1 | P a g e
THÂM HỤT NGÂN SÁCH, TIẾT KIỆM QUỐC GIA VÀ TÍNH BỀN VỮNG
CỦA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ TRONG CÁC NỀN KINH TẾ MỚI NỔI: MỘT CÁCH
TIẾP CẬN MẢNG DỮ LIỆU GMM ĐỘNG
TÓM TẮT: Các mô hình tăng trưởng tân cổ điển đã lập luận về sự chuyển dần đến trạng thái
ổn định; công nghệ, tỷ lệ tiết kiệm ngoại sinh, tăng trưởng dân số và tiến bộ kỹ thuật thúc đẩy
tăng trưởng cao hơn (Solow, 1956). Trái với lập luận tân cổ điển, mô hình tăng trưởng nội sinh
cho rằng, trong các lý thuyết tăng trưởng nội sinh, chính phủ đóng một vai trò quan trọng việc
thúc đẩy tích lũy kiến thức, nghiên cứu và phát triển, đầu tư công, phát triển nguồn nhân lực,
pháp luật và trật tự có thể tạo ra sự tăng trưởng cả trong ngắn hạn và dài hạn. Hơn nữa, họ đã
thừa nhận rằng tiến bộ kỹ thuật như là một biến nội sinh cho sự tăng trưởng (Barro, 1995).
Nghiên cứu này phân tích những tác động của thâm hụt ngân sách lên sự bền vững của tăng
trưởng kinh tế và cung cấp bằng chứng thực nghiệm mới về tác động của thâm hụt ngân sách
lên tiết kiệm và sự bền vững của tăng trưởng kinh tế dựa trên giả định của mô hình tăng trưởng
nội sinh. Chúng tôi ước tính bằng cách sử dụng hình thức rút gọn của phương pháp GMM cho
các mảng dữ liệu động trong khoảng thời gian 1990-2009 cho ba quốc gia mới nổi bao gồm
Trung Quốc, Ấn Độ và Nam Phi.
Các từ khóa: thâm hụt ngân sách, tiết kiệm quốc gia, phát triển bền vững, tăng trưởng
Phân loại JEL : C33, C 61, E62, O16, O47
1. Giới thiệu
Phúc lợi của thế hệ kế tiếp được xác định bởi sự tăng trưởng kinh tế bền vững và chính
sách kinh tế vĩ mô hợp lý. Một sự tăng trưởng kinh tế bền vững là yếu tố duy nhất và quan
trọng nhất để thay đổi tiêu chuẩn sống của người dân. Đặc biệt là chính phủ ở các nước đang
phát triển dùng tăng trưởng kinh tế như mục tiêu cơ bản và đang phấn đấu để thay đổi cuộc
sống của người dân bằng cách sử dụng các chính sách phát triển khác nhau. Một số quốc gia đã
điển (Solow, 1956; Swan, 1956) và nội sinh (Romer, 1986; Lucas, 1988). Nhưng hai mô hình
khác nhau có lập luận tương tự về tác động của chính sách tài khóa đến mức GDP, trong khi
những tác động của chính sách tài khóa đến tăng trưởng kinh tế thì không giống nhau.
