KỸ NĂNG THÍCH ỨNG XÃ HỘI CỦA HỌC SINH THCS TỈNH SƠN LA - LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC - Pdf 14

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI

LÒ THỊ VÂN
KỸ NĂNG THÍCH ỨNG XÃ HỘI
CỦA HỌC SINH THCS TỈNH SƠN LA

Chuyên ngành: Tâm lý học
Mã số: 60.31.04.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Huệ
HÀ NỘI - 2012
Lời cảm ơn!
===**===


Bộ Giáo dục và Đào tạo
2
CT
Chỉ thị
3
GS
Giáo sư
4
IQ
Intelligence Quotient (chỉ số trí thông minh)
5
KHCNMT
Khoa học công nghệ môi trường
6
PTDT
Phổ thông dân tộc
7
PGS
Phó giáo sư
8
SSQ-SF
Social Skills Questinonnaire- Student Form (Thang
đánh giá kỹ năng xã hội cho học sinh)
9
THCS
Trung Học Cơ Sở
10
TS
Tiến sĩ
11

1.2. Một số khái niệm cơ bản của đề tài 11
1.2.1. Kỹ năng 11
1.2.2. Thích ứng và thích ứng xã hội 14
1.2.3. Khái niệm kỹ năng thích ứng xã hội 16
1.3. Một số vấn đề lí luận tâm lí học về kỹ năng thích ứng xã hội của
học sinh THCS 19
1.3.1. Đặc điểm tâm, sinh lý của học sinh THCS 19
1.3.2. Kỹ năng thích ứng xã hội của học sinh THCS 24
1.4. Các yếu tố ảnh hƣởng đến kỹ năng thích ứng xã hội của học
sinh THCS 35
1.4.1. Yếu tố chủ quan 35
1.4.2. Yếu tố khách quan 37
Tiểu kết chƣơng 1 38
Chƣơng 2: TỔ CHỨC QUÁ TRÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHƢƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU 39
2.1. Vài nét về địa bàn và khách thể nghiên cứu 39
2.1.1. Trường Trung học cơ sở Tô Hiệu 39
2.1.2. Trường PTDT Nội Trú Mai Sơn 40
2.2. Tổ chức nghiên cứu 42
2.2.1. Nghiên cứu lý luận 43
2.2.2. Nghiên cứu thực trạng 43
2.3. Phƣơng pháp nghiên cứu 47
2.3.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết 47
2.3.2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi……………………………47
2.3.3. Phương pháp chuyên gia 48
2.3.4. Phương pháp quan sát 48
2.3.5. Phương pháp phỏng vấn sâu 49
2.3.6. Thực nghiệm tác động 49
2.3.7. Phương pháp xử lý số liệu 62
Tiểu kết chƣơng 2 63

Bảng 2.1: Phân bố mẫu thực trạng 43
Bảng 2.2: Phân bố mẫu thực nghiệm 44
Bảng 2.3: Bảng phân bố mẫu đối chứng 44
Bảng 3.1: Điểm trung bình của các kỹ năng thích ứng xã hội qua các tiểu
trắc nghiệm 64
Bảng 3.2: Phân loại học sinh theo các nhóm điểm trên thang đo hành vi
các kĩ năng thích ứng xã hội 66
Bảng 3.3: Phân loại học sinh theo các nhóm điểm trên thang đo thái độ
các kỹ năng thích ứng xã hội 67
Bảng 3.4: Tỉ lệ học sinh có điểm thấp hơn giá trị trung bình 1SD 68
Bảng 3.5: Điểm trung bình và độ lệch chuẩn SSQ-SF của học sinh nam
và học sinh nữ 70
Bảng 3.6: Điểm trung bình và độ lệch chuẩn SSQ-SF trên các tiểu trắc
nghiệm của học sinh 2 trường PTDT Nội Trú Mai Sơn và
THCS Tô Hiệu 71
Bảng 3.7: Điểm trung bình và độ lệch chuẩn SSQ-SF của các khối lớp ở
2 trường PTDT Nội Trú Mai Sơn và THCS Tô Hiệu 72
Bảng 3.8: Những yếu tố khách quan ảnh hưởng đến kỹ năng thích ứng xã
hội của học sinh THCS tỉnh Sơn La 74
Bảng 3.9: Những yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến kỹ năng thích ứng xã
hội của học sinh THCS tỉnh Sơn La 76
Bảng 3.10: Đánh giá mức độ quan trọng của kỹ năng thích ứng xã hội đối
với học sinh THCS 77
Bảng 3.11: Đánh giá của giáo viên về kỹ năng thích ứng xã hội của học
sinh THCS thành phố Sơn La 79
Bảng 3.12: Số học sinh thiếu hụt thống kê theo các tiêu chí so sánh 81
Bảng 3.13: Điểm trung bình của nhóm học sinh thiếu hụt kỹ năng thích
ứng xã hội 81
Bảng 3.14: Điểm trung bình và độ lệch chuẩn của nhóm thực nghiệm
trước (Lần 1) và sau (Lần 2) tác động 82

