Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp - Pdf 14

PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
A. PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG KINH DOANH
Môi trường kinh doanh của doanh nghiệp là tổng hợp các yếu tố các điều kiện bên ngoài có
tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Môi trường kinh doanh của doah nghiệp bao gồm môi trường vĩ mô và môi trường vi mô.
Môi trường vi mô là môi trường hay lực lượng có tác động trực tiếp đến bản thân công ty,
doanh nghiệp hay khả năng phục vụ khách hàng của nó, như là: marketing, đối thủ cạnh
tranh, nhà cung ứng hay khách hàng.
Môi trường vĩ mô được hiểu là những lực lương trên bình diện xã hội rộng lớn có tác động
đến môi trường vi mô.Nó bao gồm các yếu tố chính trị và luật pháp, kinh tế, kĩ thuật công
nghệ, tự nhiên, văn hóa, xã hội. Ngoài ra còn có môi trường quốc tế cũng tác động rất lớn
đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Phân tích môi trường kinh doanh chính là xem xét sự tác động của môi trường khác nhau
đến hoạt động của doanh nghiệp để từ đó tìm ra những cơ hội và thách thức.
I. Tác động của môi trường vĩ mô đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
1. Nhân tố chính trị và pháp luật
 Một đất nước có tình hình chính trị không ổn sẽ ảnh hường rất lớn
đến các lực lượng lao động. Tình hình đầu tư của nước ngoài.
 Chính trị pháp luật tạo ra cơ hội nhưng cũng tạo ra thách thức đối
với doanh nghiệp thông qua các thành tố của nó, đó là sự ổn định
về đường lối, hệ thống pháp luật, tạo lập các tập đoàn kinh tế, xây
dựng các ông trình tầm cỡ quốc gia…
 Sự ổn định về chính trị thể hiện rõ nhất trong chủ trương đường
lối quan điểm thống nhất của đảng. Sự ổn định về chính trị luôn
tạo thuận lợi, hấp dẫn cho các chiến lược của doanh nghiệp trong
nước và các nhà đầu tư trong và ngoài nước.
 Đường lối quản lí kinh tế đổi mới định hướng XHCN nền kinh tế
mở cửa tạo điều kiện cho việc giao lưu trao đổi lẫn nhau nhằm tìm
kiếm cơ hội đầu tư tạo nên sự phát triển trong kinh doanh với hiệu
quả cao.
 Tạo các tập đoàn kinh tế lớn mạnh chứng tỏ nhà nước là người

hợp lí thì các danh nghiệp sẽ gửi tiền vào ngân hàng và cho các
đối tác vay mượn. ngược lại, nếu mức lãi suất ngân hầng quá cao
hay quá thấp sẽ ảnh hưởng đến chiến lược kinh doanh của doanh
nghiệp.
 Chính sách tiền tệ và tỷ giá hối đoái: Việc tăng giảm giá trị của
đồng tiền vừa tạo thời cơ vừa tạo thách thức cho doanh nghiệp
trong kinh doanh.
 Tỷ lệ lạm phát: Nếu tỷ lệ lạm phát tang làm giảm giá trị của đồng
tiền, ảnh hưởng đến hoạt động kinh tế việc sử dụng vốn của
doanh nghiệp. Ngược lại nếu tỷ lệ lạm phát giảm sẽ đảm bảo
được giá trị đồng tiền thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển.
Ngoài ra tỉ lệ lạm phát còn ảnh hưởng đến tỷ lệ thất ngiệp trong xã
hôi.
 Khủng hoảng thừa thiếu hàng hóa sẽ ảnh hưởng đến chiến lược
kinh doanh của doanh nghiệp. Nếu khủng hoảng thừa làm dư
thừa hàng hóa, cung lớn hơn cầu, hàng hóa sản xuất ra nhiều
không bán được bị ứ đọng. làm giá giảm gây thiệt hại cho nền
kinh tế và cho doanh nghiệp. Ngược lại khủng hoảng thiếu hàng
hóa làm cho khan hiếm hàng hóa, cung nhỏ hơn cầu, khan hiếm
hàng hóa làm giá tang gây khó khăn cho hoạt động của một số
ngành.
3. Nhân tố khoa học kĩ thuật
 Khoa học kĩ thuật luôn giữ vị trí trung tâm ảnh hưởng sâu sắc toàn
diện đến hoạt động của doanh nghiệp.Nó tạo ra lợi thế cạnh tranh
trên thị trường cho doah nghiệp.
 Nhờ có khoa học kĩ thuật ngày càng tiên tiến mà doanh nghiệp
các chiến lược kinh doanh dài hạn của mình một cách hiệu quả
hơn khẳng định vị thế của mình trên thương trường. Đồng thời
thông qua khoa học kĩ thuật trình độ quản lí kĩ thuật của danh
nghiệp được nâng cao.

