BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
NGUYỄN VĂN PHƯƠNG THỰC TRẠNG ĐÔ THỊ HÓA Ở VĨNH PHÚC
GIAI ĐOẠN 2000 - 2010
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Sơn La, Năm 2013
LỜI CẢM ƠN
Với lòng kính trọng và cảm ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn cô giáo,
thạc sĩ Lê Thị Thu Hòa, người trực tiếp hướng dẫn em nghiên cứu và hoàn
thành khóa luận này!
Em xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu trường Đại học Tây Bắc, Ban
chủ nhiệm khoa và các thầy cô giáo trong khoa Sử - Địa cùng các phòng ban
chức năng đã giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này!
Em xin được bày tỏ lòng biết ơn đến thư viện trường Đại học Tây Bắc đã
giúp đỡ em trong việc sưu tầm tài liệu!
Khóa luận hoàn thành chắc chắn sẽ không tránh khỏi những khuyết điểm,
rất mong nhận được sự đóng góp của các thầy cô và các độc giả.
4.1.3. Quan điểm lịch sử 7
4.1.4. Quan điểm lãnh thổ 7
4.1.5. Quan điểm thực tiễn 7
4.1.6. Quan điểm phát triển bền vững 7
4.2. Phương pháp nghiên cứu 8
4.2.1. Phương pháp thu thập, phân tích, tổng hợp tài liệu 8
4.2.2. Phương pháp thực địa 8
4.2.3. Phương pháp bản đồ có sử dụng công cụ GIS 8
4.2.4 Phương pháp dự báo 9
5. Những đóng góp chủ yếu 9
6. Cấu trúc khóa luận 9
PHẦN NỘI DUNG 10
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐÔ THỊ HÓA 10
1.1. Cơ sở lí luận về đô thị hoá 10
1.1.1. Các khái niệm về đô thị hoá 10
1.1.2. Đặc điểm đô thị hoá 11
1.1.3. Các chỉ tiêu đánh giá đô thị hoá 12
1.1.3.1. Quy mô dân số đô thị 12
1.1.3.2. Mật độ dân số đô thị 13
1.1.3.3. Tỉ lệ đô thị hoá 13
1.1.3.4. Tốc độ đô thị hóa 13
1.1.3.5. Tỉ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động 14
1.1.3.6. Cơ sở hạ tầng đô thị 15
1.2. Cơ sở thực tiễn 15
1.2.1. Một vài nét về đô thị hóa trên thế giới 15
1.2.2. Quá trình đô thị hoá ở Việt Nam 16
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐÔ THỊ HÓA Ở VĨNH PHÚC GIAI ĐOẠN
2000 - 2010 21
2.1. Các nhân tố ảnh hưởng tới quá trình đô thị hóa ở Vĩnh Phúc 21
3.2. Các giải pháp phát triển đô thị ở Vĩnh Phúc 43
3.2.1. Nhóm giải pháp về quy hoạch KT - XH, quản lý quy hoạch và quy hoạch đô thị
43
3.2.2. Nhóm giải pháp về thu hút vốn đầu tư và phát triển kết cấu hạ tầng đô thị 44
3.2.3. Nhóm giải pháp về nâng cao trình độ nhận thức của người dân và chất
lượng lao động 45
3.2.4. Nhóm giải pháp về phát triển bền vững đô thị 45
KẾT LUẬN 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO 48
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
STT
Từ viết tắt
Nguyên nghĩa
1
CCN
Cụm công nghiệp
2
CN – XD
Công nghiệp – xây dựng
3
TT
Thị trấn
14
TW
Trung ương
15
TCN
Trước công nguyên
16
UBNN
Ủy ban nhân dân
17
XNK
Xuất nhập khẩu
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1. Phân loại đô thị ở Việt Nam 12
Bảng 1.2. Tỉ lệ đô thị hóa của Việt Nam giai đoạn 1931 - 2010 17
Bảng 2.2. Các quá trình gia tăng dân số của tỉnh Vĩnh Phúc 26
thời kì 2008 - 2010 26
Bảng 2.3. Số lượng người di cư trong nước của tỉnh Vĩnh Phúc năm 2010 27
Bảng 2.4. Quy mô dân số các đô thị năm 2010 31
Bảng 2.5. Tốc độ đô thị hoá của Vĩnh Phúc 33
cấu sử dụng đất và cơ cấu kinh tế, phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng đô thị và mở
rộng dần không gian lãnh thổ đô thị song song với việc đổi mới tổ chức quản lý
đô thị. Ngày nay, quá trình đô thị hóa đang diễn ra trên toàn thế giới với quy mô
và nhịp độ nhanh chóng chưa từng thấy. Quá trình này tác động mạnh mẽ tới sự
phát triển kinh tế - xã hội của thế giới nói chung và từng quốc gia nói riêng.
