BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH LÊ THỊ HOÀI PHƯƠNG
ÁP DỤNG MÔ HÌNH DẠY – TỰ HỌC VỚI
SỰ HỖ TRỢ CỦA WEBSITE VÀO DẠY
HỌC CHƯƠNG “ĐỘNG LỰC HỌC CHẤT
ĐIỂM” LỚP 10 THPT NÂNG CAO
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh - 2011 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Sau một thời gian nghiên cứu và tìm tòi, được sự giúp đỡ tận tình của
TS.Nguyễn Mạnh Hùng, đến nay tôi đã hoàn thành xong đề tài.
♦Lời đầu tiên tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS.Nguyễn Mạnh Hùng.
♦Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô khoa Vật Lí và phòng KHCN và Sau đại học
Trường Đại Học Sư Phạm TP.Hồ Chí Minh.
♦Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu và các giáo viên tổ Vật Lí trường THPT
chuyên Trần Hưng Đạo, TP.Phan Thiết.
♦Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình và bạn hữu đã động viên, giúp đỡ.
Trong quá trình thực hiện đề tài, mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng chắc hẳn
không tránh khỏi những thiếu sót, tôi mong các thầy cô cùng các bạn đóng góp ý kiến
để đề tài được hoàn thiện hơn.
Tp. Hồ Chí Minh 2011
MỤC LỤC 5TLỜI CẢM ƠN5T 3
5TMỤC LỤC5T 2
5TDANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT5T 5
5TDANH MỤC CÁC BẢNG5T 5
5TDANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ5T 7
5TDANH MỤC CÁC HÌNH VẼ5T 8
5TMỞ ĐẦU5T 9
5T1.Lí do chọn đề tài5T 9
CHẤT ĐIỂM” LỚP 10 NÂNG CAO THEO MÔ HÌNH DẠY - TỰ HỌC VỚI SỰ HỖ
TRỢ CỦA WEBSITE
5T 52
5T2.1.Mục tiêu và nhiệm vụ của giáo dục phổ thông [9]5T 52
5T2.2.Phân tích nội dung của chương “Động lực học chất điểm” (chương trình lớp 10
nâng cao)
5T 52
5T2.2.1.Phân tích cấu trúc nội dung của chương “Động lực học chất điểm” [18]5T 52
5T2.2.2.Chuẩn kiến thức và kỹ năng của chương “Động lực học chất điểm” (theo chuẩn do Bộ GD
& ĐT ban hành) [30]
5T 54
5T2.3.Xây dựng tiến trình dạy học chương “Động lực học chất điểm” theo mô hình dạy –
tự học với sự hỗ trợ của website
5T 56
5T2.3.4. Bài 19: Lực đàn hồi5T 80
5TCHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM5T 90
5T3.1.Mục đích của thực nghiệm sư phạm5T 90
5T3.2.Đối tượng và nội dung của thực nghiệm sư phạm5T 90
5T3.2.1.Đối tượng thực nghiệm sư phạm5T 90
5T3.2.2.Nội dung thực nghiệm sư phạm5T 90
5T3.3.Đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm5T 93
5T3.3.1.Đánh giá qua “phiếu điều tra”5T 93
5T3.3.2.Đánh giá qua so sánh quá trình học tập của lớp thực nghiệm trước và sau khi áp dụng mô
hình “dạy–tự học với sự hỗ trợ của website”
5T 95
5T3.3.3.Đánh giá bằng phương pháp “Kiểm định thống kê”5T 97
5T3.4.Kết luận chương III5T 105
5TKẾT LUẬN5T 107
5TTÀI LIỆU THAM KHẢO5T 110
DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 1.1.So sánh vai trò của thầy trong mô hình dạy-tự học với mô hình truyền thống 24
Bảng 2.1.Chuẩn kiến thức và nội dung chương “Động lực học chất điểm” 62
