1
Tiểu luận
NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG
CÁC MÔ HÌNH TỔ CHỨC & VỊ TRÍ PHÁP LÝ
2
MỤC LỤC
BẢN CAM KẾT
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài 4
2. M ục đích & nhiệm vụ 4
3. Phương pháp nghiên cứu 4
4. Ý nghĩa của đề tài 5
PHẦN NỘI DUNG
1. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH & PHÁT TRIỂN NHTW CÁC NƯỚC TRÊN THẾ
GIỚ I:
1.1
Khái niệm 5
3 1.5 Vai trò của NHTW các nước trong bối cảnh hiện nay 152. ĐỊNH HƯỚNG MÔ HÌNH TỔ CHỨC CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠ NG VIỆT
NAM
2.1 Những nhược điểm trong mô hình tổ chức hiện nay 17
2.1.1Mô hình tổ chức hiện nay của N gân hàng Nhà nước Việt Nam 17
2.1.2 Một số nhược điểm của Mô hình tổ chức hiện nay của NHNN Việt Nam 17
2.2 Định hướng mô hình tổ chức của NHTW VN theo đề xuất của nhóm 17
PHẦN KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
4
internet, các thông tư, nghị định của Chính Phủ và ngành ngân hàng cũng như diễn biến
thực tế của nền kinh tế & thị trường để phân tích, so sánh, đối chiếu giữa lý thuyết với
thực tế, từ đó giải quyết mục tiêu cần nghiên cứu.
4. Ý nghĩa của đề tài:
Đề tài nghiên cứu này trước mắt và chủ yếu để phục vụ cho công tác học tập của
Nhóm, sau đó là cơ sở để Nhóm có thể có những nghiên cứu chuyên sâu hơn về NHTW.
PHẦN NỘI DUNG
1. LỊC H SỬ HÌNH THÀNH & PHÁT TRIỂN NHTW C ÁC NƯỚ C TRÊN THẾ GIỚI:
1.1 Khái niệm:
Ngân
hàng
trung
ương
là
một
định
chế
công
cộng,
có
tiền,
là
ngân
hàng
của
các
ngân
hàng, ngân
hàng
của
chính
phủ
và
chịu
trách
hàng.
1.2 Lịch sử hình thành:
NHTW
có
nguồn
gốc
từ
các
ngân
hàng
phát
hành.
Cho
đến
đầu
thế
tranh
thế
giới
thứ
hai,
do
ảnh
hưởng của
những
bài
học
kinh
nghiệm
từ
cuộc
kinh
tế
của
Keynes
(vào
cuối
những
năm
1930)
và
Milton Friedman
(năm
1960)
về
sự
tế
và
ảnh
hưởng
của
khối
lượng
tiền
cung
ứng
đối
với
các
biến
số
một
NH TW
đóng
vai
trò
quản
lý lưu
thông
tiền
tệ,
tín
dụng
và
hoạt
động
bằng
cách
quốc
hữu
hoá
các
ngân
hàng
phát
hành
hiện có
hoặc
thành
lập
mới
hàng
phát
triển
lâu
đời
như
Pháp,
Anh
thì
thành
lập
NHTW
bằng
cách
quốc hữu
ngân
hàng
này
rồi
bổ nhiệm
người
điều
hành.
Một
số
nước
tư
bản
khác
thì
nhưng
Nhà
nước
bổ
nhiệm
người
điều
hành.
Ví
dụ: Ngân
hàng
trung
ương
ở
Nhật
hữu
của
Nhà
nước,
45%
còn
lại
thuộc
sở
hữu
tư
nhân
nhưng
bộ máy
quản
phủ
bổ nhiệm.
Ở
Mỹ,
Ngân
hàng
trung
ương
được gọi
là
Cục
dự
trữ
liên
bang
Ngân
hàng
này
là
Hội đồng
Thống
đốc
có
7
thành
viên
do
Tổng
thống
bổ
nhà
nước
CÁC NHTW ĐẦU TIÊN TRÊN THẾ GIỚI.
Ngân hàng
Thụy Điển
Ngân hàng
Anh
Cục Dự trữ
Liên bang
Mỹ
Ngân hàng
Trung Quốc
Năm ra đời 1668 1694 1913 1979
7
thi chức năng này bao gồm:
+ Nghiệp vụ thị trường mở
+ Dự trữ bắt buộc
+ Lãi suất chiết khấu
d.Là ngân hàng của chính phủ
Là ngân hàng của chính phù, NHTW thực hiện các dịch vụ tiền tệ, tín dụng
cho nhà nước qua các nghiệp vụ chủ yếu sau:
NHTW nhận tiền gửi của kho bạc nhà nước,
Tổ chức thanh toán giữa kho bạc với ngân hàng trung gian,
Quản lý dự trữ quốc gia và cho chính phủ vay để cân bằng thu – chi ngân sách
trong những trường hợp cần thiết.