Theo lý thuyết của mô hình tăng trưởng nội sinh, chính phủ đóng một vai trò quan trọng
trong việc thúc đẩy tích lũy kiến thức, nghiên cứu và phát triển, đầu tư công hiệu quả, phát triển
nguồn nhân lực, pháp luật và trật tự có thể tạo ra tăng trưởng cả trong ngắn và dài hạn. Về cơ
bản, lý thuyết của mô hình tăng trưởng nội sinh có hai cách tiếp cận khác nhau. Cách tiếp cận
đầu tiên, đó là trong mô hình tăng trưởng nội sinh, chính phủ có thể ảnh hưởng đến tăng trưởng
kinh tế bằng cách thúc đẩy các hoạt động tư nhân với tác động tích cực từ bên ngoài
1
. Trong
các mô hình tăng trưởng nội sinh, cách thức chi tiêu chính phủ xác định tỷ lệ tăng trưởng dài
hạn theo lập luận của Barro (1990). Mô hình tăng trưởng nội sinh của Barro (1990) đã nghiên
cứu rằng sự gia tăng trong chi tiêu chính phủ hiệu quả được tài trợ bởi thuế không gây biến
dạng sẽ làm tăng tốc độ tăng trưởng trong khi hiệu quả là không rõ ràng nếu thuế gây biến dạng
được sử dụng. Ngoài ra, sự gia tăng trong chi tiêu chính phủ không hiệu quả được tài trợ bởi
các loại thuế không gây biến dạng sẽ có tác động trung lập đến tăng trưởng nhưng nếu thuế gây
biến dạng được sử dụng thì sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến tốc độ tăng trưởng.
Lập luận thứ hai của mô hình tăng trưởng nội sinh cho rằng chính phủ cung cấp các dịch
vụ sản xuất làm tăng sản phẩm biên của vốn tư nhân và do đó ảnh hưởng tích cực đến tăng
trưởng kinh tế (tức là xem xét toàn bộ chức năng sản xuất cho lợi nhuận cố định đồng thời
trong vốn tư nhân và công cộng và làm cho chi tiêu chính phủ nội sinh sau đó ngay lập tức
mang lại một tốc độ tăng trưởng nội sinh)
2
. 1
lập luận được ủng hộ bởi số đông. Keynes cho rằng thâm hụt ngân sách dẫn đến sự gia tăng sản
xuất trong nước, làm cho các nhà đầu tư tư nhân lạc quan hơn về tương lai của nền kinh tế, dẫn
đến họ đầu tư nhiều hơn (tức là hiệu ứng đầu tư cùng chiều (Crowding –in).
Lập luận theo quan điểm truyền thống của Keynes có thể khác với các quan điểm tân cổ
điển chuẩn tắc vì hai lý do chính. Thứ nhất là tồn tại thất nghiệp. Thứ hai, nó giả định sự tồn tại
của một số lượng lớn cá nhân có thanh khoản bị hạn chế. Giả định thứ hai cho rằng tổng tiêu
dùng rất nhạy cảm với những thay đổi trong thu nhập khả dụng. Vì vậy, những người theo quan
điểm Keynes truyền thống cho rằng thâm hụt ngân sách không lấn át đầu tư tư nhân.
Theo các mô hình tân cổ điển, ngay cả khi thâm hụt ngân sách có ảnh hưởng xấu đến tiết
kiệm quốc gia thì nó cũng không làm giảm tốc độ tăng trưởng sản lượng lâu dài vì trong các mô
hình này, tăng trưởng dài hạn chỉ chịu tác động bởi tiến bộ kỹ thuật, mà biến này lại được giả
định là biến ngoại sinh. Tuy nhiên, tiết kiệm thấp hơn sẽ dẫn đến tỷ lệ vốn/lao động thấp hơn và
điều này lại gây ra sự giảm sút năng suất biên của vốn, dẫn đến một tỷ lệ lãi suất thực tế cao
hơn. Tỷ lệ vốn/lao động thấp cũng sẽ dẫn đến giảm năng suất lao động và do đó cuối cùng làm
cho mức lương thực tế thấp hơn.
Trái ngược với lập luận của mô hình tân cổ điển về những ảnh hưởng của thâm hụt ngân
sách, mô hình tăng trưởng nội sinh giả định tiến bộ kỹ thuật là biến nội sinh (Barro và Sala-i-
Martin, 1995). Những mô hình này dựa trên một định nghĩa rộng hơn về vốn, kết hợp với
những ngoại tác tích cực của tích lũy vốn (ví dụ, vừa học vừa làm hoặc tiến bộ kỹ thuật được
thể hiện trong công nghệ của vốn mới). Kết quả, trong nhiều mô hình tăng trưởng nội sinh, giả
định năng suất biên của vốn giảm dần được thay thế bằng năng suất biên không đổi. Điều này
4 | P a g e
cho phép những thay đổi trong tốc độ tăng trưởng được quyết định bởi những thay đổi trong tiết
kiệm quốc gia trong dài hạn.