Bảng 3.1. Phiếu theo dõi công việc ở nhà của học sinh. 107
Bảng 3.2. Phiếu ghi điểm trên lớp của giáo viên (Theo sơ đồ chỗ ngồi của HS). . 108
Bảng 3.3.Đánh giá mức độ cần thiết của website cho việc tự học của HS 110
Bảng 3.4.Đánh giá nội dung của website bổ trợ cho việc tự học của HS 111
Bảng 3.5.Đánh giá sự hứng thú học tập mà website mang lại 112
Bảng 3.6.Thống kê các điểm số x
R
i
R của bài kiểm tra 115
Bảng 3.7.Phân bố tần suất 116
Bảng 3.8.Phân bố tần suất tích lũy 116
Bảng 3.9.Thống kê điểm của lớp TN và ĐC 117
Bảng 3.10.Tham số thống kê của lớp TN 118
Bảng 3.11.Tham số thống kê của lớp ĐC 119
Hình 1.15.Site Thí nghiệm vật lí 44
Hình 1.16.Site Vật lí lí thú 46
Hình 2.1.Sơ đồ các kiến thức trong chương “Động lực học chất điểm” 61
MỞ ĐẦU
1.Lí do chọn đề tài
“Hiền tài là nguyên khí của quốc gia” (Thân Nhân Trung).
Muốn có hiền tài thì nền giáo dục phải tốt. Giáo dục là nền tảng của xã hội, là cơ sở tiền đề để
quyết định sự phồn vinh của đất nước. Giáo dục cung cấp những hiểu biết về kho tàng tri thức của
nhân loại cho biết bao thế hệ. Mặt khác giáo dục còn góp phần hình thành và bồi dưỡng nhân cách
tốt đẹp cho học sinh. Tuy nhiên, do nước ta hiện còn nghèo, đầu tư cho giáo dục bình quân đầu
người còn rất hạn chế so với mức bình quân của thế giới. Phải làm gì để đầu tư ít mà hiệu quả cao?
Đó là một thách thức lớn của ngành giáo dục nói riêng và xã hội nói chung. Khơi dậy nội lực, đó là
câu trả lời chung. Trong giáo dục, thì nội lực trước hết là nội lực ở người học; Khơi dậy được nội
lực này thì sẽ khơi dậy được nhiều nội lực khác trong ngành và trong xã hội. Chính vì vậy, vấn đề
phát huy tính tự học của học sinh đã và đang được xã hội nói chung và ngành giáo dục nói riêng rất
quan tâm.
Chỉ thị của bộ trưởng bộ giáo dục Nguyễn Thiện Nhân về việc phát động phong trào thi đua
“Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” trong các trường phổ thông giai đoạn 2008-
2013 đã đưa ra nội dung về việc dạy và học:
-Thầy, cô giáo có phương pháp dạy, giáo dục và hướng dẫn học sinh học tập nhằm khuyến
khích sự chuyên cần, tích cực, chủ động, sáng tạo và ý thức vươn lên; góp phần hình thành khả năng
tự học của học sinh.
-Học sinh được khuyến khích đề xuất sáng kiến và cùng các thầy cô giáo thực hiện các giải
pháp để việc dạy và học có hiệu quả ngày càng cao. [29]
Như vậy, xu hướng chủ đạo trong sự đổi mới phương pháp giáo dục là chuyển sang dạy học
tích cực mà ý tưởng cốt lõi là giúp cho học sinh tự học, tự giáo dục.
Để giáo dục có hiệu quả và đạt chất lượng cao, trong quá trình giảng dạy chúng ta cần biết lựa
+Những khó khăn, thuận lợi của giáo viên khi dạy chương “Động lực học chất điểm”.
+Khả năng, thói quen của học sinh khi học chương “Động lực học chất điểm”.
-Nghiên cứu vận dụng cơ sở lý luận để xây dựng một website có đầy đủ những đặc tính riêng hướng
đến phục vụ cho mô hình dạy – tự học.