1.4. Các mô hình NHTW & vị trí pháp lý:
Trong lịch sử phát triển ngành ngân hàng trên thế giới ghi nhận có 3 mô hình Ngân
hàng Trung Ương (NHTW) đã hình thành và phát triển. Đó là: (1) NHTW độc lập với
Chính phủ, (2) NHTW là một cơ quan thuộc Chính phủ và (3) NHTW thuộc Bộ Tài
chính. Hiện nay, mô hình NHTW trực thuộc bộ tài chính đã không còn được các nước
trên thế giới áp dụng. Do đó, Nhóm chỉ nêu và phân tích hai mô hình: NHTW độc lập với
Chính phủ và NHTW là một cơ quan thuộc Chính phủ.
1.4.1 .
Mô hình N gân hàng trung ương là m ột cơ quan trực thuộc chính phủ:
M ô
hình
NHTW
là một cơ quan
trực
phối
trực
tiếp
của
chính
phủ
về
mô hình tổ chức,
nhân
sự,
về
tài
chính
và
đặc
biệt về
tệ.9 Các
nước áp
dụng
mô
hình
này
phần
lớn
là
các
nước
Đông
trước
đây.
Sơ đồ m ô hình Ngân hàng Trung Ương Trực thuộc Chính phủ
Ưu điểm của mô hình này là Chính
phủ
có
thể
dễ
dàng
phối
hợp
chính
nhằm
đảm
bảo
mức
độ
và
liều
lượng
tác
động hiệu
quả
của
tổng
thể
các
xem
là
phù
hợp
với
yêu
cầu
cần
tập
trung
quyền
lực
để
khai
thác
yếu
của
mô
hình
này
là
NHTW
sẽ
mất
đi
sự
chủ
động
trong
việc
thực
NIEs
như
Singapore,
Hàn
quốc,
Đài
loan nơi
NHTW
là
một
bộ
phận
trong
guồng
máy
hình
tổ
chức
này
đối
với
truyền
thống
văn
hoá
Á
đông.
1.4.2.
Mô
hình
chỉ
đạo của
chính
phủ
mà
là
quốc
hội.
Quan
hệ
giữa
NH TW
và
chính
phủ
bang
Mỹ,
NHTW
Thụy
sĩ,
Chính
phủ
Ngân
hàng
trung
ương
Hội
đồng
chính
sách
bản
và
NHTW
châu
Âu
(ECB).
Xu
hướng
tổ
chức
ngân hàng
trung
ương
theo
mô
Theo
mô
hình
này,
NH TW
có
toàn
quyền
quyết
định
việc
xây
dựng
và
thực
của
ngân
sách
hoặc
các
áp lực
chính
trị
khác.
Tuy
nhiên,
không
phải
tất
cả
hoàn
toàn
khỏi
áp
lực
của
chính
phủ
khi
điều
hành
chính
sách
tiền
tệ. M ức
đầu
nhà
nước vào
cơ
chế
lập
pháp
và
nhân
sự
của
NH TW.
Điểm
bất
lợi
chính
sách
tiền tệ
-
do
NHTW
thực
hiện
và
chính
sách
tài
khoá
-
do
sự chỉ định của Ngân hàng Trung ương vào Chính Phủ. Điều này có nghĩa là khả năng
mà các thành viên cao cấp của Ngân hàng Trung ương được bổ nhiệm hay miễn nhiệm
bởi người đứng đầu Chính phủ và độ lệch của nhiệm kỳ người đứng đầu chính phủ với
nhiệm kỳ của Thống đốc NHTW. Đặc biệt mức độ ảnh hưởng hay khả năng chi phối của
11 Chính phủ đến Ban điều hành của NHTW. Sự ảnh hưởng này càng lớn thì mức độ độc
lập của NHTW càng ít.
Thứ hai, là tính độc lập về mặt kinh tế, được định nghĩa là khả năng NHTW có thể sử
dụng các công cụ của chính sách tiền tệ một cách độc lập, không bị giới hạn hay ràng
buộc nào về mặt thực thi chính sách.