thức và những kỹ năng hành động cần thiết để giải quyết và nỗ lực vượt qua.
Trong số những kỹ năng hành động đó, kỹ năng thích ứng xã hội có vai trò rất
quan trọng, nó góp phần đảm bảo thành công cho mọi hoạt động mà con
người tham gia vào đó.
Kỹ năng thích ứng xã hội là thành phần quan trọng trong nhân cách con
người trong xã hội hiện đại, giúp con người đáp ứng được với những thay đổi
lớn trong hoạt động cũng như trong cuộc sống để có được thành công. Vì vậy,
nếu được trang bị và rèn luyện các kỹ năng thích ứng xã hội ngay từ đầu sẽ là
điều kiện tốt giúp mỗi cá nhân chuyển dịch nhận thức, thái độ thành hành
động thực tế mang tính tích cực tạo nên sự thích ứng với môi trường công
việc, môi trường xã hội luôn thay đổi từng ngày.
Giáo dục trong xu hướng hiện nay không chỉ hướng vào mục tiêu tạo ra
nguồn nhân lực có đầy đủ tri thức mà còn hướng đến mục tiêu phát triển các
kỹ năng và giá trị của mỗi cá nhân. Thực tế cho thấy, giáo dục nước ta còn ít
quan tâm đến việc giáo dục cho học sinh kỹ năng thích ứng với môi trường
học tập, môi trường xã hội. Do đó, học sinh nói chung còn thiếu hụt rất nhiều
những kỹ năng thích ứng xã hội cơ bản, cần thiết để có khả năng đáp ứng tốt
với những yêu cầu của xã hội, của cuộc sống đặt ra.
Dưới góc độ nghiên cứu tâm lý giáo dục, kỹ năng thích ứng xã hội còn
là vấn đề khá mới mẻ nên chưa có nhiều công trình nghiên cứu, chủ yếu chỉ

2
tập trung ở một số dự án, một số đề tài. Những nghiên cứu về kỹ năng thích
ứng xã hội cũng chưa có cơ sở lý luận đầy đủ, rõ ràng, đồng bộ và còn nhiều
điều chưa sáng tỏ, gây nhiều tranh luận.
Học sinh là lứa tuổi đang trong giai đoạn hình thành và phát triển nhân
cách nên rất cần được trang bị những kỹ năng thích ứng xã hội cơ bản ngay từ
những bậc học đầu tiên. Điều này đặc biệt quan trọng với trẻ em ở lứa tuổi
học sinh THCS, một giai đoạn phát triển có nhiều sự đột biến. Mặt khác, học
sinh THCS là giai đoạn kế tiếp học sinh tiểu học với nhiều biến đổi quan