sống, chuẩn mực đạo đức, giải trí, sử dụng lao động nữ, phong tục tập
quán, văn hóa, hiệp hội người tiêu dùng
 Trình độ dân trí càng cao ảnh hưởng càng lớn đến chiến lược kinh
doanh của doanh nghiệp bởi vì lúc đó yêu cầu về mẫu mã, chất
lượng, màu sắc, kiểu dáng, thẩm mĩ mà người tiêu dùng đòi hỏi
ngày càng cao.
 Tỷ lệ kết hôn, sinh đẻ, tang dân số có hợp lí hay không đều ảnh
hưởng đến thị trường, nhu cầu tiêu thụ hàng hóa của doanh
nghiệp. và từ đó ảnh hưởng đến chiến lược kinh doanh của doanh
nghiệp.
 Lối sống, chuẩn mực sống, đạo đức phong cách sống nếu lành
mạnh sẽ tạo ra tính tích cực trong tiêu dùng hàng hóa, nếu ngược
lại thì sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến thị trường hàng hóa, ảnh hưởng
xấu và cản trở đến phát triển sản xuất.
 Vai trò của người phụ nữ ngày càng lớn, điều này ảnh hưởng đến
quyết định tiêu dùng của gia đình. Và tỉ lệ lao động nữ trong
doanh nghiệp cũng ảnh hưởng rất lớn đến năng suất lao động và
kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. vd như trong nghành du
lich, tiếp viên hàng không, ngân hàng, dệt may…. Thì lao động nữ
chiếm 1 tỷ lệ lớn.
 Phong tục tập quán: Nước ta có 54 dân tộc anh em, mỗi dân tộc
có nền văn hóa riêng, phong cách tiêu dùng rất khác nhau vì vậy
doah nghiệp phải quan tâm đến yếu tố này để đưa ra chiến lược
phát triển kinh doanh cho phù hợp.
 Tôn giáo: có tín ngưỡng riêng và họ thường têu dùng những hàng
hóa mang tính đặc thù như: vàng mã, hương, chuông, trống,…
Phục vụ cho tín ngưỡng của họ. doanh nghiệp cần phải quan tâm
đến nhân tố này trong việc phát triển sản xuất kinh doanh.
6. Môi trường quốc tế chịu ảnh hưởng của các nhân tố như: chính trị thế
giới, luật pháp quốc tế, văn hóa xã hội, kĩ thuật công nghệ.

Do xu hướng hội nhập kinh tế ngày càng liên kết chặt chẽ
giữa các quốc gia ngày càng tang nên các các hiệp định,
cam kết ngày càng chặt chẽ.Vì vậy, muốn làm ăn với các
khu vực kinh tế ngày thì phải tuân thủ các luật lệ, thông lệ
quốc tế
 Nhân tố kinh tế quốc tế
Nhân tố này thường tạo ra thời cơ và gây nên nguy cơ đối với các
nước, các nghành kinh tế-kĩ thuật, các doanh nghiệp xuất nhập
khẩu.Bao gồm các nhân tố như khủng hoảng kinh tế, bất đồng
quan điểm phát triển kinh tế, chính sách lãi suất….
Khủng hoảng kinh tế (1929-1933) sự bất đồng về quan
điểm phát triển kinh tế của các nước về các vấn đề như:
Khai thác dầu mỏ, đánh bắt hải sản, hàng dệt may, da
giày…đối với nền kinh tế thế giới nói chung và các quốc
gia nói riêng.
Chính sách lãi suất của ngân hàng và quỹ tiền tệ các nước
ảnh hưởng đến tỷ giá đồng tiền các quốc gia.Có thể gây
thuận lợi hoặc khó khăn cho chiến lược kinh tế của mỗi
nước.
 Nhân tố kĩ thuật công nghệ
Sự phát triển mạnh của khoa học công nghệ trên thế giới
bắt buộc các nhà kinh tế, các nhà quản trị chiến lược phải
kịp thời nắm bắt và học hỏi để thực hiện chuyển giao công
nghệ đổi mới công nghệ kịp thời để tạo lợi thế cạnh tranh
trên thị trường.
Sự xuất hiện của các sản phẩm mới, sản phẩm thay thế
trên thị trường đã bắt buộc các doanh nghiệp không ngừng
nghiên cứu, tìm tòi ra những sản phẩm mới, mẫu mã, màu
sắc để cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Sản phẩm có hàm lượng chất xám cao: nghành, doanh