2.3 Các nghiên cứu thực nghiệm trước đây
khoản vãng lai kép, cho thấy mô hình có xu hướng theo sau thâm hụt ngân sách là tăng trưởng
tăng. Do đó, mối quan hệ tổng thể giữa thâm hụt ngân sách và tăng trưởng kinh tế là không rõ
ràng.
3. Mô hình lý thuyết thâm hụt ngân sách, tiết kiệm và tăng trưởng kinh tế:
Như đã thảo luận trong lý thuyết tăng trưởng nội sinh ở trên, chính sách tài khóa có tác
động đáng kể cả về mức độ lẫn tỷ lệ tăng trưởng của sản lượng bình quân đầu người. Để liên
kết khung lý thuyết với phương pháp luận của bài nghiên cứu này, tiếp theo chúng tôi sẽ phân
tích thâm hụt ngân sách tác động như thế nào đến tiết kiệm trong nước và tăng trưởng kinh tế.
Chúng tôi sử dụng ví dụ phổ biến nhất về hàm sản xuất Cobb Douglas như Barro (1990), Barro
và Sala-i-Martin (1992, 1995) đã thảo luận trong các bài nghiên cứu của họ.
Họ giả định chính phủ cung cấp hàng hóa và dịch vụ (g) như là yếu tố đầu vào để cho
5 | P a g e
thấy tác động tích cực của chi tiêu chính phủ và những ảnh hưởng bất lợi liên quan đến các
khoản thuế gây biến dạng. Hàm sản xuất, tính trên đầu người được cho như sau:
Trong đó α ϵ [0;1] và y là sản lượng bình quân đầu người, A là năng suất toàn bộ nhân tố, k là
vốn tư nhân bình quân đầu người và g là hàng hóa và dịch vụ chính phủ cung cấp. Bây giờ
chúng ta có thể có hai giả định để liên kết hàm sản xuất ở trên với bài nghiên cứu này. Đầu tiên,
ngân sách chính phủ cân bằng là kết quả của việc áp đặt thuế không gây biến dạng lên sản
lượng ở một tỷ lệ nhất định () và các khoản thuế khoán (L), ràng buộc ngân sách có thể trở
thành:
Trong đó n là số lượng nhà sản xuất trong nền kinh tế, C là chi tiêu của chính phủ, giả
định là không hiệu quả. Mặc dù về mặt lý thuyết, sản lượng đầu ra liên kết với tác động khuyến
khích của thuế đến đầu tư tư nhân nhưng thuế khoán thì không (Barro, 1990). Theo Barro
(1990) và Barro và Sala-i-Martin (1992) tỷ lệ tăng trưởng dài hạn () được tính dựa trên một
hàm hữu dụng xác định và mô hình được thể hiện như sau:
) thì cộng tuyến hoàn hảo (xem
Kneller cùng cộng sự, 1999) sẽ không tồn tại cũng như chi tiêu sẽ không cân bằng với doanh
thu. Sau khi bỏ qua thành phần đó, phương trình (5) sẽ trở thành:
Cả Amanja và Morrisey (2005) và Matthew (2009) đã kiểm tra giả thiết không với điều kiện (y
j
– y
m
) = 0 thay vì giả thuyết không thông thường là y
j
= 0. Theo đó, hệ số của biến tài chính giải
thích là "ảnh hưởng của một sự thay đổi đơn vị trong các biến có liên quan được bù đắp bởi
một thay đổi đơn vị trong thành phần bị bỏ qua từ hồi quy "(xem Kneller cùng cộng sự, 1999:
175).
