Nâng cao năng lực tự học của học sinh trong dạy học chương nhiệt học vật lý lớp 8 trường trung học cơ sở với sự hỗ trợ c - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

VŨ THỊ KIM NHUNG

NÂNG CAO NĂNG LỰC TỰ HỌC CỦA HỌC SINH
TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG “NHIỆT HỌC “
VẬT
LÝ LỚP 8 TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ VỚI SỰ HỖ
TRỢ CỦA WEBSITE DẠY HỌC

Chuyên ngành: Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn vật lý
Mã số: 60 14 01 11

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS MAI VĂN TRINH

NGHỆ AN-2013


LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được sự hướng
dẫn, giúp đỡ quý báu của quý thầy cô, gia đình và các bạn. Với lòng kính trọng và biết ơn
sâu sắc tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới:
PGS.TS Mai Văn Trinh, người đã định hướng nghiên cứu, hết lòng hướng dẫn,
động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn.
Ban giám hiệu, Khoa Sau đại học, quý thầy cô giáo khoa Vật lý trường Đại học
Vinh; Ban giám hiệu, Phòng Đào tạo Sau đại học trường Đại học Vinh; Ban giám hiệu,
Phòng tổ chức cán bộ trường Đại học Sài Gòn; Ban giám hiệu và đồng nghiệp trường
THCS Bình Đa đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu.

:

ĐC

Giáo viên

:

GV

Học sinh

:

HS

Kiến thức

:

KT

Kỹ năng

:

KN

Nhà xuất bản


Trang
Trang...................................................4
MỞ ĐẦU...........................................................................................................................................1
CHƯƠNG I ......................................................................................................................................6
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC TỰ HỌC CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC
VẬT LÝ TRUNG HỌC CƠ SỞ VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA WEBSITE...............................................6

1.1.Những vấn đề chung về năng lực tự học...............................................................6
1.2. Những vấn đề chung về website dạy học...........................................................11
1.3 Tổ chức _ Hướng dẫn học sinh tự học với sự hỗ trợ của Website.....................14
1.4 Tự học với sự hỗ trợ của Website........................................................................19
Kết luận chương 1......................................................................................................21
CHƯƠNG II ..................................................................................................................................22
XÂY DỰNG TIẾN TRÌNH DẠY HỌC CHƯƠNG “ NHIỆT HỌC “ LỚP 8 TRƯỜNG TRUNG
HỌC CƠ SỞ NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC TỰ HỌC VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA WEBSITE...22

2.1 Phân tích nội dung của chương “ Nhiệt học “.....................................................22
2.2. Giới thiệu Website dạy học hỗ trợ cho năng lực tự học....................................26
2.3. Xây dựng tiến trình dạy học chương “ Nhiệt học “ theo hướng nâng cao năng
lực tự học của học sinh với sự hỗ trợ của Website...................................................46
Kết luận chương 2......................................................................................................73
CHƯƠNG III .................................................................................................................................73
THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM..........................................................................................................73

3.1.Mục đích thực nghiệm sư phạm..........................................................................74
3.2.Đối tượng và nội dung của thực nghiệm sư phạm..............................................74
3.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm....................................................................74
3.4 Đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm.............................................................75
KẾT LUẬN.....................................................................................................................................85


chuyển sang dạy học tích cực mà ý tưởng cốt lõi là giúp cho học sinh tự học,
tự giáo dục.