-Nghiên cứu xây dựng các tiến trình dạy học theo mô hình dạy – tự học với sự hỗ trợ của website
cho chương “Động lực học chất điểm”.
-Thực nghiệm các tiến trình đã xây dựng vào dạy học ở trường THPT nhằm:
+Hoàn thiện mô hình dạy – tự học với sự hỗ trợ của website, từ đó điều chỉnh để có quá trình
vận dụng phù hợp.
+Đánh giá, kiểm tra giả thuyết của đề tài.
6. Phương pháp nghiên cứu
-Phương pháp nghiên cứu lý luận.
-Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm sư phạm.
-Thống kê toán học.
-Phương pháp điều tra, phỏng vấn.
7. Bố cục của luận văn.
Luận văn gồm:
-Mở đầu.
-Chương I: Mô hình dạy – tự học với sự hỗ trợ của website.
-Chương II: Xây dựng các tiến trình dạy học chương “Động lực học chất điểm” lớp 10 nâng cao
theo mô hình dạy – tự học với sự hỗ trợ của website.
-Chương III: Thực nghiệm sư phạm.
-Kết luận.
-Tài liệu tham khảo.
-Phụ lục.
8.Tổng quan
♦Một số đề tài về sử dụng công nghệ thông tin phục vụ cho dạy học đã thực hiện trước đây:
+Phạm Duy Phượng Chi, TS. Phạm Thế Dân (hướng dẫn), Trường ĐHSP Tp.HCM, 2009,
Xây dựng website dạy một số bài học của chương "các dụng cụ quang học" lớp 11 - nâng cao trên
+Đinh Thị Phương Thanh, PGS. TS. Mai Văn Trinh (hướng dẫn) Đại học sư phạm TP. Hồ Chí
Minh, 2009, Thiết kế webside hỗ trợ dạy học hai chương "Từ trường" và "Cảm ứng điện từ" lớp 11
(cơ bản) nhằm nâng cao tính tích cực, tự lực và sáng tạo cho học sinh, Chuyên ngành: Lý luận và
phương pháp dạy học môn vật lý.
Các đề tài trên đều đề cập đến việc xây dựng website dạy học nhằm nâng cao hiệu quả dạy
học. Tuy nhiên chưa có website nào được xây dựng để hỗ trợ mô hình dạy-tự học. Mục tiêu của
nghiên cứu này là dùng website dạy học nhằm nâng cao năng lực tự học cho học sinh, do đó phải
kết hợp website với một phương pháp dạy học thích hợp thì mới có thể đạt được mục đích đó. Việc
sử dụng website lồng ghép vào một phương pháp dạy tự học là một vấn đề mới mà chưa có đề tài
nào thực hiện. Chính vì vậy, tác giả đã mạnh dạn khai thác vấn đề này như một giải pháp để nâng
cao hiệu quả dạy học.
♦Một số đề tài dạy học chương “Động lực học chất điểm” đã thực hiện trước đây :
+Phạm Thị Thu Hằng, TS. Nguyễn Mạnh Hùng (hướng dẫn) Đại học sư phạm TP. Hồ Chí
Minh, 2009, Tổ chức dạy học chương động lực học chất điểm vật lý 10 ban cơ bản gắn với thực tiễn
nhằm tạo hứng thú học tập cho học sinh và nâng cao hiệu quả của việc dạy học, Chuyên ngành: Lý
luận và phương pháp dạy học môn vật lý.
+Vũ Thị Ngọc Hằng; TS. Lê Thị Thanh Thảo (hướng dẫn) Đại học sư phạm TP. Hồ Chí Minh,
2008, Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan giúp học sinh tự kiểm tra - đánh giá kết
quả học tập trên máy tính chương động học chất điểm và chương động lực học chất điểm (Thuộc
chương trình vật lý lớp 10 - Ban cơ bản), Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học môn vật
lý.