Đô thị hóa dường như là một quá trình tất yếu xảy ra đối với tất cả các quốc
gia muốn phát triển trên toàn thế giới. Việt Nam cũng không là ngoại lệ. Ở Việt
Nam, tại đại hội Đảng VI với chủ trương mở cửa và đổi mới đã đưa nước ta từ
một nước có nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường. Với định
hướng phát triển đó, quá trình đô thị hóa ở nước ta diễn ra mạnh mẽ hơn bao giờ
hết. Sự tác động của quá trình đô thị hóa đến nhiều mặt cuộc sống cũng như tiến
trình phát triển kinh tế đất nước ngày càng rõ nét. Đô thị hóa góp phần tăng
trưởng nền kinh tế và hình thành lối sống mới cho nhân dân. Chúng ta xác định
xây dựng và phát triển hiện nay là những vấn đề trọng tâm, quyết định sự đi lên
của cả nước, tạo hạt nhân và động lực thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước. Tuy nhiên, đô thị hóa cũng có mặt trái của nó. Nhìn nhận,
phân tích và tìm ra những giải pháp để hạn chế ảnh hưởng xấu của nó đối với
đời sống, trình độ phát triển kinh tế đồng thời tận dụng những lợi thế mà đô thị
hóa mang lại là điều rất cần được coi trọng hiện nay.
Vĩnh Phúc cũng giống như nhiều địa phương khác trên cả nước đều phải
tìm ra những hướng đi đúng đắn cho quá trình đô thị hóa đang diễn ra mạnh mẽ
hiện nay. Hơn nữa, với vị trí tiếp giáp các đô thị lớn như: Hà Nội - trung tâm
văn hóa, chính trị, kinh tế của cả nước - ở phía Đông, Thái Nguyên, Tuyên
Quang, Phú Thọ đã giúp Vĩnh Phúc có nhiều cơ hội trong việc tận dụng những
tiềm lực kinh tế cả từ bên trong lẫn bên ngoài cho sự phát triển.
Điều đó đồng nghĩa với việc quản lý tốt quá trình đô thị hóa là một trong
những yếu tố quyết định thành bại quá trình công nghiệp hóa, hiện địa hóa của
địa phương.
Những năm vừa qua với tốc độ phát triển kinh tế rất nhanh, nhất là trong
công nghiệp và dịch vụ đã góp phần nâng cao vị thế và sức cạnh tranh của Vĩnh
Đô thị nói chung và đô thị hóa nói riêng, là chủ đề được nghiên cứu từ rất
sớm với nhiều góc nhìn cũng như quan điểm khác nhau. Các công trình nghiên
cứu về chủ đề này rất phong phú và đa dạng.
3
Đô thị hóa bắt đầu từ khoảng 3500 TCN, với sự hình thành sơ khai của các
đô thị ở lưu vực sông Nin và sông Lưỡng Hà. Về sau, sự thay đổi quá trình đô
thị hóa gắn liền với những biến đổi lớn lao trong mọi mặt đời sống và sản xuất
của con người. Do đó, những nhận thức của con người về đô thị và vai trò của
nó ngày càng tăng, những nghiên cứu về đô thị cũng tăng lên. Thuật ngữ “đô thị
hóa” xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1867 trong tác phẩm “Lí luận chung về đô
thị hóa” của I.Cerda, một kĩ sư cầu đường người Tây Ban Nha. Sang thế kỉ XX,
cụm từ đô thị hóa đã trở nên phổ biến và trở thành đối tượng nghiên cứu của
nhiều lĩnh vực. Và Địa lí học là một trong những lĩnh vực tiên phong trong
nghiên cứu về địa lí đô thị.