1


Hiện nay đã có sự đổi mới tương đối đồng bộ về nội dung SGK, thiết bị
dạy học, dụng cụ thí nghiệm. Giáo viên đã và ngày càng nâng cao đổi mới
phương pháp dạy học theo hướng tích cực nhằm phát huy năng lực tự học của
học sinh. Học sinh không còn thụ động như trước kia, các em bước đầu đã
quen dần với việc làm việc theo nhóm, làm việc cá nhân dưới sự điều khiển
của giáo viên.
Ngoài ra, kĩ năng sử dụng máy vi tính và truy cập internet của học sinh
tương đối tốt đặc biệt là HS ở thành phố. Rất nhiều gia đình, phụ huynh đã
trang bị máy vi tính và cài đặt internet tại nhà.
Tuy nhiên, nội dung SGK dài, nếu giáo viên tổ chức cho học sinh học
nhóm và làm việc cá nhân nhiều sẽ không đủ thời gian, bên cạnh đó giáo viên
cũng không thể mở rộng kiến thức và nâng cao tầm hiểu biết cho học sinh.
-Số tiết bài tập trên lớp là rất ít nên không đủ thời gian cho học sinh
nâng cao kỹ năng giải bài tập.
-Về nội dung: Trong chương có một số kiến thức mang tính tưởng
tượng cao khiến học sinh thấy khó hình dung như: Thí nghiệm về sự chuyển
động của các nguyên tử, phân tử, cấu tạo của các chất.
- Để giáo dục có hiệu quả và đạt chất lượng cao, trong quá trình giảng
dạy chúng ta cần biết lựa chọn phương pháp dạy tối ưu nhất, phù hợp với
phương pháp đổi mới, phù hợp với mục tiêu và nội dung của bài học mà ở đó
giáo viên không chỉ là người truyền thụ kiến thức mà quan trọng hơn là chỉ ra
con đường và phương pháp tự học cho học sinh.Trước tình hình hiện nay kiến
thức gia tăng, bùng nổ cả về khối lượng và chất lượng, cả về tốc độ và phạm
vi lĩnh vực, việc dạy - học chủ yếu dựa vào những phương tiện dạy học truyền

Đa, thành phố Biên Hoà – tỉnh Đồng Nai.
4. Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng và sử dụng Website hỗ trợ hoạt động tự học vật lý của
học sinh lớp 8 THCS một cách hợp lý thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng
dạy học bộ môn.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu

3


5.1 Nghiên cứu cơ sở lí luận về phương pháp dạy – tự học vật lý.
5.2 Nghiên cứu thực trạng tự học môn Vật lý của học sinh lớp 8 ở trường
THCS.
5.3 Nghiên cứu chương “Nhiệt học ” sách giáo khoa Vật lí 8.
5.4 Nghiên cứu và xây dựng Website phù hợp với qúa trình dạy – tự học
chương“ Nhiệt học“ vật lý 8 trường trung học cơ sở.
5.5 Xây dựng tiến trình dạy học nhằm nâng cao năng lực tự học của học
sinh với sự hỗ trợ của Website.
5.6 Tiến hành thực nghiệm sư phạm ở trường trung học cơ sở nhằm xác
định mức độ phù hợp, hiệu quả sư phạm của việc nâng cao năng lực tự học
của học sinh với sự hỗ trợ của Website.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Nghiên cứu văn kiện của Đảng, nhà nước và các chỉ thị của Bộ Giáo
dục và Đào tạo.
- Nghiên cứu các tài liệu hướng dẫn sử dụng công nghệ thông tin trong
dạy học và các phần mềm hỗ trợ thiết kế Website.
- Nghiên cứu nội dung, chương trình SGK, sách GV và các tài liệu
tham khảo liên quan đến chương “ Nhiệt học “ lớp 8 trường THCS.
6.2 Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm

Chương III : Thực nghiệm sư phạm
PHẦN KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

5


CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC TỰ HỌC CỦA
HỌC SINH TRONG DẠY HỌC VẬT LÝ TRUNG HỌC CƠ
SỞ VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA WEBSITE
1.1.Những vấn đề chung về năng lực tự học
1.1.1.Cơ sở lí thuyết của tự học
1.1.1.1.Khái niệm về tự học
Tự học là một nội dung vừa có tính truyền thống vừa có tính thời sự phổ
biến không chỉ ở nước ta mà còn là vấn đề của nhiều nước. Ngay từ xa xưa,
Khổng Tử đã ý thức được tầm quan trọng của việc tự học đối với mỗi con
người. Theo ông học không chỉ ở trường mà còn học ở bạn bè, học ở mọi nơi
mọi chỗ, học ở mọi người bằng ý chí và nghị lực và niềm say mê là cách tự
học của Khổng Tử. Ông đã chỉnh lý một số sách cổ kinh điển của nho gia như:
Kinh thi, Kinh thư, kinh lễ… Có được thành tựu này là do ông luôn có tinh
thần tự học hỏi, tự bồi dưỡng và quan trọng hơn là ông biết cách tự học.
Bác Hồ là tấm gương lớn của tự học, Người đã đến với chủ nghĩa cộng sản
bằng con đường tự học và sự tự học của Người gắn chặt với mục tiêu lý tưởng
mà Người đã vạch ra. Đặc biệt, Bác rất chú trọng sự thực hành trong tự học và
luôn coi thư viện là trường học lớn của mình. Người dạy “học hỏi là một việc
phải tiếp tục suốt đời. Suốt đời phải gắn liền lý luận với công tác thực tiễn.
Không ai có thể tự cho mình đã biết đủ rồi, đã biết hết rồi. Thế giới ngày càng
đổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến bộ, cho nên chúng ta phải tiếp tục học và