Thứ ba, là độc lập về mục tiêu hoạt động của NHTW. Các mục tiêu hoạt động cụ thể
của NHTW thường được thể hiện bằng việc quy định trong luật hoạt động của NHTW
mỗi nước. Độc lập về mục tiêu hoạt động thể hiện bằng việc cho quyền NHTW thiết lập
mục tiêu, xây dựng mục tiêu hay chỉ thực hiện mục tiêu sau khi được Chính phủ hay
Quốc hội thông qua.
Thứ tư, là độc lập trong cơ chế truyền tải và công bố thông tin. Mức độ minh bạch
càng cao trong việc công bố thông tin thể hiện một sự độc lập nhất định về đường lối
chính sách tiền tệ mà NHTW đang theo đuổi qua đó thể hiện mức độ độc lập nhất định
với các chính sách tài khóa của Chính phủ.
Về phân cấp độ độc lập, IMF chia ra làm bốn cấp độ:
Mức độ độc lập thứ nhất: “Độc lập trong việc thiết lập mục tiêu”. Đây là mức độ độc
lập cao nhất. Ở mức độ này, Ngân hàng trung ương có thể quyết định chính sách tiền tệ
và chế độ tỷ giá nếu như nó không được thả nổi. Chẳng hạn, Hệ thống dự trữ liên bang
Mỹ- Fed được lựa chọn mục tiêu hoạt động, quyết định các chính sách tiền tệ quốc gia.
Mức độ độc lập thứ hai là: “Độc lập trong việc xây dựng chỉ tiêu hoạt động”. Ngân
hàng trung ương được trao trách nhiệm quyết định chính sách tiền tệ và chế độ tỷ giá
nhưng khác với kiểu độc lập về mục tiêu, độc lập trong việc xây dựng chỉ tiêu hoạt động
tính độc lập cho NHNN là cần thiết và hợp lý trong điều kiện hiện tại.
Bước đi đầu tiên có tính thử nghiệm cho một NHTW độc lập là cho phép NHNN được
độc lập trong việc lựa chọn mục tiêu chính sách ưu tiên trong nhóm các mục tiêu được
chọn lựa phù hợp với điều kiện nền kinh tế vĩ mô mà không nhất thiết phải phù hợp với
các chính sách khác của Chính phủ.
Về mục tiêu: Dự thảo Luật NHNN sửa đổi đã cụ thể hơn các văn bản luật trước đó về
các mục tiêu hoạt động của ngân hàng nhà nước. Tuy nhiên, cần thiết phải xác định cụ
thể hơn nữa các mục tiêu chính của NHNN. Các NHTW trên thế giới thường tập trung
13 vào các mục tiêu chính như: kiểm soát lạm phát, duy trì công ăn việc làm, tăng trưởng
kinh tế, ổn định hệ thống tiền tệ và thị trường tài chính. Đồng thời NHNN cần được trao
quyền lựa chọn mục tiêu cho từng thời kỳ phù hợp với điều kiện kinh tế vĩ mô. Trong
điều kiện lạm phát cao thì mục tiêu chính mà NHNN cần lựa chọn là kiểm soát lạm phát.
Nếu lạm phát được kiểm soát tốt thì sẽ duy trì sức sản xuất của nền kinh tế, qua đó không
những giải quyết được vấn đề việc làm mà còn góp phần làm cho kinh tế tăng trưởng.
Tuy nhiên, không phải lúc nào mục tiêu kiểm soát lạm phát và tăng trưởng kinh tế cũng
có thể đồng thời đạt được mà đôi khi phải đánh đổi giữa lạm phát cao và duy trùy ổn định
tốc độ tăng trưởng kinh tế.
Về quyết định thực thi chính sách: Dự thảo đã bỏ qua Hội đồng Tư vấn Chính sách
Tiền tệ Quốc gia. Vai trò Ngân hàng Nhà nước có trách nhiệm và quyền hạn ở mức cao
hơn, “chủ động điều hành các công cụ chính sách tiền tệ và các giải pháp khác để thực
hiện chính sách tiền tệ quốc gia” (Khoản 6 Điều 6). Thống đốc có quyền thành lập “ các
Ban, Hội đồng tư vấn về các vấn đề liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của Ngân hàng
Nhà nước” (Điều 9). Như vậy, về mặt thực thi chính sách Ngân hàng Nhà nước đã có
quyền chủ động hơn so với trước đây.
