy, một quy định mới ra gần đây
đã yêu cầu các ngân hàng muốn tăng vốn thì phải cung cấp kế hoạch kinh doanh chi tiết, trong
đó nêu rõ mức lợi nhuận trên vốn cổ phần và tỷ lệ cổ tức dự kiến sau khi tăng vốn.
Thất vọng về cổ phần hóa các ngân hàng thương mại Nhà nước
WB cũng nhắc đến sự thất vọng của các nhà đầu tư nước ngoài muốn tham gia vào quá
trình cổ phần hoá một số ngân hàng thương mại Nhà nước. Các nhà đầu tư chiến lược nước
ngoài mong đợi mức trần quy định sẽ tăng từ 10% lên 20%, song cuối cùng lại được chốt lại ở
mức 15%. Trong một số trường hợp cụ thể, Thủ tướng có thể cho phép áp dụng mức 20%.
C. QUỸ TIỀN TỆ QUỐC TẾ- IMF
I. Giới thiệu chung về Q uỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF)
1.1. Mục tiêu hoạt động:
IMF không cam kết cho vay vốn theo tài khoá.
IMF xem xét cho các nước thành viên vay tín dụng khi thâm hụt cán cân thanh toán quốc
tế (do nhập siêu hoặc trả nợ), đồng thời các nước này không có nợ quá hạn đối với các tổ chức tài
chính quốc tế (IMF, WB, ADB )
Để được vay IMF, nước xin vay phải lập và thực hiện chương trình cải cách cơ cấu trung
hạn (3-5 năm) với sự thoả thuận và giám sát thực hiện của IM F (gồm khung khổ chính sách về
cải cách kinh tế vĩ mô và các biện pháp thực hiện các cải cách).
Tín dụng IMF được cung cấp và hoàn trả dưới dạng tiền mặt (quy đổi về SDR tại thời
điểm rút vốn hoặc trả nợ). Tiền rút về cho Ngân sách chủ yếu để hỗ trợ cán cân thanh toán quốc
tế hoặc đưa vào dự trữ ngoại lệ, trả nợ. Ngân sách có điều kiện bù đắp cho các khoản chi khác
của Chính phủ.
Trong thời gian thực hiện khoản vay, nếu nước vay nợ không thực hiện đầy đủ các cam
kết (khung chính sách và các biện pháp) sẽ bị ngừng cấp tín dụng. Khi đã bị IMF tuyên bố
ngừng cấp tín dụng thì các tổ chức tài chính quốc tế khác cũng ngừng cấp tín dụng đối với các
khoản vay đang thực hiện. Do vậy, khi đã vay IMF, các quốc gia vay nợ phải thực hiện đầy đủ
các cam kết và không được cam kết những gì ngoài khả năng
II. Cơ cấu tổ chức:
Cơ cấu hiện hành của IM F gồm có Hội đồng Thống đốc, Ban Giám đốc Điều hành, Tổng
Giám đốc, các Phó Tổng Giám đốc và các cán bộ Quỹ.
Hội đồng Thống đốc: Bộ phận ra quyết định cao nhất tại IMF. Hội đồng Thống đốc bao
gồm các Thống đốc (thường là Thống đốc Ngân hàng Trung ương hoặc Bộ trưởng Tài chính) và
một Thống đốc phụ khuyết do từng nước hội viên IM F bổ nhiệm. Hội đồng thống đốc có một số
các quyền hạn cụ thể, chẳng hạn như kết nạp hội viên mới, quyết định cổ phần, và phân bổ đồng
SDR cũng như các quyền hạn khác không phân cấp cho Ban Giám đốc Điều hành hoặc Tổng
Giám đốc. Hội đồng Thống đốc IMF họp Hội nghị thường niên kết hợp với Hội nghị thường
niên của Hội đồng Thống đốc Ngân hàng Thế giới.
Ủy ban Tài chính Tiền tệ Q uốc tế: Trước đây gọi là Ủy ban Lâm thời, do Hội đồng Thống
đốc IMF thành lập vào tháng 10/1974 với chức năng là để tư vấn cho các Thống đốc về các vấn
đề tiền tệ quốc tế. M ỗi thành viên trong số 24 thành viên của Ủy ban Tài chính Tiền tệ Quốc tế
thường thì thời hạn của thể thức này là 12-18 tháng. Việc trả nợ được thực hiện từ 2
1/4
– 4
năm tính từ sau đợt rút vốn, trừ khi được gia hạn và trả nợ theo quý.
Cho vay mở rộng (EFF): Được khởi xướng từ năm 1974 nhằm hỗ trợ các quốc gia xử lý
những khó khăn dài hạn trong cán cân thanh toán bắt nguồn từ cơ cấu nền kinh tế. Thời hạn
trả nợ của khoản vay này khá dài, từ 4,5 - 7 năm, đủ để các hành động cải cách được thực thi
và phát huy hiệu quả. Các quốc gia vay EFF cần áp dụng một chương trình 3 năm có lịch
trình điều chỉnh cơ cấu và dự kiến các chính sách chi tiết hàng năm cho năm tiếp theo. Việc
trả nợ được thực hiện theo bán niên.
Cho vay bổ sung dự trữ (SRF): Được khởi xướng từ năm 1997 nhằm hỗ trợ tài chính cho
những khó khăn đặc biệt về cán cân thanh toán bắt nguồn từ sự khủng hoảng và đổ vỡ lòng
tin của thị trường dẫn đến những nhu cầu vốn ngắn hạn quy mô lớn. Để được vay theo thể
thức này đòi hỏi quốc gia đi vay phải có các chính sách điều chỉnh mạnh mẽ. Thể thức này
không có hạn mức mà dựa trên nhu cầu tài trợ, khả năng trả nợ và mức độ mạnh mẽ của
chương trình điều chỉnh của nước đi vay. Thời hạn hoàn trả là 2-2,5 năm và việc trả nợ được
thực hiện theo bán niên.
Cho vay bù đắp thất thu xuất khẩu (CFF): Được khởi xướng vào những năm 1960 để hỗ trợ
các nước hội viên bị thất thu xuất khẩu tạm thời hoặc phải tăng chi phí nhập khẩu lương thực
quá mức do biến động giá hàng hoá trên thế giới. Trả nợ được thực hiện từ 3
1
/4 đến 5 năm
theo quý.
2.Các thể thức cho vay ưu đãi và các thể thức đặc biệt:
Thể thức tăng trưởng và xoá đói giảm nghèo (PRGF): Đây là thể thức được xây dựng năm
1999 thay thế cho thể thức ESAF trước đây. Thể thức cho vay ưu đãi này dành cho các nước
nghèo và hướng nhiều hơn tới người nghèo và tăng trưởng. Các chương trình được hỗ trợ bởi
thể thức PRGF phải xuất phát từ Văn bản Chiến lược giảm nghèo (PRSP) của bản thân quốc
gia đó. Do các chỉ tiêu và điều kiện chính sách của chương trình này đều xuất phát từ PRSP
nên so với các thể thức khác, PRGF có sự tham gia rộng rãi hơn của người dân và tăng cường