nghiệm và các hoạt động ngoại khóa khác. Tự học đòi hỏi phải có tính độc
lập, tự chủ, tự giác và kiên trì cao.
Tóm lại, tự học là một quá trình con người vượt qua hoàn cảnh và vượt
qua chính mình, biết tự vận dụng tất cả từ ý chí nghị lực, tư duy, nhân cách,
tâm hồn, mục đích sống đến khát vọng của bản thân để vượt qua mọi khó
khăn nhằm chiếm lĩnh tri thức của nhân loại. Hoạt động tự học được diễn ra

7


trong mọi thời điểm từ tự học ở nhà, tự học ở trường và tự học cả bên ngoài xã
hội. Kết quả của việc tự học được đánh giá bởi chính hiệu suất và hiệu quả
công việc của từng người, phụ thuộc vào khả năng tiếp thu, hoàn cảnh và thời
gian từng người. Nhìn chung mọi người đều nhằm mục đích biết được càng
nhiều kiến thức càng tốt để nâng mình lên đến một trình độ cao, phục vụ cho
cuộc sống của mình tốt hơn.[11]
1.1.1.2.Các hình thức của tự học[19],[20]
Tự học có 3 hình thức cơ bản:
Tự học không có hướng dẫn: Người học tự tìm lấy tài liệu để đọc, hiểu,
vận dụng các kiến thức trong đó. Cách học này sẽ đem lại rất nhiều khó khăn
cho người học, đòi hỏi khả năng tự học rất cao.
Tự học có hướng dẫn: Có giáo viên ở xa hướng dẫn người học bằng tài
liệu hoặc bằng các phương tiện thông tin khác.
Tự học có hướng dẫn trực tiếp: Có tài liệu và giáp mặt với giáo viên một
số tiết trong ngày, trong tuần, được thầy hướng dẫn giảng giải sau đó về nhà
tự học.
1.1.1.3. Vai trò của tự học[19]
Tự học là một giải pháp khoa học giúp giải quyết mâu thuẫn giữa khối
lượng kiến thức đồ sộ với quỹ thời gian ít ỏi ở nhà trường. Nó giúp khắc phục
nghịch lý: học vấn thì vô hạn mà tuổi học đường và thời gian học trên lớp có

năng lực cơ bắp cùng các động cơ, tình cảm, nhân sinh quan, thế giới quan để
chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành
sở hữu của mình.
1.1.2.2 Một số năng lực tự học cần bồi dưỡng cho học sinh
a) Năng lực tiếp thu kiến thức: Đó là khả năng nhận thức vấn đề nhanh,
có hứng thú, nhất là trong những bài, vấn đề mới.