Năm 1913, tại đại hội Địa lí quốc tế Paris, các vấn đề phát triển chùm đô
thị đã được thảo luận. Ở Liên Xô cũ, các nghiên cứu về địa lí thành phố, về quá
trình ĐTH và việc tổ chức lại mạng lưới điểm quần cư đã được phát triển từ sau
chiến tranh thế giới thứ II. Có thể kể đến các tác giả như P.M.Kabo, Baranxki
hay Lialikov, V.M. Gokhman, Ở phương Tây, các nghiên cứu thường chi tiết
và mang tính thực tiễn cao. Đáng chú ý nhất là Walter Christaller và Liôsơ với
thuyết “Vị trí trung tâm”. Từ đầu những năm 1920, chuyên ngành xã hội học đô
thị được hình thành và nhanh chóng phát triển ở Tây Âu và Bắc Mỹ, nổi bật là
trường phái “Chicago”. Trong thời kì hiện đại, các biến đổi về kinh tế và dân số
được xem là hai vấn đề chủ yếu khi nghiên cứu quá trình ĐTH như Williamson
(1988), Lowry (2002), Nghiên cứu thực nghiệm và nghiên cứu định lượng về
ĐTH trở thành một xu hướng mới, phù hợp và phổ biến hơn trong thời kì hiện
đại. Có thể kể đến một số tác giả như: Preston (1979), Bradshaw (1987),
Hirschman (Malaysia, 1976), Chan (Trung Quốc, 1991),
Bước sang thế kỷ XXI, đô thị hóa được nhìn nhận, nghiên cứu theo những
quan điểm mới hơn. Một trong những quan điểm chủ đạo được quan tâm là phát
và quốc tế được phân tích và minh họa bằng các ví dụ cụ thể của các vùng, quốc
gia trên toàn thế giới.
Bên cạnh đó, nhiều công trình khác của Ngân hàng Thế giới (năm 2011)
cũng mang đến những nhận thức mới về tiến trình đô thị hóa trên toàn thế giới,
tiêu biểu như: Tổng quan về đô thị hóa ở Ấn Độ, Colombia, Hàn Quốc,…
3.2. Ở Việt Nam
ĐTH ở Việt Nam tuy được nghiên cứu muộn hơn (chủ yếu từ sau năm
1990) nhưng được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau, thu hút sự quan tâm
của nhiều lĩnh vực. Đàm Trung Phường với công trình “Đô thị Việt Nam”,
“Chiến lược xây dựng và phát triển đô thị Việt Nam” (2007), đã đưa ra một
bức tranh ở tầm vĩ mô về thực trạng mạng lưới đô thị Việt Nam cũng như định
hướng phát triển đô thị trong bối cảnh ĐTH trên thế giới và khu vực.
Quá trình đô thị hóa là một trong những chủ đề trọng điểm được quan tâm
tại các kỳ họp của Đảng và Chính Phủ hay tại các Hội thảo, diễn đàn kinh tế trên
cả nước. Tại Hội nghị Đô thị Toàn Quốc, ngày 6 - 7/11/2009, Phó Thủ tướng
Nguyễn Sinh Hùng có phát biểu: “Việt Nam sẽ chỉ có một cơ hội duy nhất để đô
5
thị hóa đúng đắn. Nếu thất bại trong đô thị hóa, chúng ta cũng sẽ thất bại trong
công nghiệp hóa và hiện đại hóa”.