chú ý. Các khía cạnh liên quan đến gia đình như: tuổi kết hôn, tuổi
sinh con đầu long, quy mô gia đình, số lượng gia đình, số lượng
con sinh được của 1 gia đình đều tác động lớn đều tác động đến
trạng thái và tính chất của thị trường. Trong những năm qua Việt
Nam nới lỏng về quan niệm số con, đã có nguy cơ làm bùng phats
tỷ lệ tăng dân số. Đây là cơ hội cho các công ty sản xuất hàng tiêu
dùng trẻ em, dịch vụ sinh sản của những bà mẹ có độ tuổi cao
hơn cũng gia tăng. Xu hướng những người độc than tăng lên gắn
liền với xã hội hiện đại, cũng là xu hướng đáng quan tâm của
công ty
 Tốc độ đô thị hóa: Tôc độ và trào lưu muốn trở thành dân cư đô
thị và miễn cưỡng trở thành dân cư đô thị của xã hội việt Nam
trong những năm đổi mới vừa qua đang trở thành cơ hội kinh
doanh phát đạt cho nhều nghành.
II. Tác động của môi trường vi mô đến tình hình kinh doanh của doanh nghiệp
1. Đối thủ cạnh tranh.
 Khi tham gia kinh doanh dù là 1 đoạn thị trường duy nhất công ty
cũng có thể gặp phải những đối thủ cạnh tranh. Vì quy mô thị trường
có hạn nên các đối thủ luôn tìm ra những độc chiêu để giành khách
hàng. Do mỗi đốii thủ cạnh tranh có 1 cách thu hút cách hàng riêng
nên khách hàng có rất nhiều sự lựa chọn khác nhau của các sản
phẩm cạnh tranh. Vì vậy trước những chiến lược thu hút khách hàng
của đối thủ cạnh tranh doanh nghiệp phải nắm bắt theo dõi kịp thời
đối sách của đối thủ cạnh tranh.
 Đối thủ cạnh tranh là những doanh nghiệp, những công ty sản xuất ,
kinh doanh những hàng hóa dich vụ có tên gọi giống nhau.đây là sự
cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cùng nghành.đối thủ cạnh tranh
còn là những hàng hóa, dịch vụ có khả năng thay thế nhau trong việc
thõa mãn nhu cầu, mong muốn của khách hàng.
Có 4 loại đối thủ cạnh tranh sau:

xuất. Nhưng nếu chúng được sản xuất ở những doanh nghiệp khác
nhau thì tính cạnh tranh giữa chúng sẽ trở nên gay gắt hơn.Một quyết
định của một chủ thể nào đó đối với một kiểu hàng hóa nhất định do
họ sản xuất ra có thể làm dich chuyển nhu cầu quyết định mua sắm
của người tieu dùng từ kiểu hàng hóa này sang kiểu hàng hóa khác.
 Đối thủ cạnh tranh là những kiểu dạng hàng hóa khác nhau cùng thõa
mãn một mong muốn cụ thể như nhau, nhưng có nhãn hiệu khác
nhau.Việc đưa ra quyết định marketing liên quan đến nhãn hiệu này
sẽ ảnh hường đến quyết định mua sắm của khách hàng mục tiêu đối
với nhãn hiệu khác.
Như vậy doanh ngiệp khi đưa ra các quyết định đối với sản
phẩm,hàng hóa của mình thì trước hết phải nhận diện đầy đủ cả 4
loại đối thủ cạnh tranh trên, đồng thời phải phân tích kĩ lưỡng những
thay đổi trong quyết định mua hàng của khách hàng liên quan đến sự
thay đổi trong các quyết định của đối thủ cạnh tranh.
2. Công chúng trực tiếp.
Những lực lượng này có thể biểu hiện sự quan tâm, ủng hộ, thiện cảm…
khác nhau đối với công ty. Là một nhóm bất kì quan tâm thực sự hay có thể
sẽ quan tâm hoặc có thể có khả năng đạt tới những mục tiêu mà doanh
nghiệp đặt ra.
 Lực lượng này có thể tạo thuận lợi hoặc có thể gây khó khăn cho
doanh nghiệp trong nỗ lực marketing để đáp ứng thị trường.
 Công chúng trực tiếp được chia làm 3 mức độ:
Công chúng tích cực là những nhóm quan tâm đến công ty
đến công ty với thái độ thiện chí.
Công chúng tìm kiếm là nhóm chưa quan tâm nên doanh
nghiệp đang tìm kiếm sự quan tâm của họ.
Công chúng không mong muốn là nhóm có thể tẩy chay công
ty.
 Các công ty trực tiếp tác động đến hoạt động kinh doanh