4. Mô tả dữ liệu:
Các dữ liệu được sử dụng cho hồi quy bắt đầu từ năm 1990-2008, trong đó thành phần
mô tả chúng tôi sử dụng từ năm 1988-2008. Dưới đây chúng tôi mô tả các biến sử dụng trong
bài nghiên cứu cùng với nguồn của chúng. Ngoại trừ một số biến, đa số các biến được lấy từ cơ
sở dữ liệu Báo cáo Triển vọng kinh tế toàn cầu. Mô tả như sau:
GR: Tỷ lệ tăng trưởng GDP bình quân đầu người và được sử dụng thay thế cho tăng trưởng
kinh tế. Tỷ lệ phần trăm tăng trưởng GDP bình quân đầu người hàng năm tính bằng cách chia
GDP cho dân số vào giữa năm. Nguồn: Ngân hàng Thế giới.
FD: đại diện cho thâm hụt (thặng dư) là chênh lệch giữa tổng thu nhập và chi tiêu của chính
phủ.
TAX: doanh thu thuế tính theo % trên GDP được sử dụng để đánh giá những ảnh hưởng của
thâm hụt tài chính lên tăng trưởng kinh tế cũng như tiết kiệm trong nước. Nguồn: Báo cáo
Triển vọng kinh tế của Ngân hàng Thế giới.
FDEV: tăng trưởng tài chính và tín dụng đối với khu vực tư nhân được sử dụng thay thế như là
một phần của GDP.
TO: mở cửa thương mại, là [(xuất khẩu + nhập khẩu) / GDP] được sử dụng thay thế cho mức
Trong đó γ, α
1
, α
2
,
α
3
, α
4
, α
5
, α
6
, α
7
, α
8
và α
9
là các hệ số được ước tính và π
i
là số
hạng chỉ các nước không đồng nhất, có thể bao gồm tất cả các yếu tố không quan sát được liên
tục trong thời gian đó có ảnh hưởng đến tăng trưởng. Số hạng ν
i
, là hiệu ứng thời gian cụ thể.
Những ảnh hưởng của biến tài chính đến tiết kiệm trong nước được phân tích bằng cách sử dụng
mô hình dưới đây.
Period Countries FD GR SAV D EXP1988-92 China -2.17 6.97 37.87 6.06 19.83
India -7.60 3.44 22.50 73.37 24.30
South Af. -3.16 -1.53 19.66 34.40 26.56
1993-97 China -1.94 10.25 42.76
6.47 13.57
India -6.74 4.24 22.69
68.29 23.47
South Af. -5.20 0.68 16.12
48.32 27.64
1998-02 China -3.11 7.38 39.43
15.66 17.11
India -8.97 3.59 23.18
72.11 25.51
South Af. -1.74 0.52 15.70
45.06 25.34
2003-07 China -1.02 11.02 47.61
18.24 18.63
India -6.30 7.49 31.04
78.00 25.21
South Af. -0.80 3.58 14.74
34.02 25.58
* Trung bình 5 năm của thâm hụt ngân sách, tăng trưởng GDP thực bình quân đầu người, tiết kiệm
trong nước, nợ quốc gia và chi tiêu của chính phủ
9 | P a g e Bảng 2. Kết quả thống kê
25.53
2.91
42.89
79.11
3.74
11.97
7.56 14.71
Max.
13.61
13.61
81.24
0.90
162.46
241.44
13.07
51.76
26.04 74.68
Min.
-4.16
-4.16
4.98
-9.48
22.77
3.68
-7.98
14.27
2.50 17.18
Panel B: Correlations .
GR
FD
0.28
0.27
-0.80
1.00
FDEV
0.02
0.00
-0.67
0.81
1.00
0.28
0.00
0.59
-0.60
1.00
TAX
-0.68
-0.64
0.14
0.27
0.51
-0.09
0.36
-0.77
1.00 TO
0.20
0.23
-0.46
0.76
0.80
0.65
-0.23
0.15
0.46
Bảng 7 dưới đây cho thấy kết quả thử nghiệm nghiệm đơn vị sử dụng Levin, Lin and
Chu, Im, Pesaran and Shin, ADF-Fisher Chi – bình phương và PP-Fisher Chi – bình phương.