Trương Quang Thao là một trong những tác giả tiêu biểu nghiên cứu và
dành nhiều tâm huyết cho vấn đề ĐTH, với công trình “Đô thị học nhập môn”
đã đưa ra những đặc điểm, quy luật xây dựng và phát triển đô thị. Hay tác giả
Đỗ Thị Minh Đức cũng có nhiều công trình nghiên cứu và bài báo khoa học,
những ý kiến đóng góp quý báu cho các hội thảo về đô thị và đô thị hóa ở Việt
Nam, như trong luận án “Phân tích dưới góc độ địa lí kinh tế xã hội sự chuyển
hóa nông thôn thành đô thị ở Hà Nội”, các bài nghiên cứu “Đô thị hóa ở Việt
Nam trong bối cảnh của thế giới đô thị hóa”; “Mạng lưới đô thị Việt Nam và vấn
đề phát triển vùng”,… Những nghiên cứu về ĐTH trong quá trình CNH - HĐH,
phát triển đô thị toàn cầu, đô thị bền vững, là những hướng đi chủ đạo khi đề
cập vấn đề này trong bối cảnh hội nhập của Việt Nam hiện nay.
hóa, Báo cáo đã chỉ ra rằng Việt Nam có thể thành công hơn nữa trong việc tận
dụng cơ hội kinh tế, xã hội và vượt qua những thách thức của đô thị hóa nếu quá
trình đô thị hóa được quản lý theo hướng mang lại lợi ích cho tất cả mọi tầng lớp
trong xã hội. Bà Victoria Kwakwa, Giám đốc Quốc gia Ngân hàng Thế giới tại
Việt Nam nhận định “Việt Nam đang đô thị hóa một cách nhanh chóng. Quá
trình đô thị hóa sẽ là một phần quan trọng trong tương lai của Việt Nam và đảm
bảo có thành phố dễ sống và có khả năng cạnh tranh trong khu vực và trên toàn
cầu sẽ là một phần cần thiết trong chiến lược phát triển kinh tế của Việt Nam”.
Trên cơ sở đó Báo cáo đã xác định các xu hướng, cơ hội, thách thức và ưu tiên
trọng tâm chính sách cho Việt Nam.
3.3. Ở Vĩnh Phúc
Vĩnh Phúc là một tỉnh mới được tách lập năm 1997, nhưng đã đạt được
nhiều thành tựu to lớn trong phát triển KT-XH và nhiều thay đổi lớn lao trong
quá trình ĐTH. Đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề ĐTH ở Vĩnh Phúc
như: “Vĩnh Phúc - 10 năm chặng đường phát triển (1997 - 2007), Tỉnh ủy Vĩnh
Phúc - 1997”, “Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống đô thị và thị tứ tỉnh Vĩnh
Phúc đến năm 2020” - UBND Tỉnh Vĩnh Phú,
Tuy nhiên, so với những nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam thì những
nghiên cứu về đô thị hóa của Vĩnh Phúc còn ít và chủ yếu dựa vào các vấn đề đã
xảy ra, ít mang tính dự báo, nhận biết quy luật. Thực tiễn đòi hỏi cần có những
nghiên cứu cụ thể hơn để nắm bắt các vấn đề phát triển đô thị hóa ở Vĩnh Phúc
trong bối cảnh mới ở Việt Nam và Vĩnh Phúc hiện nay và đưa ra các định hướng
để phát triển đô thị bền vững.
4. Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
4.1. Quan điểm nghiên cứu
4.1.1. Quan điểm tổng hợp
Địa lí học là một khoa học tổng hợp, nghiên cứu các thể tổng hợp địa lí tự
nhiên và thể tổng hợp kinh tế - xã hội trong mối quan hệ tác động qua lại lẫn
nhau. Sự vận động, biến đổi của bất cứ thành phần nào cũng kéo theo sự thay
7
hết các quốc gia trên thế giới. Quan điểm phát triển bền vững xuất hiện từ cuối
thế kỉ XX, nhằm khắc phục những hạn chế của quá trình đô thị hóa trước đó.
Vận dụng quan điểm phát triển bền vững khi nghiên cứu quá trình đô thị hóa ở
Vĩnh Phúc sẽ càng có ý nghĩa hơn.
8
4.2. Phương pháp nghiên cứu
4.2.1. Phương pháp thu thập, phân tích, tổng hợp tài liệu
Đây là phương pháp truyền thống, được sử dụng khá phổ biến trong nghiên
cứu nói chung và nghiên cứ địa lí kinh tế - xã hội nói riêng. Nó tận dụng được
tính đa dạng của các nguồn tài liệu và có ưu thế lớn trong việc rút ngắn thời gian
nghiên cứu.