+Nguyễn Thị Ngọc Phượng, TS. Đỗ Xuân Hội (hướng dẫn) Trường ĐHSP Tp. HCM, 2009,
Xây dựng lớp học vật lý trực tuyến nhằm hỗ trợ học sinh tự học chương: " động lực học chất điểm"
(vật lý 10 nâng cao), Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học môn vật lý.
+Lại Thùy Phương, PGS. TS. Đỗ Hương Trà (hướng dẫn) Đại học sư phạm Tp.HCM, 2009,
Vận dụng dạy học dự án vào tổ chức hoạt động ngoại khóa kiến thức chương "Động lực học chất
điểm" sách giáo khoa lớp 10 nâng cao, Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học môn vật lý.
+Nguyễn Ngọc Thắng, TS. Lê Thị Thanh Thảo (hướng dẫn) Đại học sư phạm TP. Hồ Chí
Minh, 2007, Xây dựng bộ câu hỏi định hướng cho việc dạy và học chương "Động lực học chất
ý muốn thi đỗ, biết biến khó khăn thành thuận lợi,…) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó
của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình”.[7]
Tiến sĩ Võ Quang Phúc cho rằng: “Tự học là một bộ phận của học, nó cũng được hình thành
bởi những thao tác, cử chỉ, ngôn ngữ, hành động của người học trong hệ thống tương tác của hoạt
động dạy học. Tự học phản ánh rõ nhất nhu cầu bức xúc về học tập của người học, phản ánh tính tự
giác và sự nỗ lực của người học, phản ánh năng lực tổ chức và tự điều khiển của người học nhằm đạt
được kết quả nhất định trong hoàn cảnh nhất định với nồng độ học tập nhất định”[15]
Tự học thể hiện bằng cách tự đọc tài liệu giáo khoa, sách báo các loại, nghe radio, truyền hình,
nghe nói chuyện, báo cáo, tham quan bảo tàng, triển lãm, xem phim, kịch, giao tiếp với những người
có học, với các chuyên gia và những người hoạt động thực tiễn trong các lĩnh vực khác nhau. Người
tự học phải biết cách lựa chọn tài liệu, tìm ra những điểm chính, điểm quan trọng trong các tài liệu
đã đọc, đã nghe, phải biết cách ghi chép những điều cần thiết, biết viết tóm tắt và làm đề cương, biết
cách tra cứu từ điển và sách tham khảo, biết cách làm việc trong thư viện…Đối với học sinh, tự học
còn thể hiện bằng cách tự làm các bài tập chuyên môn, các câu lạc bộ, các nhóm thực nghiệm và các
hoạt động ngoại khóa khác. Tự học đòi hỏi phải có tính độc lập, tự chủ, tự giác và kiên trì cao.
1.1.1.2.Các hình thức của tự học
Tự học có 3 hình thức cơ bản:[6]
- Tự học không có hướng dẫn: Người học tự tìm lấy tài liệu để đọc, hiểu, vận dụng các kiến
thức trong đó. Cách học này sẽ đem lại rất nhiều khó khăn cho người học, đòi hỏi khả năng tự học
rất cao.
- Tự học có hướng dẫn: Có giáo viên ở xa hướng dẫn người học bằng tài liệu hoặc bằng các
phương tiện thông tin khác.
- Tự học có hướng dẫn trực tiếp: Có tài liệu và giáp mặt với giáo viên một số tiết trong ngày,
trong tuần, được thầy hướng dẫn giảng giải sau đó về nhà tự học.
1.1.1.3. Vai trò của tự học
Tự học là một giải pháp khoa học giúp giải quyết mâu thuẫn giữa khối lượng kiến thức đồ sộ
với quỹ thời gian ít ỏi ở nhà trường. Nó giúp khắc phục nghịch lý: học vấn thì vô hạn mà tuổi học
đường và thời gian học trên lớp có giới hạn.