Kết quả cho thấy tất cả các biến thì cố định ít nhất là trong một phương pháp thử nghiệm. Tất
cả các biến là cố định trong thử nghiệm nghiệm đơn vị riêng (theo Im, Pesaran và Shin W-stat;
ADF - Fisher Chi-bình phương và PP - Fisher Chi-bình phương) và thử nghiệm nghiệm đơn vị
chung (theo Levin, Lin and Chu) trừ FDEV và D là không cố định trong thử nghiệm nghiệm
đơn vị chung. Khi một số biến đã được tìm thấy không có mức cố định, chúng tôi đã thử
nghiệm chúng tại sự khác biệt đầu tiên và thứ hai. Vì vậy, kết quả tổng thể cho thấy nên tiếp tục
sang bước tiếp theo đó là ước tính. Tuy nhiên, để đảm bảo mối quan hệ lâu dài giữa các biến,
chúng tôi đã thử nghiệm đồng liên kết trong bảng 3.
Bảng 3: Thử nghiệm đồng liên kết bảng
Các biến
Tren
d
hướn
ghườ
n
Các giả thuyết thay
thế
Thống kê
Xác suất
MÔ HÌNH 1:
GR ,FD,
INF, RIR,
TAX
and D
V
1.32
0.1
7
Rho
0.77
0.3
0
PP
-3.70
0.00**
ADF
-5.32
0.00**
Individual AR Coefs
Rho
1.50
0.1
3
PP
-3.96
0.00**
ADF
-5.90
0.00**
Không có hệ số
chặn hay xu
hướng
Commons AR Coefs
V
D
Hệ số chặn
và xu hướng
riêng
Common AR Coefs
V
0.46
0.3
6
Rho
2.24
0.03**
PP
-4.95
0.00**
ADF
-2.30
0.03**
Individual AR Coefs
Rho
2.96
0.00**
PP
-5.13
0.00**
ADF
-2.14
0.04**
Hệ số chặn
riêng
Common AR Coefs
V
-2.03
0.05*
Rho
1.75
0.09*
PP
0.22
0.3
9
ADF
-0.23
0.3
9
Individual AR Coefs
Rho
2.74
0.00**
PP
0.81
0.2
9
11 | P a g e
ADF
0.23
0.3
9
Variables
Individual AR Coefs
Rho
1.50
0.13
PP
-6.26
0.00**
ADF
-4.25
0.00**
Individual
intercept
Common AR Coefs
V
1.32
0.1
7
Rho
0.77
0.3
0
PP
-3.70
0.00**
ADF
-5.32
0.00**
3
Null Hypothesis: No cointegration -Automatic lag length selection based on SIC.
2
ADF
-1.89
0.07*
Individual AR Coefs
Rho
2.32
0.03**
PP
1.94
0.06*
ADF
-1.91
0.06* MODEL 2
SAV, FD,
INF, RIR,
TAX and
D Individual
intercept and
individual
trend
Common AR Coefs
V
0.46
0.1
3
PP
-2.62
0.01**
ADF
-1.46
0.1
4
Individual AR Coefs
Rho
2.32
0.03**
PP
-2.65
0.01**
ADF
-1.27
0.1
8
No intercept or
trend
Common AR Coefs
V
-2.03
0.05*
Rho
1.75
0.09*
PP
không của số liệu thống kê cùng chiều cho các bảng thử nghiệm không tích hợp là:
Vì không đòi hỏi các yêu tố ngoại sinh đối với các biến hồi quy của các hồi quy đồng
liên kết và hợp nhất chỉ có các thông tin liên quan đến sự tồn tại có thể có của các mối quan hệ
đồng liên kết, thử nghiệm đồng liên kết Pedroni lắt léo hơn so với các phương pháp khác.