Nhưng để quy định mới
Trong giai đoạn khủng hoảng 2007 -2008 vừa qua các NHTW đã thể hiện vai trò cứu
cánh cuối cùng trong kế hoạch giải cứu các Ngân hàng thương mại. Khi khủng hoảng xảy
ra trên phạm vi t oán cầu, NHTM rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán, NHTW
không thể không thực hiện biện pháp cấp vốn cho các NHTM thông qua việc tái chiết
khấu, tái cầm cố các giấy tờ có giá. Như tháng 1/2009, Chính phủ Đức thực hiện kế
hoạch 500 tỷ USD cứu ngành ngân hàng, Commerzbank là ngân hàng đầu tiên nhận 13,7
tỷ USD từ chương trình hỗ trợ này.Cùng tháng, Nhật dành 13,3 tỷ USD hỗ trợ thị trường
tín dụng.Chính phủ Pháp cung cấp thêm 13,6 tỷ USD để hỗ trợ những ngân hàng cho vay
lớn nhất nước. Ngày 24/06, ECB bơm 442 tỷ euro cứu ngành ngân hàng. Gói kích thích
kinh tế của Mỹ đi vào lịch sử với tổng quy mô lên đến 787 tỷ USD, khi đã chiết khấu hết
các giấy tờ có giá chất lượng tốt, thì Fed còn mở rộng các giấy tờ có giá chất lượng thấp
hơn và mua các khoản nợ xấu của ngân hàng thương mại.Việt Nam cũng tung ra gói kích
thích kinh tế có tổng giá trị gần 10% GDP tương đương với 135,6 nghìn t ỷ đồng, trong
đó hỗ trợ lãi suất vay vốn tín dụng chiếm khoảng 17 nghìn tỷ đồng. Để các ngân hàng có
thể vay vớI các mức chi phí thấp thì NHTW các nước còn tiếp tục giảm lãi suất cho vay :
Tại Mỹ, lãi suất ngân hàng trung ương cấp vốn cho ngân hàng thương mại đã được hạ
xuống còn 0% đến 0,25%. Tại Nhật, lãi suất ngân hàng trung ương chiết khấu và tái cấp
vốn cho ngân hàng thương mại được hạ xuống còn 0,3%. Tháng 2/2009, Việt Nam điều
chỉnh giảm lãi suất tái cấp vốn từ 9,5%/năm xuống 7%/năm, lãi suất tái chiết khấu giảm
15 từ 7,5/năm xuống 5%/năm. Bằng các biện pháp trên NHTW đã tác động nhanh chóng
đến khối lượng tiền và số nhân tiền tệ trong nền kinh tế, hỗ trợ thanh khoản, tạo điều kiện
cho các tổ chức tín dụng mở rộng tín dụng hiệu quả.
Với kế hoạch giải cứu hệ thống ngân hàng tại hầu hết các quốc gia thì nền kinh tế một
số nước đã thoát khỏi tình trạng tăng trưởng âm kéo dài từ cuối năm 2008 đến mấy tháng
đầu năm 2009. Tiêu biểu như một vài nước sau:Nhật công bố trong khoảng thời gian 3
tháng kết thúc ngày 30/06/2009, GDP Nhật tăng trưởng với tốc độ 3,7% (tính theo trung
Với việc cắt giảm lãi suất cơ bản, lãi suất tái chiết khấu, nghiệp vụ thị trường mở của
NHTW trong thời gian qua, đã ngay lập tức làm giảm lãi suất cho vay, tỷ giá, sức mua
của các đồng tiền, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của các NHTM . N HTW
thực hiện các công cụ đó nhằm kiểm soát hoạt động cho vay và hoạt động kinh doanh của
các NHTM .
2. ĐỊNH HƯỚNG MÔ HÌNH TỔ CHỨC CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG VIỆT
NAM
2.1 Những nhược điểm trong mô hình tổ chức hiện nay
2.1.1Mô hình tổ chức hiện nay của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Hiện ở Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước là một thành viên Chính phủ và hoạt
động như một bộ, như một cơ quan quản lý nhà nước khác trong bộ máy Chính
phủ, cơ cấu tổ chức như sau:17 -
2.1.2 Một số nhược điểm của Mô hình tổ chức hiện nay của NHNN Việt Nam
- Mô hình tổ chức được quy định theo Luật NHTW Việt Namhiện tại chưa quy định
cụ thể về trách nhiệm cũng như thẩm quyền của NHTW Việt Namtrong điều hành
các công cụ để thực thi chính sách tiền tệ.