Mỗi loại khách hàng trên có hành vi mua sắm khác nhau nên sự tác
động của khách hàng tới các doanh nghiệp là không giống nhau.
Doanh nghiệp phải nghiên cứu kĩ từng khách hàng, thị trường để có
thể đáp ứng họ một cách tốt nhất.
B. PHÂN TÍCH THỊ TRƯỜNG KINH DOANH
Phân tich thị trường là quá trình phân tích các thông tin về các yếu tố cấu thành thị
trường nhằm tìm hiểu quy luật vận động và các yếu tố ảnh hưởng đến thị trường
trên cơ sở đó đề xuất ra các chiến lược kinh doanh.
Ta tiến hành phân tích thị trường tập trung chủ yếu vào 3 nhân tố sau:
• Xác định thái độ người tiêu dùng
• Xác định kết cấu thị trường và thị trường và thị trường mục tiêu
• Phân tích các hướng tăng trưởng và thâm nhập thị trường
I. Xác định thái độ người tiêu dùng
Cần phải tìm hiểu trước thị trường người tiêu dùng và hành vi mua sắm của
người
tiêu dùng thì mới có thể xây dựng được những kế hoạch Marketing có căn
cứ.
Hành vi của người mua chịu ảnh hưởng của bốn yếu tố chủ yếu: Văn
hóa, xã hội, cá nhân, và tâm lý. Tất cả những yếu tố này đều cho ta những
căn cứđể biết cách tiếp cận và phục vụ người mua một cách hiệu quả hơn.
Những người làm Marketing phải nghiên cứu những mong muốn, nhận thức,
sở thích và các hành vi lựa chọn và mua sắm của những khách hàng mục
tiêu. Việc nghiên cứu như vậy sẽ cho ta những gợi ý để phát triển sản phẩm
mới, tính năng của sản phẩm, xác định giá cả, các kênh,để phục vụ tốt hơn
đối với người tiêu dùng.Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi người tiêu dùng
bao gồm: Văn hóa, Nền văn hóa Xã hội, nhóm tham khảo cá nhân, tuổi và
giai đoạn của chu kì sống, tâml lí, nhánh văn hóa, nghề nghiệp, động cơ
người mua, hoàn cảnh kinh tế, nhận thức, lối sống, hiểu biết.
 Văn hóa
Nền văn hóa là yếu tố quyết định cơ bản nhất những mong muốn và hành

thị trường tốt cho nhà ở, quần áo đẹp, đồ gỗ và thiết bị tốt.
. Tầng lớp trung lưu Tầng lớp trung lưu là những người công
nhân cổ trắng và xanh có mức lương trung bình, sống ở khu khá
hơn của thành phố. Họ thường mua những sản phẩm phổ biến để
theo kịp xu hướng phát triển của xã hội. Họ thường quan tâm đến
ô tô, thời trang và quan tâm đến những nhãn hiệu tốt hơn, một
ngôi nhà đẹp hơn hàng xóm. Họ thường tin tưởng và chi nhiều
cho con cái và hướng chúng vào đại học
Tầng lớp công nhân Tầng lớp công nhân gồm những công
nhân cổ xanh có mức lương trung bình có lối sống theo lối sống
của tầng lớp công nhân, bất kể thu nhập, trình độ hay công
việc.Họ sử dụng những đồ dùng không quá xa xỉ và chi tiêu ở
mức tiếp kiệm.
Tầng lớp hạ lưu lớp Tầng lớp hạ lưu lớp trên là những người
đi làm, không sung túc, mức sống của họ cao hơn người nghèo
khổ một chút . Họ làm những công việc phổ thông, lương thấp.
Tầng lớp này thường được học hành không đầy đủ. Họ chủ yếu
tiêu dùng những hàng hóa thiết yếu và không nghĩ đến những thứ
xa hoa, giải trí đắt tiền.
Tầng lớp hạ lưu lớp Tầng lớp hạ lưu lớp dưới là những người
hưởng trợ cấp, bị nghèo túng không có việc làm. Phần lớn họ
trông chờ vào trợ cấp xã hội. Tầng lớp này thường chỉ mong
muốn được ăn uống đầy đủ.
 Gia đình
Các thành viên trong gia đình là nhóm tham khảo có ảnh hưởng
lớn nhất.Có 2 gia đình trong đời sống người mua là:
• Gia đình định hướng: Bố mẹ là người được định hướng
đối với tôn giáo, kinh tế, chính trị, long tự trọng và tình yêu.
Ảnh hưởng của bố mẹ ở gia đình này đối với hành vi mua
của con cái là rất lớn.