Bảng kết quả thử nghiệm đồng liên kết cho thấy có tồn tại đồng liên kết giữa các biến
giải thích và biến phụ thuộc. Như bảng 3 đã chỉ ra, hệ số chặn riêng và giả định xu hướng riêng
trong tất cả các trường hợp ngoại trừ những thống kê Rho trong mô hình một, và thống kê V
trong mô hình hai, bác bỏ giả thiết không không đồng liên kết tại mức ý nghĩa 5% và 10%.
13 | P a g e
Điều này có nghĩa là các biến có mối quan hệ lâu dài và đã được chứng minh để tiếp tục bước
tiếp theo trong phần hồi quy của nghiên cứu.
6.2.2 Các kết quả hồi quy
Trong phần này, chúng tôi đã ước lượng bằng cách phân loại các biến giải thích tài chính
và các biến phi tài chính. Bảng 4 bao gồm các kết quả hồi quy cho sự tăng trưởng biến phụ
thuộc bằng cách sử dụng GMM động, ước lượng ảnh hưởng cố định và ảnh hưởng ngẫu nhiên.
Trong bảng này tất cả các biến giải thích được sử dụng bao gồm cả độ trễ của biến phụ thuộc.
Trong bảng 5, chúng tôi đã sử dụng hồi quy tương tự cho tiết kiệm xem xét các biến tăng
trưởng kinh tế là một trong những biến giải thích. Bảng 6 báo cáo kết quả hồi quy không bao
gồm các biến phi tài chính để đánh giá liệu một biến tài chính duy nhất có giải thích hầu hết
được những tác động của thâm hụt ngân sách đến tăng trưởng kinh tế và tiết kiệm như lý thuyết
tăng trưởng và tiết kiệm đã lập luận. Bảng 4. Kết quả hồi quy cho tăng trưởng biến phụ thuộc (GR)
Bảng 5. Kết quả hồi quy cho tiết kiệm trong nước (% GDP)
*** Mức ý nghĩa 1%; ** Mức ý nghĩa 5%; * Mức ý nghĩa 10%.
14 | P a g e
15 | P a g e
Bảng 6. Hồi quy chỉ sử dụng các biến tài chính cho cả tăng trưởng và tiết kiệm *** Mức ý nghĩa 1%; ** Mức ý nghĩa 5%; * Mức ý nghĩa 10%.
Biến phụ thuộc trong các hồi quy là tiết kiệm trong nước so với GDP. Khoảng thời gian
từ năm 1990 đến năm 2008. Tất cả các biến giải thích được sử dụng trong các hồi quy là tỷ lệ
phần trăm của GDP. Việc lập dự toán kết quả cố định sử dụng dữ liệu chéo cố định (tác động
cố định quốc gia) và hiệu chỉnh cho tự tương quan của các sai số. Bảng GMM được áp dụng
cho mẫu để hạn chế số lượng các điều kiện thời điểm.
Như dự kiến, mở cửa thương mại tương quan thuận có ý nghĩa đối với tăng trưởng và
tiết kiệm. Mặc dù nhiều nghiên cứu không tìm thấy mối liên hệ thuận mạnh mẽ giữa sự mở cửa
và tăng trưởng của nền kinh tế, nhưng lý thuyết lại hỗ trợ mối quan hệ thuận và mạnh mẽ giữa
mở cửa thương mại và tăng trưởng kinh tế. Kết quả trong bảng 4 cho thấy 1% tăng lên đối với
các thay thế của mở cửa thương mại có thể tăng 0,09% trong tăng trưởng kinh tế và tăng 0,08%
trong tiết kiệm quốc gia. Hệ số của biến tăng trưởng tài chính cho thấy mối tương quan thuận
và có ý nghĩa ở mức 10% đối với tăng trưởng kinh tế. Kết quả này được ủng hộ với kết quả của
Goldsmith (1969) và Mckinnon (1973), La Porta và cộng sự (1998) và Levine và cộng sự
(2000). Tuy nhiên, tăng trưởng tài chính thể hiện một mối quan hệ nghịch đáng kể với tiết
kiệm. Thực tế là trong một số nghiên cứu, tăng trưởng tài chính có kết quả không rõ ràng với
tiết kiệm. Một số cho rằng sự tồn tại của hệ thống tài chính vững mạnh và tiến bộ sẽ khuyến
kinh tế và tiết kiệm thông qua các trung gian thâm hụt tài chính. Như chúng ta đã thấy cả thuế
và lãi suất thể hiện một mối quan hệ nghịch có ý nghĩa với tăng trưởng kinh tế và tiết kiệm
ngoại trừ kết quả của nợ và lạm phát.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Arrow, K., Kurtz ,M., (1970), Public investment, the rate of return and optimal fiscal
policy. The John Hopkins Press, Baltimore.