tích cực và phù hợp sẽ trang bị và nâng cao được kỹ năng thích ứng xã cho
học sinh.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Tìm hiểu, phân tích, khái quát hóa cơ sở lý luận về kỹ năng thích ứng xã
hội của học sinh THCS.
5.2. Nghiên cứu thực trạng kỹ năng thích ứng xã hội của học sinh THCS tỉnh
Sơn La và những nguyên nhân ảnh hưởng đến thực trạng đó.
5.3. Đề xuất và thực nghiệm biện pháp tác động nhằm rèn luyện kỹ năng thích
ứng xã hội cho học sinh THCS.
6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu một số kỹ năng như: kỹ năng hợp
tác; kỹ năng tự khẳng định; kỹ năng kiềm chế; kỹ năng đồng cảm; kỹ năng
giải quyết vấn đề của học sinh THCS tỉnh Sơn La.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Thông qua việc sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống
hóa các tài liệu về kỹ năng và kỹ năng thích ứng xã hội của học sinh THCS để
xây dựng cơ sở lí luận của đề tài.

4
7.2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Xây dựng một hệ thống câu hỏi cho giáo viên và học sinh THCS
nhằm thu thập các thông tin về kỹ năng thích ứng xã hội của học sinh
THCS tỉnh Sơn La.
7.3. Phương pháp chuyên gia
Xin ý kiến chuyên gia về đề cương, bộ công cụ nghiên cứu…nhằm
nghiên cứu kỹ năng thích ứng xã hội của học sinh THCS.
7.4. Phương pháp phỏng vấn
Phỏng vấn giáo viên và học sinh nhằm thu thập thêm thông tin về kỹ
năng thích ứng xã hội của học sinh THCS tỉnh Sơn La.


6
Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN TÂM LÍ HỌC VỀ
KỸ NĂNG THÍCH ỨNG XÃ HỘI CỦA HỌC SINH THCS

1.1 Sơ lƣợc lịch sử nghiên cứu vấn đề kỹ năng thích ứng xã hội
1.1.1. Nghiên cứu về kỹ năng thích ứng xã hội ở nước ngoài
Năm 1989, Bộ Lao động Mỹ đã thành lập một Ủy ban thư ký về Rèn
luyện các kỹ năng cần thiết. Thành viên của ủy ban này đến từ nhiều lĩnh vực
khác nhau như giáo dục, kinh doanh, doanh nhân, người lao động, công
chức…nhằm mục đích “thúc đẩy nền kinh tế bằng nguồn lao động kỹ năng
cao và nguồn thu nhập cao”. Cũng trong khoảng thời gian này, tại Úc, Hội
đồng kinh doanh Úc và Phòng thương mại và công nghiệp Úc với sự bảo trợ
của Bộ Giáo dục, Đào tạo và Khoa học và Hội đồng giáo dục quốc gia Úc đã

gian cho con đang rất phổ biến ở nước Anh. Các nhà giáo dục cũng vừa lên
tiếng cảnh báo về thực trạng học sinh cấp hai gặp rắc rối trong hành vi đang
gia tăng. Ngay sau đó, hàng trăm trường tiểu học ở Anh đã áp dụng thử
nghiệm chương trình mới, trong đó các em có thể được hướng dẫn thảo luận
về các tình huống cụ thể thường gặp trong xã hội. Chương trình rất đa dạng
với các giờ khuyến khích các em nói về cảm xúc của mình, yêu cầu các em
xây một “bức tường tình bạn”, trong đó viết về giá trị của tình bạn lên viên
gạch…sáng kiến này của Bộ Giáo dục Anh nhận được nhiều lời khen ngợi từ
phía phụ huynh.
1.1.2. Nghiên cứu vấn đề kỹ năng thích ứng xã hội ở Việt Nam
Tại Việt Nam, việc giáo dục cho con trẻ biết đối nhân xử thế, kinh
nghiệm làm ăn để đáp ứng và biến ứng với những rủi ro, sự cố, những điều
không mong muốn…đã được phản ánh khá phong phú qua hệ thống danh
ngôn, ca dao, tục ngữ và những lời dạy của người xưa. Còn trong mục tiêu