Để thực hiện đề tài trước hết cần phải thu thập thông tin, tìm hiểu những tài
liệu có liên quan. Các có liệu trong khóa luận được khai thác từ nguồn số liệu
thống kê đã được công bố của Tổng cục thống kê và cục thống kê Vĩnh Phúc
thông qua niên giám thống kế hàng năm, các số liệu, báo cáo chuyên đề. Các số
liệu, báo cáo của sở Tài nguyên và môi trường, sở Kế hoạch và đầu tư, sở Xây
Dựng, UBND tỉnh Vĩnh Phúc,… Từ đó, chọn lọc, khái quát, xử lí các số liệu
thống kê phục vụ cho việc phân tích, đánh giá thực trạng của quá trình đô thị
hóa ở Vĩnh Phúc.
4.2.2. Phương pháp thực địa
Kết hợp với nghiên cứu thực địa nhằm thu thập các dữ liệu từ thực tế trên địa
bàn nghiên cứu, kịp thời cập nhật, bổ sung những thay đổi nhanh chóng của đô thị
hóa ở một tỉnh mới phát triển mạnh trong những năm gần đây như Vĩnh Phúc.
4.2.3. Phương pháp bản đồ có sử dụng công cụ GIS
Bản đồ là công cụ không thể thiếu trong nghiên cứu địa lí. Nó vừa đóng vai
trò cung cấp nguồn dữ liệu đầu vào khi phân tích những đối tượng, hiện tượng
địa lý, vừa là nguồn dữ liệu đầu ra mang tính chất minh họa kết quả nghiên cứu.
Sử dụng phương pháp bản đồ kết hợp với việc ứng dụng GIS trong nghiên cứu
thực trạng đô thị hóa tỉnh Vĩnh Phúc sẽ đem lại hiệu quả cao hơn.
Hệ thống thông tin địa lý (Geographical Information System - gọi tắt là
Chương 2: Thực trạng ĐTH ở Vĩnh Phúc giai đoạn 2000 – 2010;
Chương 3: Định hướng phát triển đô thị và giải pháp phát triển đô thị hóa
có hiệu quả ở Vĩnh Phúc. 10
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐÔ THỊ HÓA
1.1. Cơ sở lí luận về đô thị hoá
1.1.1. Các khái niệm về đô thị hoá
Định nghĩa về đô thị hoá rất đa dạng, bởi vì đô thị hoá chứa đựng nhiều
hiện tượng và biểu hiện khác nhau trong quá trình phát triển. Tuỳ theo góc độ
nghiên cứu của các lĩnh vực ở từng thời điểm lịch sử khác nhau mà có cách định
nghĩa đô thị hoá khác nhau.
Từ khái niệm về đô thị, đô thị hoá được định nghĩa là quá trình hình thành
và phát triển các yếu tố cấu thành đô thị, là quá trình phát triển đô thị của một
quốc gia, bao gồm việc mở rộng các đô thị hiện có và hình thành các đô thị mới.
Trên góc độ kinh tế, đô thị hoá là quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động, từ
hoạt động sơ khai nhằm khai thác tài nguyên thiên nhiên sẵn có như nông lâm
ngư nghiệp, khai khoáng phân tán trên một diện tích rộng khắp hầu như toàn
quốc, sang những hoạt động tập trung hơn như công nghiệp chế biến, sản xuất,
xây dựng cơ bản, vận tải, dịch vụ, thương mại, tài chính, Nói cách khác, đó là
sự chuyển dịch từ hoạt động nông nghiệp phân tán sang hoạt động phi nông
nghiệp tập trung trên một địa bàn thích hợp gọi là đô thị.
Dưới góc độ nhân khẩu học và địa lí kinh tế, đô thị hoá được hiểu là sự di
cư từ nông thôn tới đô thị, là sự tập trung ngày càng nhiều dân cư sống trong
những vùng lãnh thổ đô thị. Mức độ đô thị hoá của một quốc gia được đo lường
bằng tỉ lệ dân cư đô thị trong tổng số dân.
tầng, mở rộng dần không gian lãnh thổ thành hệ thống đô thị, song song với tổ
chức quản lí đô thị.