2. Barro, R., (1990) Government spending in a simple model of endogenous growth.
Journal of Political Economy 98(1), 103–117.
3. Barro, R.J., Sala-I-Martin, X. (1992), „Public Finance in Models of Economic Growth‟,
Review of Economic Studies, 59, 645-661.
4. Barro, R.J., Sala-I-Martin, X. (1995), Economic Growth, Columbus: McGraw-Hill.
5. Bernheim, B.D. (1987) “Ricardian Equivalence: An Evaluation of Theory and
Evidence.” NBER Working Paper No. 2330. Cambridge, MA: National Bureau of
Economic Research.
6. Bernheim, B.D. (1989) “A Neoclassical Perspective on Budget Deficits.” Journal of
Economic Perspectives, 3(2), 55–72.
7. Bleaney, M., Gemmell, N., Kneller, R. (2001). „Testing the endogenous growth model:
public expenditure, taxation and growth over the long-run‟, Canadian Journal of
Economics, 34, 36-57.
8. Borcherding, T.E., Ferris, J. S., Garzoni, A. (2004) “Changes in the Real Size of
Government Since 1970", in Juergen Backhaus and Richard Wagner (eds.), Kluwer
Handbook in Public Finance New York: Kluwer Academic Press, 77-108.
17 | P a g e
9. Easterly, W., Rodriguez, C.A., Schmidt-Hebbel, K. (1994) "Public Sector Deficits and
Macroeconomic Performance" , WB publication.
10. Easterly, W., Rebelo, S. (1992): “Fiscal Policy and Economic Growth”, Journal of
Monetary Economics, 32(3), 417-58.
11. Easterly, W., Rebelo, S. (1993) Fiscal Policy and Economic Growth: an Empirical
Investigation. Journal of Monetary Economics, 32, 417-57.
Determinants of Public Deficits”, Public Choice, 113, 37-58.
27. Romer, P.M., (1986) Increasing returns and long-run growth, Journal of Political
Economy, 94, 1002- 1037.
28. Roy, A.G., Berg, H.Van den (2009) ''Budget deficits and U.S. economic growth'',
Economics Bulletin, 29(4), 3015-3030.
29. Rubin, R.E., Orszag, P.R., Sinai, A. (2004) Sustained Budget Deficits: Longer-Run U.S.
Economic Performance and the Risk of Financial and Fiscal Disarray. Paper presented at the
AEA-NAEFA Joint Session, Allied Social Science Associations Annual Meetings, The Andrew
18 | P a g e
Brimmer Policy Forum, “National Economic and Financial Policies for Growth and Stability,”
San Diego, January 5.
30. Solow, R.M., (1956) “A Contribution to the Theory of Economic Growth”, The
Quarterly Journal of Economics, 70(1), 65-94.
31. Swan, T. (1956) “Economic Growth and Capital Accumulation”, Economic Record, 32,
344-361.
32. Trostel, P.A., (1993), “The Effect of Taxation on Human Capital”, Journal of Political
Economy,
101(2), 327-350.
PHỤ LỤC
19 | P a g e 20 | P a g e 21 | P a g e