8
dạy học ở trường thì học để làm người hay nói cách khác học để biết đối nhân
xử thế, học để sống tốt hơn và học để phục vụ bản thân – gia đình và xã hội
đã được quan tâm ngay từ những ngày đầu tiên của giáo dục Việt Nam.
Nhưng có lẽ với mục tiêu và nội dung như thế vẫn chưa được gọi là kỹ năng
thích ứng xã hội mà tất cả như là những lời giáo dục để ứng phó với sự thay
đổi của môi trường tự nhiên và môi trường xã hội.
Cùng với “Kỹ năng sống”, thuật ngữ “Kỹ năng thích ứng xã hội” bắt
đầu được quan tâm tại Việt Nam vào những năm đầu thập niên 90, khi xã hội
bắt đầu có những chuyển biến phức tạp về nền kinh tế thị trường và việc du
nhập các nền văn hóa từ các nước bên ngoài vào Việt Nam đã tác động rất lớn
đến cách nghĩ và bản chất sinh hoạt lao động của con người. Vì lẽ đó đòi hỏi
mỗi người phải học cách thích nghi với những sự thay đổi đang ngày một hiện
rõ và lớn dần, từ đây những kỹ năng khác ngoài trình độ học vấn, bắt đầu
được xem xét và quan tâm – đó chính là điều kiện để giáo dục Việt Nam quan

cho học sinh phổ thông qua dự án “Giáo dục sống khỏe mạnh, kỹ năng sống
cho trẻ vị thành niên” với sáng kiến và hỗ trợ của UNICEF tại Việt nam.
Tham gia dự án có học sinh THCS và trẻ em ngoài trường học ở một số tỉnh
thuộc nhiều khu vực như: Lào Cai, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hải Phòng, Hà
Nội, Gia lai, Kon Tum, Thành phố Hồ Chí Minh, An Giang, Kiên Giang. Các
em được rèn luyện kỹ năng thích ứng xã hội thiết thực để ứng phó với những
vấn đề ảnh hưởng đến cuộc sống an toàn, mạnh khỏe của trẻ em: Giao tiếp
với bạn bè và thầy cô, tự tin trước tập thể, hợp tác với nhóm…Mục tiêu của
dự án là hình thức thái độ tích cực của học sinh đối với việc xây dựng cuộc
sống khỏe về thể chất, mạnh về tinh thần, hiểu biết về xã hội; Nâng cao nhận
thức của cha mẹ học sinh về kỹ năng thích ứng xã hội để họ chủ động trong
việc dạy kỹ năng thích ứng xã hội cho con em mình [2, tr.37,38,43,44].

10
Năm học 2007 – 2008, Bộ giáo dục và đào tạo đã đưa ra phong trào thi
đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”. Phong trào này bắt
đầu được triển khai mạnh mẽ trong hầu hết tất cả các bậc học từ mầm non cho
đến đại học. Ngày 22/07/2008, một lần nữa Bộ Giáo dục và đào tạo đã ra chỉ
thị về việc phát động phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học
sinh tích cực” trong các trường phổ thông giai đoạn 2008 - 2013. Kèm theo
chỉ thị này là một thông báo về hướng dẫn triển khai phong trào “Xây dựng
trường học thân thiện, học sinh tích cực” năm học 2008 - 2009 và giai đoạn
2008 - 2013 với mục tiêu liên quan đến kỹ năng thích ứng xã hội là “Rèn
luyện kỹ năng ứng xử hợp lý với các tình huống trong cuộc sống, thói quen và
kỹ năng làm việc, sinh hoạt theo nhóm; Rèn luyện sức khỏe và ý thức bảo vệ
sức khỏe, kỹ năng phòng, chống tai nạn giao thông, đuối nước và các tai nạn
thương tích khác; Rèn luyện kỹ năng ứng xử văn hóa, chung sống hòa bình,
phòng ngừa bạo lực và các tệ nạn xã hội [4].
Năm 2009, Trung tâm hỗ trợ sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức
diễn đàn “Những kỹ năng thực hành xã hội dành cho sinh viên” và thông qua