9


b) Năng lực suy luận logic: Là khả năng phân tích sự vật hiện tượng,
vấn đề qua các dấu hiệu đặc trưng của chúng, biết thay đổi góc nhìn, xét đủ
các điều kiện và còn biết quay lại điểm xuất phát để tìm đường đi mới.
c) Năng lực lao động sáng tạo: Là khả năng tổng hợp các yếu tố, các
thao tác để thiết kế một dãy các hoạt động nhằm đạt kết qủa theo nhiều cách
khác nhau nhằm tìm ra con đường ngắn nhất, hiệu quả nhất. Biết vận dụng
linh hoạt, mềm dẻo những kiến thức cơ bản và hướng nhận thức đó vào tình
huống mới, không theo đường mòn.
d) Năng lực kiểm chứng: Biết suy xét đúng- sai từ một loạt sự kiện, tạo ra
các sự tương phản để khẳng định hoặc bác bỏ một vấn đề nào đó, biết rút ra kết
luận sau kiểm nghiệm.
e) Năng lực thực hành: Vật lý là bộ môn khoa học thực nghiệm nên học
sinh học vật lý cần có khả năng về thực nghiệm, tiến hành thí nghiệm vật lý:
Biết sử dụng thành thạo các hệ thống kí hiệu, quy ước, biết thực hiện các thao
tác trong khi làm thí nghiệm, kiên trì trong quá trình thí nghiệm nhằm làm
sáng tỏ vấn đề lí thuyết qua thực nghiệm.
1.1.2.3 Hệ thống kĩ năng học tập[11],[22]
Kĩ năng là tổng hợp những thao tác, cử chỉ phối hợp hài hoà, hợp lí
nhằm đảm bảo cho hành động đạt kết quả cao với sự tiêu hao năng lượng tinh
thần, cơ bắp ít nhất trong những điều kiện thay đổi.

Trang web (web page) là trang tin trên mạng Internet. Nội dung thông
tin được diễn tả một cách sinh động bằng văn bản, đồ họa, ảnh tĩnh, ảnh động,
phim, âm thanh, … Mỗi trang web được đánh dấu bằng một địa chỉ để phân
biệt với các trang khác và giúp mọi người truy cập đến. Trang web tĩnh có tên
file mở rộng là htm hoặc html.[24]
Website là tập hợp nhiều trang web thể hiện thông tin của một tổ chức,
một chủ đề nào đó. Thường mỗi website có một trang web gọi là trang chủ,
trang chủ sẽ chứa các hyperlink chỉ đến các trang web khác trong website.

11


Người xem sẽ vào website bắt đầu từ trang chủ, từ trang chủ này, nhờ các link
trong đó mà họ sẽ đến được các trang khác trong toàn website.
Để một website hoạt động được cần phải có 3 yếu tố cơ bản:[16]
- Cần phải có tên miền – domain: là biển số nhà, mỗi căn nhà phải có
biển số, có địa chỉ để tìm hay truy cập tới.
- Nơi lưu trữ website – hosting: là căn nhà sẽ thuê hoặc mua nó với
diện tích đủ để chứa dữ liệu cho website của người dùng.
- Nội dung các trang web hoặc cơ sở dữ liệu thông tin.
Website tĩnh là website không tương tác với cơ sở dữ liệu, điều đó
đồng nghĩa rằng người dùng sẽ khó khăn trong việc thay đổi nội dung, dữ liệu
có trên website nếu như không phải là người lập trình.
Website động là website tương tác với cơ sở dữ liệu, người dùng sẽ có
thể sử dụng cơ sở dữ liệu để dễ dàng thay đổi thông tin trên website. (Lưu ý :
không phải website có hình ảnh động sẽ là website động).
1.2.2.Website dạy học (vatlybinhda.com)
1.2.2.1.Khái niệm về Website dạy học
Website dạy học là một phương tiện dạy học được tạo ra bởi các siêu
văn bản (đó là các tài liệu điện tử), trên đó bao gồm một tập hợp các công cụ

có cấp độ chung và cấp độ cụ thể. Cấp độ chung hướng dẫn học về các mặt tư
tưởng, quan điểm, phương pháp luận, những phương pháp chung nhất, phổ
biến nhất. Cấp độ cụ thể hướng dẫn học môn cụ thể, từng bài học cụ thể. Cấp
độ chung soi sáng cho cấp độ cụ thể và cấp độ cụ thể minh họa, củng cố cấp
độ chung. Cả hai cấp độ hướng dẫn này khi vào học sẽ hòa quyện vào nhau,
tác động lẫn nhau để tạo nên một phong cách tự học có hiệu quả, người học sẽ
có trong tay một công cụ cơ bản để học suốt đời. Một sự hướng dẫn được coi
là có hiệu quả nếu người tiếp thu thật sự chủ động khiến cho yêu cầu “được
hướng dẫn” cũng sẽ giảm dần cho đến khi người học có thể tự học hoàn toàn.
Việc tự học qua website dạy học sẽ giúp người học không bị ràng buộc