Tự học là giúp tạo ra tri thức bền vững cho mỗi người bởi lẽ nó là kết quả của sự hứng thú, sự
Thời một (1): Tự nghiên cứu:
Người học tự tìm tòi, quan sát, mô tả, giải thích, phát hiện vấn đề, định hướng giải quyết vấn
đề, giải quyết vấn đề, tự tìm ra kiến thức mới (chỉ mới đối với người học) và tạo ra sản phẩm ban
đầu hay sản phẩm thô có tính chất cá nhân.
Thời hai (2): Tự thể hiện
Người học tự thể hiện mình bằng văn bản, bằng lời nói, tự sắm vai trong các tình huống, vấn
đề, tự trình bày, bảo vệ kiến thức hay sản phẩm cá nhân ban đầu của mình, tự thể hiện qua sự hợp
tác, trao đổi, đối thoại, giao tiếp với các bạn và thầy, tạo ra sản phẩm có tính chất xã hội của cộng
đồng lớp học.
Thời ba (3): Tự kiểm tra, tự điều chỉnh
Sau khi tự thể hiện mình qua sự hợp tác trao đổi với các bạn và thầy, sau khi thầy kết luận,
người học tự kiểm tra, tự đánh giá sản phẩm ban đầu của mình, tự sửa sai, tự điều chỉnh thành sản
phẩm khoa học (tri thức). Hình 1.1. Chu trình tự học
Chu trình tự nghiên cứu → tự thể hiện → tự kiểm tra, tự điều chỉnh, thực chất cũng là con
đường “phát hiện vấn đề, định hướng giải quyết, và giải quyết vấn đề” của nghiên cứu khoa học,
dẫn dắt người học đến tri thức khoa học, đến chân lý mới và chỉ có thể diễn ra dưới tác động hợp lí
của chu trình dạy của thầy.
♦Chu trình dạy của thầy:
Chu trình dạy của thầy nhằm tác động hợp lý, phù hợp và cộng hưởng với chu trình tự học của
trò, cũng là chu trình ba thời tương ứng với chu trình tự học ba thời của trò: Hướng dẫn; Tổ chức;
Trọng tài, cố vấn, kết luận, kiểm tra.
Thầy – tác nhân → Trò - chủ thể
(1) Hướng dẫn → Tự nghiên cứu
(2) Tổ chức → Tự thể hiện
(3) Trọng tài, cố vấn, → Tự kiểm tra
kết luận, kiểm tra → Tự điều chỉnh
Hình 1.2. Chu trình dạy học
(1)
Tự nghiên cứu
Tự kiểm tra
Tự điều chỉ
nh
(3)
(2)
Tự thể hiện
TỰ HỌC
HƯỚNG DẪN
TỔ CHỨC
TRỌNG TÀI
CỐ VẤN
Chu trình dạy trên đây thể hiện sự kết hợp hữu cơ giữa chu trình dạy của thầy với chu trình tự
học của trò qua từng thời, để cho người học tự mình chiếm lĩnh tri thức. Cho nên ta phải đề cập tiếp
đến thành tố thứ ba là tri thức để có một chu trình dạy – tự học toàn vẹn.
♦Tri thức (qua ba thời)
Thời một (1)
Thầy hướng dẫn cho trò tự nghiên cứu, quan hệ trực tiếp với tri thức theo chiều mũi tên ở tam
giác sư phạm và tự tìm ra được một tri thức hay sản phẩm ban đầu mang tính chất cá nhân, tức là có
thể đúng hay sai, khách quan hay chủ quan, khoa học hay thiếu khoa học.
Hình 1.3. Tri thức qua thời 1
Thời hai (2)
Sản phẩm ban đầu của học sinh thông qua sự trao đổi, thảo luận, hợp tác với các bạn trong
cộng đồng lớp học trở thành khách quan hơn; tri thức có tính chất cá nhân ở thời (1) giờ đây đã
mang tính chất xã hội ( xã hội lớp học).