1.1.2. Đặc điểm đô thị hoá
- Đô thị hoá là một quá trình mang tính xã hội và lịch sử: Đô thị hoá không
thể tách rời khỏi chế độ kinh tế - xã hội. Mỗi nền văn minh đều tạo ra một phong
cách sống, làm việc thích hợp, một hình thái phân bố dân cư, một cấu trúc đô thị
thích hợp, phản ánh trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
- Đô thị hoá là một quá trình chuyển hoá, vận động phức tạp có quy luật về
các mặt kinh tế - xã hội, văn hoá, không gian và môi trường: Tính quy luật
của quá trình đô thị hoá biểu hiện ở sự chuyển đổi nghề nghiệp, tăng dân số
đô thị, phát triển kinh tế đô thị, mở rộng đô thị. Sự chuyển hoá này là tất yếu
và cần thiết bởi nó gắn liền với sự phát triển của lực lượng sản xuất và
phương thức sản xuất.
- Đô thị hoá gắn liền với quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá. Sự
phát triển và phân bố công nghiệp là cơ sở quan trọng nhất để hình thành và phát
triển đô thị, sự gia tăng số lượng và quy mô các cơ sở công nghiệp, tiểu thủ công
12
nghiệp, các làng nghề là các yếu tố tạo thị mang tính tiên quyết cho quá trình
phát triển đô thị hoá trong thời kỳ CNH - HĐH. Mặt khác, hệ thống đô thị khi
được hình thành và phát triển cơ sở vật chất kĩ thuật, cơ sở hạ tầng phát triển lại
trở thành nơi hấp dẫn các hoạt động sản xuất công nghiệp. Hai quá trình này đan
xen, dựa vào nhau và có mối quan hệ hữu cơ khăng khít.
- Đô thị hoá ngày nay là tất yếu và mang tính toàn cầu: Cùng với sự phát
triển kinh tế hàng hoá là sự xuất hiện các trung tâm giao lưu hàng hoá. Đô thị
hoá hình thành từ quá trình này, đó là quá trình tất yếu của sự phát triển. Đô thị
hoá không chỉ diễn ra trong một vùng, một quốc gia mà đang trở thành một nhu
cầu đối với tất cả các quốc gia trên thế giới.
1.1.3. Các chỉ tiêu đánh giá đô thị hoá
1.1.3.1. Quy mô dân số đô thị
Quy mô dân số đô thị là dân số sống trong khu vực nội thành phố, nội thị
8.000-10.000
80
ĐT loại III
150
6.000
75
ĐT loại IV
50
4.000
70
ĐT loại V
4
2.000
65
13
Hệ thống chỉ tiêu phân loại đô thị theo Nghị định 42 được tác giả áp dụng
để phân loại hệ thống đô thị tại tỉnh Vĩnh Phúc. Bên cạnh đó, số liệu về quy mô
dân số đô thị cũng được phân tích để đưa ra các nhận xét mang tính định lượng.
1.1.3.2. Mật độ dân số đô thị
Mật độ dân số đô thị là chỉ tiêu phản ánh mức độ tập trung dân cư của đô
thị được xác định trên cơ sở quy mô dân số đô thị và diện tích đất đô thị.
Mật độ dân số đô thị được tính toán theo công thức sau:
MĐ = (Người/km
2
)
Trong đó,
MĐ: Mật độ dân số đô thị.
DSĐT: Dân số đô thị.
DTĐT: Diện tích đô thị.
1.1.3.3. Tỉ lệ đô thị hoá
Dn
(%)
Trong đó,
TĐ: Tốc độ đô thị hóa
D
n
: Dân số năm n.
D
0
: Dân số năm gốc.
Dựa vào sự gia tăng dân số đô thị có thể đưa ra dự báo dân số đô thị trong
tương lai.
Tốc độ gia tăng dân số đô thị có mối quan hệ chặt chẽ với tốc độ phát triển
kinh tế tại địa phương. Nếu tốc độ đô thị hóa cao hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế
sẽ tác động tiêu cực đến hiện trạng phát triển kinh tế của địa phương. Nói cách
khác, dân số đô thị đang tạo nên nhiều sức ép đến mọi mặt của đô thị từ kết cấu
hạ tầng đến môi trường sống, việc làm và kìm hãm sự phát triển kinh tế.