Các doanh nghiệp có hàng hóa nhạy cảm phải thường xuyên theo dõi xu
hướng thu nhập cá nhân,số tiền tiết kiệm, lãi suất. Nếu các chỉ số kinh tế
có sự suy thoái tạm thời thì những người làm marketing có thể tiến hành
thiết kế lại, xác định lại vị trí và định giá lại sản phẩm để tiếp tục đảm bảo
giá trị cho khách hàng mục tiêu
 Lối sống
Những người xuất thân từ một nhánh văn hóa, tầng lớp xã hội và cùng
nghề nghiệp có thể có những lối sống hoàn toàn khác nhau. Lối sống của
một người được thể hiện trong hoạt động, sự quan tâm và ý kiến của
người đó. Những người làm marketing sẽ tìm kiếm những mối quan hệ
giữa sản phẩm của mình với lối sống.
 Nhân cách và ý niệm của bản thân
Mỗi người đều có nhân cách khác biệt và ảnh hưởng đến hành vi của
người đó. Có mối quan hệ chặt chẽ giữa nhân cách với các lựa chọn sản
phẩm và nhãn hiệu.
 Những yếu tố tâm lý
Việc mua sắm của con người còn chịu ảnh hưởng của bốn yếu tố tâm lý
là: Động cơ, nhận thức, tri thức, niềm tin và thái độ
Động cơ: Tại thời điểm nào con người cũng có nhu cầu như đói
khát hay những nhu cầu xuất phát từ yếu tố tâm lí như nhu cầu
được thừa nhận, được khẳng định mình, được kính trọng. Một
nhu cầu sẽ trở thành động cơ khi nó đủ mạnh. Động cơ thôi thúc
con người ta hành động để thõa mãn các nhu cầu.
Nhận thức
Một người có động cơ sẽ luôn sẵn sang hành động nhưng sẽ
hành động như thế nào còn chịu sự ảnh hưởng của nhận thức.
Nhận thức không chỉ pphuj thuộc vào tác nhân vật lý mà còn phụ
thuộc vào quan hệ của nhân tố đó với môi trường xung quanh.
Người làm marketing phải cố gắng thu hút sự chú ý của người tiêu
dùng.

doanh nghiệp trong tương lai
Để lựa chọn thị trường mục tiêu, các nhà doanh nghiệp thường sử dụng phương pháp lập
bảng so sánh, đánh giá thông qua các tiêu chuẩn và trên cơ sở đó phân loại thị trường và
lựa chọn thị trường mục tiêu. những chỉ tiêu thường được sử dụng để điều tra thị trường và
lựa chọn thị trường mục tiêu là:
- Khả năng sản xuất và cung ứng tại chỗ trên các thị trường hiện tại
- Số cầu của người tiêu dùng đối với sản phẩm này
- Khả năng tiêu thụ của người tiêu dùng
- Thái độ của người tiêu dùng đối với sản phẩm đó
III. Phân tích các hướng tăng trưởng và thâm nhập của thị trường
các bộ phận của thị trường luôn luôn ở thế cân bằng động, thường xuyên chuyển hóa và có
quy mô không cố định. Trong quá trình kinh doanh, quy mô của thị trường mục tiêu cũng
chuyển hóa. Nếu doanh nghiệp làm tốt công tác quản lí tiếp thị quy mô của thị trường mục
tiêu có thể mở rộng, nghĩa là có thể thôn tính phần thị trường của các đối thủ cạnh tranh và
hoặc thâm nhập vào phần thị trường không tiêu dùng tương đối. Ngược lại quy mô thị
trường mục tiêu của doanh nghiệp sẽ bị thu hẹp lại. Do vậy để tồn tại và phát triển việc
nghiên cứu và phân tích các hường thâm nhập thị trường là một việc quan trọng của doanh
nghiệp khi xây dựng và lựa chọn phương án kinh doanh. Quá trình phân tích được tiến
hành theo 3 nội dung:
 Phân tích và lựa chọn các hướng tăng trưởng thị trường theo lĩnh vực kinh tế.
Phương pháp phân tích là lập ma trận dựa trên hai yếu tố: vị trí cạnh tranh của
doanh nghiệp trên thị trường và chu kì đời sống của sản phẩm. Ma trận phân tích có
hình thức sau:
Vị trí cạnh
tranh
Chi phối Phát triển tất yếu
Mạnh
Trung bình Phát triển chọn lọc
Yếu Rút lui
Triển khai Tăng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status