Trọng tài, cố vấn
Kết luận, Kiểm tra
Trò
Tự kiểm tra
Tự điều chỉnh
(1)
Tự nghiên cứu
Tự kiểm tra
Tự điều chỉ
nh
(3)
(2)
Tự thể hiện
TỰ HỌC
HƯỚNG DẪN
TỔ CHỨC
TRỌNG TÀI
. CỐ VẤN
Tri thức (cá nhân)
Tri thức
(khoa học)
Tri thức (xã hội)
-Đường tròn bên trong tượng trưng cho nội lực – năng lực tự học.
-Đường tròn giữa tượng trưng cho ngoại lực – tác động dạy của thầy.
-Đường tròn ngoài cùng tượng trưng cho tri thức người học cần chiếm lĩnh.
Các mũi tên đều xuất phát từ cực “thầy”: thầy là người khởi xướng, người dẫn chương trình tự học
của trò:
+(1): Thầy hướng dẫn cho trò tự nghiên cứu để tìm ra một tri thức có tính chất cá nhân.
3. Thầy hướng dẫn cho trò cách tự học,
cách giải quyết vấn đề, cách xử lý tình
huống, cách sống và trưởng thành.
4. Thầy kiểm tra đánh giá trên cơ sở tự
kiểm tra, tự điều chỉnh của trò.
5. Thầy là thầy học, chuyên gia về học,
hướng dẫn , tổ chức cho trò biết “tự học
chữ, tự học nghề, tự học nên người”.
Từ bảng so sánh trên cho thấy vai trò người thầy trong mô hình dạy – tự học không thể bị mờ
nhạt mà trái lại còn rõ nét hơn, người thầy vẫn là “linh hồn” của giờ học sinh động và sáng tạo. Bởi
vì, để có thể làm người hướng dẫn, cung cấp thông tin, trọng tài, cố vấn… người thầy phải hiểu biết
sâu sắc những kiến thức cơ bản của môn học mình đảm nhiệm, đồng thời phải tự bổ sung vốn kiến
thức của mình thường xuyên và có định hướng rõ ràng qua tài liệu, sách báo…Người thầy phải nắm
vững bản chất và các quy luật của quá trình dạy học để có thể tìm ra hoặc ứng dụng những phương
pháp dạy học phù hợp với đối tượng của mình nhất.
1.1.2.3.Một số khó khăn và lợi thế của mô hình dạy – tự học
♦Một số khó khăn của mô hình dạy – tự học.
-Mô hình này có giảm thời gian thầy giảng giải, truyền đạt ở trên lớp song đòi hỏi phải đảm
bảo thời gian và điều kiện cho người tự học, tự nghiên cứu và đối thoại với các bạn và thầy. Mô
hình này cũng đòi hỏi một số điều kiện nào đó như là tài liệu tự học, tổ chức lại không gian lớp học,
đổi mới quản lí giáo dục theo hướng lấy người học làm trung tâm của hệ giáo dục…
-Mô hình dạy – tự học vấp phải tập quán, thói quen cổ hữu lâu đời của nhà trường dạy học thụ
động, truyền thụ một chiều, lấy việc dạy (thầy) làm trung tâm.
♦Một số lợi thế của mô hình dạy – tự học
-Đó là mô hình dạy học “vì người học và bằng năng lực tự học của người học” của một nhà
trường “vì người học, cho người học và của người học”, lấy người học (việc học) làm gốc, làm
trung tâm; Người học tự học, tự nghiên cứu, hợp tác với các bạn dưới sự hướng dẫn của thầy để tự
mình chiếm lĩnh tri thức bằng hành động của chính mình, do đó có hứng thú và động cơ học, phát
triển được tính tự chủ, chủ động và sáng tạo, phát triển được các mối quan hệ giao tiếp phong phú