- Cuộc khủng hoảng tài chính tại các nước phát triển vừa qua cũng cho thấy mô
hình tổ chức của NHTW Việt Namđã thể hiện những bất cập trong việc giám sát
hoạt động của hệ thống ngân hàng, công tác dự báo kém, biểu hiện lúng túng và
không chủ động trong việc thực thi chính sách tiền tệ. Điều này dẫn đến các chính
sách của NHTW Việt Namtrong thời gian qua khi ban hành thường bị “giật cục”,
gặp nhiều phản ứng và gây sốc đối với nền kinh tế.
- Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chưa làm tốt về việc công khai chủ trương, chính
sách và những thông tin cần thiết về tiền tệ, ngân hàng cho công chúng thường
19
Nguồn: duthaoonline.quochoi.vn
- Mối quan hệ giữa chỉ số độc lập của NHTW với mức lạm phát bình quân
(Nghiên cứu của Alesina và Summers, 1993)
Trong số những nước đã phát triển có mô hình NHTW độc lập, nhiều bằng chứng
cho thấy mối quan hệ nghịch biến giữa sự độc lập của NHTW với lạm phát. Nghiên
cứu của Alesina và Summers (1993) dựa trên các quan sát giai đoạn từ 1955 đến
1988 cho thấy có mối quan hệ nghịch biến khá rõ giữa tính độc lập của NHTW với
lạm phát bình quân và với sự biến thiên của chỉ số lạm phát.
Điều đó cho thấy cách thức độc lập của NHTW cũng có ảnh hưởng theo những
mức độ khác nhau đến lạm phát. Mức độ độc lập của NHTW càng cao thì mức lạm
phát bình quân càng giảm, như vậy mức độ độc lập của NHTW phản ánh trình độ
điều hành các chính sách vĩ mô của nền kinh tế, những nước có NHTW độc lập thì
việc quản lý giá cả sẽ được thực thi tốt hơn và ngược lại.
Hình 1. Mối quan hệ giữa chỉ số độc lập của NHTW với mức lạm phát
bình quân
20
Nguồn: Alesina và Sum mers, 1993
- Mối quan hệ giữa chỉ số độc lập của NHTW với thâm hụt ngân sách
(Nghiên cứu của Pollard, 1993):
Kết quả nghiên cứu của Pallard cho thấy: Ở các NHTW các nước có
mức độc lập cao có mức độ thâm hụt ngân sách thấp và ngược lại.
- Mối quan hệ giữa chỉ số độc lập của NHTW với thất nghiệp
Nghiên cứu của Alesina và Summers cho thấy không tìm thấy mối quan
hệ có ý nghĩa thống kê nào giữa chỉ số độc lập của NHTW với tình trạng
thất nghiệp của nền kinh tế.
Hình . Mối quan hệ giữa chỉ số độc lập của NHTW với thất nghiệp bình quân
Nguồn: Alesina và Sum mers, 1993
23 - Mối quan hệ giữa chỉ số độc lập của NHTW với lãi suất
Nghiên cứu của Alesina và Summers cho thấy không tìm thấy mối quan hệ có ý
nghĩa thống kê nào giữa chỉ số độc lập của NHTW với tình lãi suất của nền kinh
tế.
Hình 10. Mối quan hệ giữa chỉ số độc lập của NHTW với lãi suất
thực bình quân
Nguồn: Alesina và Sum mers, 1993
24 PHẦN KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tác giả Nguyễn Quang A - Tính độc lập của Ngân hàng Nhà nước- Báo Lao
Động Cuối tuần số 31 Ngày 02/08/2009
TS. Hoàng Công Gia Khánh – Tóm tắt bài giảng TTNH - 2008
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
năm 2003
Luật Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam năm 1997
PGS.TS Lê Văn Tề, Tiền tệ và ngân hàng, NXB Lao Động – Xã Hôi - 2008
Tác giả Nguyễn Quang Thép– Tạp Chí Ngân Hàng Số 19 - 2006
TS Lê Thị Thu Thủy– Góp ý Dự thảo Luật NHNN Việt Nam sửa đổi - 2009
ThS. Phan Anh Tuấn – Đề cương bài giảng môn Lý thuyết TCTT – 2008
Trang web Bách Khoa Toàn Thư Mở
Trang web NHNN Việt Nam
Trang web scribd />uong
Trang web Tuần Việt Nam
M ột số nguồn tư liệu khác như báo chí, tài liệu thư viện , vv…