yếu ở mặt giáo dục kỹ năng thích ứng xã hội thông qua một số chương trình,
biện pháp thực nghiệm tác động, còn việc tìm hiểu kỹ năng thích ứng xã hội
dưới góc độ tâm lý học thì có rất ít nghiên cứu. Do đó, kỹ năng thích ứng xã
hội vẫn là một lĩnh vực đầy tiềm năng cần khai phá và cần sự quan tâm
nghiên cứu nhiều hơn nữa.
1.2. Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1. Kỹ năng
Trong bất kỳ hoạt động nào, muốn đảm bảo kết quả, con người không
chỉ cần có tri thức mà cần có những kỹ năng, kỹ xảo nhất định.
Trong tâm lý học tồn tại hai quan niệm khác nhau về kỹ năng.

12
* Quan niệm thứ nhất: coi kỹ năng là mặt kỹ thuật của thao tác, hành
động hay hoạt động. Đại diện cho quan niệm này là các tác giả như
Ph.N.Gônôbôlin, V.A.Krutretxki, A.G.Kôvaliov…Các tác giả này cho rằng,
muốn thực hiện được một hành động, cá nhân phải có tri thức về hành động
đó, tức là phải hiểu được mục đích, phương thức và các điều kiện để thực hiện
nó. Vì vậy, nếu ta nắm được các tri thức hành động, thực hiện nó trong thực
tiễn theo các yêu cầu khác nhau, tức là ta đã có kỹ năng hành động.
Ph.N.Gônôbôlin cho rằng: Kỹ năng là những phương thức tương đối
hoàn chỉnh của việc thực hiện những hành động bất kỳ nào đó. Các hành
động này được hình thành trên cơ sở các tri thức và kỹ xảo – những cái được
con người lĩnh hội trong quá trình hoạt động.
V.A. Krutretxki (1980) lại cho rằng: Kỹ năng là phương thức thực hiện
hoạt động - cái mà con người lĩnh hội được. Trong một số trường hợp thì kỹ
năng là phương thức sử dụng các tri thức vào trong thực hành, tức là khi có
tri thức, tức là con người phải sử dụng chúng vào trong cuộc sống, trong thực
tiễn. Và cũng trong quá trình ấy, các kỹ năng được hoàn thiện hơn trước,
hoạt động của con người cũng trở nên hoàn hảo hơn [22, tr.88].
* Quan niệm thứ hai: coi kỹ năng không đơn thuần là mặt kỹ thuật

Kỹ năng là khả năng làm được cái gì đó, Hai - Khả năng được hình thành bởi
tri thức, kinh nghiệm, Ba - Khi có kỹ năng tất cả đều làm được.
Trong từ điển tiếng Việt (1992), kỹ năng là khả năng vận dụng những
kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế [31, tr.517].
Thực chất các quan điểm trên về kỹ năng không có gì mâu thuẫn, phủ
định lẫn nhau. Sự khác nhau là ở chỗ thu hẹp hay mở rộng phạm vi triển khai
một kỹ năng hành động trong các tình huống khác nhau.
Như vậy, khi xem xét kỹ năng ta phải lưu ý những điểm sau:

14
Thứ nhất: Kỹ năng trước hết phải được hiểu là mặt kỹ thuật của thao
tác hay hành động nhất định. Kỹ năng không có đối tượng riêng. Đối tượng
của nó là đối tượng của hoạt động, hành động. Không có kỹ năng chung
chung, trừu tượng tách rời hành động. Kỹ năng hành động đồng nghĩa với
hành động có kỹ năng.
Thứ hai: Cơ chế hình thành kỹ năng thực chất là cơ chế hình thành hành
động. Mỗi hành động bao giờ cũng có mục đích khách quan và lôgic thao tác
triển khai đến mục đích. Lôgic thao tác làm nên mặt kỹ thuật của hành động.
Việc hình thành kỹ năng hành động là hình thành ở con người khả năng triển
khai thao tác theo đúng lôgic phù hợp với mục đích khách quan.
Thứ ba: Kỹ năng là mức độ cao của tính đúng đắn, thành thạo và tính
sáng tạo của việc triển khai hành động trong thực tiễn. Đúng đắn, thành thạo
và sáng tạo là những tiêu chuẩn quan trọng để xác định sự hình thành và mức
độ phát triển của kỹ năng hành động.
Với nội hàm cần có trong hai khái niệm về kỹ năng như trên, chúng tôi
đồng ý với quan niệm thứ hai hơn và cũng chọn cách quan niệm của tác giả
A.V. Barbansico. Theo tác giả quan niệm, kỹ năng: là khả năng sử dụng tri
thức và các kỹ xảo của mình một cách có mục đích và sáng tạo trong quá
trình hoạt động thực tiễn. Khả năng này là khả năng tự tạo của con người.
1.2.2. Thích ứng và thích ứng xã hội

Thích ứng xã hội diễn ra ngay từ những giây phút đầu tiên của cuộc
đời mỗi con người, làm cầu nối giữa bản chất xã hội của con người với
hiện thực xã hội.
Thích ứng xã hội là hình thức thích ứng cao nhất chỉ có ở con người.
Đặc trưng của hình thức này là con người sống trong môi trường xã hội tiếp
nhận các giá trị xã hội, hòa nhập vào xã hội và có khả năng đáp ứng được

16
những yêu cầu, đòi hỏi của xã hội.Thích ứng xã hội liên quan chặt chẽ đến
quá trình lao động và quá trình xã hội hóa. Đó là sự xâm nhập của các cá nhân
vào vai trò xã hội khác nhau. Trong quá trình này, con người lĩnh hội những
kinh nghiệm lịch sử xã hội và biến chúng thành những kinh nghiệm của cá
nhân để hình thành và phát triển tâm lý.
Thích ứng xã hội là khả năng con người đối mặt với các hoàn cảnh xã
hội mà không bị căng thẳng, mệt mỏi…Là khả năng sống, hoạt động và phát
triển trong môi trường xã hội đầy biến động.
Thích ứng xã hội là khả năng con người hòa đồng với môi trường xã
hội mà không bị căng thẳng, ức chế, là những thay đổi của cá nhân cho phù
hợp với điều kiện xã hội khi các điều kiện xã hội luôn luôn thay đổi phức tạp.
Như vậy, thích ứng xã hội là quá trình con người thâm nhập vào các
hoạt động xã hội nhằm chiếm lĩnh những yêu cầu, đòi hỏi của xã hội để có
những hành vi ứng xử phù hợp với những yêu cầu, đòi hỏi của hoạt động và
với những điều kiện, hoàn cảnh biến đổi của xã hội.
Tóm lại quá trình thích ứng được diễn ra thông qua hoạt động. Mà theo
tâm lý học Macxit “Tất cả các thuộc tính tâm lý của con người đều được hình
thành trong hoạt động”. Ở góc độ này có thể coi thích ứng là một thuộc tính
chung của nhân cách.
1.2.3. Khái niệm kỹ năng thích ứng xã hội
Theo các nhà tâm lý học, hoạt động con người mang bản chất xã hội.
Những hoạt động cùng hoặc với người khác là một phần không thể thiếu được

quan hệ này để thích ứng tốt hơn, để ứng phó một cách có hiệu quả hơn với
những thách thức trong cuộc sống hàng ngày được gọi là kỹ năng sống.
Trong các kỹ năng sống của con người thì các kỹ năng xã hội đóng vai
trò quan trọng. Hoạt động của con người có bản chất xã hội nên các kỹ năng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status