13


vào thời khóa biểu chung, một kế hoạch chung, có thời gian để suy nghĩ sâu
sắc một vấn đề, phát hiện ra những khía cạnh xung quanh vấn đề đó và ra sức
tìm tòi học hỏi thêm. Dần dài, cách tự học đó trở thành thói quen, giúp người
học phát triển được tư duy độc lập, tư duy phê phán, tư duy sáng tạo.
Tự học qua website dạy học giúp người học có thể tìm kiếm nhanh
chóng và dễ dàng một khối lượng lớn thông tin bổ ích. Về mặt này, người học
hoàn toàn thuận lợi so với việc tìm kiếm trên sách báo.
Với tính năng siêu liên kết và giao diện thân thiện, website sinh động,
hấp dẫn, tiện dụng cho người học góp phần nâng cao hứng thú học tập.
1.2.3.Vai trò của website trong dạy học vật lý
-Với nguồn tài liệu dồi dào trong website như hình ảnh tĩnh, hình ảnh
động, phim video, các mô hình thí nghiệm ảo,…giúp giáo viên có thể khai
thác sử dụng hỗ trợ cho quá trình dạy học một cách tích cực nhất, hiệu quả
nhất.
-Với hệ thống bài học được thiết kế công phu theo ý tưởng đã được
định sẵn, giáo viên hướng dẫn giúp học sinh làm việc trên lớp nhằm phát huy

c.Định hướng học sinh tự học ở nhà
Hoạt động tự học ở nhà thường tồn tại dưới hai dạng: một là ôn tập kiến
thức cũ, hai là chuẩn bị bài mới. Do đó, tuỳ theo mỗi hoạt động mà giáo viên
có cách định hướng cho học sinh tự học khác nhau.
♦Định hướng học sinh ôn tập và sử dụng kiến thức có hiệu quả
Các kiến thức được học sinh tiếp thu ở trên lớp chỉ có thể tồn tại khi học
sinh ghi nhớ và thường xuyên sử dụng nó chuyển nó thành ngôn ngữ của bản
thân. Do đó giáo viên có thể định hướng cho học sinh trình bày lại kiến thức
đã học theo nhiều cách như viết, vẽ, so sánh, phân loại, sơ đồ hoá…để học

15


sinh nắm được kiến thức tổng quát và mối liên hệ của các kiến thức trong bài,
chương, phần giáo viên có thể hướng dẫn ôn tập theo một số nguyên tắc sau:
+Trọng tâm hoá bài học: Chỉ cần nắm những điều trọng tâm nhất của bài
học.
+Cụ thể hoá bài học: Liên hệ bài học có nội dung trừu trượng với những
hình ảnh cụ thể hằng ngày.
+Hệ thống hoá bài học: nhìn tổng quát bài học bằng một dàn bài.
+Thích ứng hoá bài học: áp dụng tối đa bài học vào cuộc sống.
+Vận dụng hết các giác quan: miệng đọc, mắt nhìn, tai nghe…
+Thủ thuật hoá bài học: dùng các thủ thuật trí nhớ.
Bên cạnh đó, việc giúp cho học sinh thấy được vai trò to lớn của kiến
thức trong việc giải quyết các vấn đề thực tiễn trong và ngoài nhà trường cũng
rất quan trọng, vì qua đó học sinh được củng cố niềm tin vào kiến thức và có
hứng thú trong việc vận dụng kiến thức giải quyết vấn đề đặt ra và chỉ khi đó
kiến thức mới được sử dụng có hiệu quả. Muốn vậy giáo viên phải thiết kế hệ
thống bài tập gồm nhiều loại, từ dễ đến khó, đồng thời định hướng cho học
sinh nhận ra các vấn đề và cách giải quyết qua các bài tập mẫu, để từ đó học