Do vậy, khi đặt chỉ tiêu này trong mối tương quan với chỉ tiêu tốc độ tăng
trưởng kinh tế, có thể đem đếm những kết luận mang tính định lượng về mức độ
phù hợp giữa dân số đô thị với trình độ phát triển kinh tế đang ở trạng thái nào.
Từ đó sẽ giúp chúng ta tìm ra những giải pháp và định hướng tốt hơn cho phát
triển dân số đô thị trong thời gian tới.
1.1.3.5. Tỉ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động
Lao động phi nông nghiệp của một đô thị là lao động trong khu vực nội
thành phố, nội thị xã, thị trấn thuộc các ngành kinh tế quốc dân như: công
nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải, bưu điện, thương nghiệp, cung ứng vật tư,
dịch vụ công cộng, du lịch khoa học, giáo dục, văn hoá, nghệ thuật, y tế, bảo
hiểm, thể thao, tài chính, tín dụng, ngân hàng, quản lí nhà nước và lao động khác
không thuộc ngành sản xuất nông nghiệp, ngư nghiệp (lao động làm muối, đánh
bắt cá được tính là lao động phi nông nghiệp).
triệu dân đô thị, chiếm 3,2% tổng dân số. Bước sang thế kỉ XX (1900), con số
này đã tăng lên gần 220 triệu người, chiếm 13,6% dân số, gấp 4,3 lầm năm
1800. Đến giữa thế kỉ XX (1950), số dân đô thị đã đạt 732 triệu người, chiếm
29,2% dân số thế giới. Bước sang năm đầu thế kỉ XXI, dân số đô thị đã lên tới
trên 2716 triệu, chiếm 45% dân số và năm 2009 là 3405 triệu người, chiếm 50%
dân số thế giới. Dự báo đến năm 2030, hơn 60% dân số thế giới là thị dân.
Với tốc độ ĐTH nhanh như hiện nay, đến năm 2050, sẽ có 6,4 tỷ người trên
thế giới (tương ứng với 70% dân số lúc bấy giờ) sống ở thành thị, tăng 3,3 tỷ
người so với hiện nay. Số dân sống ở nông thôn toàn thế giới sẽ giảm dần, dự
báo từ 3,4 tỷ người năm 2007 còn 2,8 tỷ người năm 2050.
16
- Sự gia tăng về số lượng và quy mô các đô thị lớn
Dân cư tập trung trong các đô thị ngày càng tăng cao, đặc điểm này được
thể hiện ở số lượng các TP có số dân trên 1 triệu người ngày càng nhiều. Năm
1950, toàn thế giới mới có 8 đô thị trên 5 triệu dân; đến năm 1975 tăng lên 23.
Hiện nay, trên thế giới có 270 TP từ 1 triệu dân trở lên, 50 TP có số dân trên 5
triệu trở lên. Số lượng các đô thị cực lớn (quy mô từ 10 triệu dân trở lên) cũng
tăng nhanh chóng, năm 1975 mới có 5 TP cực lớn thì đến năm 2000 đã có 14 TP
và hiện nay là 19 TP.
- ĐTH có sự khác nhau giữa các nhóm nước phát triển và đang phát triển
Quá trình ĐTH có tính chất khác nhau giữa các nước, các vùng kinh tế có
trình độ phát triển khác nhau, có chế độ xã hội khác nhau.
Ở các nước phát triển, do quá trình CNH diễn ra sớm nên ĐTH cũng bắt
đầu sớm, tốc độ gia tăng tỉ lệ dân số đô thị tương đối cao và quá trình hình thành
các đô thị cực lớn đang được tăng cường. Các nước phát triển cũng có mức sống
cao, các nhu cầu về đời sống vật chất và tinh thần giữa nông thôn và thành thị
không có khoảng cách lớn, vì vậy có xu hướng chuyển cư từ trung tâm TP ra
vùng ngoại ô, từ các TP lớn về các TP vệ tinh, dẫn đến nhịp độ gia tăng dân số
đô thị trong thời gian gần đây bắt đầu chậm lại.
Ở các nước đang phát triển, cuộc bùng nổ dân số là bạn đồng hành với