đó đòi hỏi nhiều công sức của giáo viên.
d.Một số biện pháp hướng dẫn và quản lí việc tự học ở nhà của học
sinh
♦Thiết kế các bài tập tự học cho học sinh[18]
Các bài tập tự học hàm chứa nội dung học tập mà học sinh phải tự hoàn
thành. Đồng thời nó là bản chỉ dẫn cách học cho học sinh, là bản cam kết và
là hồ sơ để giáo viên đánh giá kết quả tự học. Vì vậy, việc soạn thảo bài tập tự
học có ý nghĩa quan trọng trong việc hướng dẫn tự học.
-Trước khi soạn thảo bài tập tự học, giáo viên cần lựa chọn và quyết định
nội dung tự học. Thông thường, các nội dung được chọn là những vấn đề cơ
bản, đơn giản, mang tính thực tiễn cao, có nhiều nguồn tài liệu (sách giáo

17


khoa, tạp chí, băng hình, mạng internet, …). Phân tích nội dung đã được chọn
thành những đơn vị kiến thức nhỏ và theo các mục rõ ràng, để dễ thiết lập các
bài tập và học sinh dễ soạn đề cương.
Các bài tập tự học có thể được soạn theo hình thức: bài tập theo bài học.
Bài tập theo bài học là các bài tập được soạn thảo rất cụ thể, chi tiết và thường
bám sát với từng trang nội dung của sách giáo khoa. Các bài tập loại này được
cấu trúc theo hệ thống phù hợp với hệ thống tri thức đã được chọn để người
học tự nghiên cứu. Khi người hoàn thành hệ thống bài tập này sẽ nắm được
nội dung của tài liệu học tập.
Độ khó của các bài tập cũng là vấn đề cần quan tâm. Khó khăn chủ yếu
của người tự học là không có người trợ giúp khi bị bế tắc. Vì vậy, các bài tập
không nên quá khó, mà ở mức độ trung bình. Nhìn chung, nên cấu trúc bài tập
dưới dạng tìm hiểu nội dung tài liệu, ghi nhớ và tìm cách giải thích các sự
kiện thực tế, tránh ra các bài tập phức tạp. Việc sắp xếp các bài tập cũng cần
theo lôgic chặt chẽ từ dễ đến khó và đánh số thứ tự rõ ràng, để người làm

1.4.1. Thầy hướng dẫn cho trò tự nghiên cứu để tìm ra một tri thức có
tính chất cá nhân
Người học dựa trên các câu hỏi bài học ứng với các tình huống có vấn
đề trong phần "Bài giảng" của trang web (vatlybinhda.com) để tự tìm tòi,
quan sát, mô tả, giải thích, phát hiện vấn đề, định hướng giải quyết vấn đề,
giải quyết vấn đề, tự tìm ra kiến thức mới (chỉ mới đối với người học) và tạo
ra sản phẩm ban đầu hay sản phẩm thô có tính chất cá nhân (hoàn thành phiếu
câu hỏi đã được giao).
Học sinh phải lên trang web (vatlybinhda.com) vào phần “Bài giảng”
và các phần hỗ trợ khác như “Hướng dẫn giải bài tập”, “Bài tập trắc nghiệm”,
“Hỏi đáp vật lí”, “Vật lí và cuộc sống” để hoàn thành phiếu câu hỏi bài học
đó.

19


1.4.2. Thầy tổ chức cho trò tự thể hiện, hợp tác với nhau để làm cho sản

phẩm ban đầu của người học được khách quan hơn, tri thức có
tính chất xã hội
Người học tự thể hiện mình bằng văn bản, bằng lời nói, tự sắm vai
trong các tình huống, vấn đề, tự trình bày, bảo vệ kiến thức hay sản phẩm cá
nhân ban đầu của mình, tự thể hiện qua sự hợp tác, trao đổi, đối thoại, giao
tiếp với các bạn và thầy, tạo ra sản phẩm có tính chất xã hội của cộng đồng
lớp học bằng cách:
+GV trình chiếu lên bảng site bài giảng tương ứng với bài học của tiết
đó.
+GV đưa ra các tình huống tương ứng với câu hỏi trên site đó (các câu
hỏi đã được HS chuẩn bị ở nhà).
+GV tổ chức cho HS thảo luận nhóm rút ra kết luận nhóm, sau đó một


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status