PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TẠI NGÂN HÀNG KIÊN LONG CHI NHÁNH SÀI GÒN - Pdf 63

PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
TẠI NGÂN HÀNG KIÊN LONG CHI NHÁNH SÀI GÒN
4.1. PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG BÊN NGOÀI.
4.1.1. Yếu tố kinh tế.
4.1.1.1. Cơ cấu kinh tế.
Việc phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn TP.HCM luôn gắn liền với tổng thể phát
triển kinh tế - xã hội khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam và cả nước. Cơ cấu kinh tế
TP.Hồ Chí Minh đã và đang chuyển dịch theo hướng gia tăng tỷ trọng khu vực công
nghiệp và dịch vụ, đẩy mạnh phát triển kinh tế hướng mạnh về xuất khẩu. Theo quyết định
số 2425/QĐ-UBND và quyết định 115/2006/QĐ-UBND năm 2006 về hỗ trợ chuyển dịch
cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế công nghiệp-phát triển công nghiệp hiệu quả
cao trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2006-2010, thì những thành tựu mà
TP.Hồ Chí Minh đạt được là không nhỏ. Thành phố đã đóng góp hơn 20%GDP của cả
nước, 30% giá trị sản xuất công nghiệp, 28% giá trị dịch vụ, 30-35% kim ngạch xuất nhập
khẩu, 30% tổng thu ngân sách và 20% tổng vốn đầu tư của cả nước. Tổng tài sản của các tổ
chức tín dụng trên địa bàn thành phố đến hết năm 2009 đạt 1.310.390 tỷ đồng. Tỷ lệ thanh
toán qua hệ thống ngân hàng chiếm khoảng 87%. Ngoài những lợi thế nêu trên, thành phố
còn là nơi hội tụ nhiều yếu tố để trở thành một trung tâm tài chính lớn trong khu vực với hệ
thống cảng biển nối trực tiếp với các nước. Tổng dư nợ cho vay, vốn huy động của các
ngân hàng cộng thêm số vốn trên thị trường chứng khoán và số vốn huy động của thị
trường bảo hiểm thì tổng số tài sản tài chính của TP.Hồ Chí Minh chiếm gần 50% tổng tài
sản tài chính của cả nước. Do vậy, thành phố đã và đang tiến hành lập đề án xây dựng
thành phố thành trung tâm tài chính đạt tầm vóc quốc tế.
Bảng 4.1: Bảng cơ cấu kinh tế của thành phố trong 3 năm 2008-2010
ĐVT: %
2008 2009 2010
Nông-lâm-ngư 3.9 1.3 1.2
Công nghiệp-xây dựng 42,4 43,9 44,8
Thương mại- dịch vụ 53,7 54.8 54
(Nguồn: Tổng hợp từ các báo cáo thường niên)
Với đà phát triển nhanh, đóng góp của ngành dịch vụ và công nghệ cao trong GDP

USD/năm, cao hơn nhiều so với trung bình cả nước là 1168 USD/năm. Tổng GDP cả năm
2010 đạt 418.053 tỷ đồng (tính theo gía thực tế khoảng 20,902 tỷ USD), tốc độ tăng trưởng
đạt 11.8%. Với mục tiêu tăng trưởng GDP hàng năm của thành phố là 12%/năm thì trong
những năm qua tốc độ phát triển kinh tế đạt được như sau:
Bảng 4.2: Tốc độ phát triển của Thành phố Hồ Chí Minh
qua 3 năm 2008-2010
Năm 2008 2009 2010
GDP 10,7 % 8,5% 11,8%
CPI 8,21% 7,71% 9,58%
Thu nhập/người 2.575 USD 2.060 USD 2.800 USD
(Nguồn: Tổng hợp từ các báo cáo thường niên)
Với điều kiện phát triển kinh tế như hiện nay sẽ tạo điều kiện nâng cao công tác huy
động vốn, công tác cho vay cũng được cải thiện đặc biệt các doanh nghiệp sẽ sử dụng dịch
vụ ngân hàng nhiều hơn.
4.1.1.3 Kim ngạch xuất khẩu.
Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những trung tâm thương mại lớn nhất nước, tập
trung đa số các thành phần kinh tế, các doanh nghiệp chế biến xuất nhập khẩu cũng như
các khu chế xuất ngày càng tăng do sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế điều này giúp cho hoạt
động kinh doanh xuất nhập khẩu ngày càng diễn ra mạnh mẽ hơn. Bên cạnh đó, cảng Sài
gòn, sân bay Tân sơn nhất đã giúp phần nào cho hoạt động giao thương quốc tế nhanh
chóng và thuận lợi hơn.
Bảng 4.3: Tình hình xuất nhập khẩu của thành phố Hồ Chí Minh từ
năm 2008 đến 6 tháng năm 2011
ĐVT: Tỷ USD
Chỉ tiêu Xuất khẩu Nhập khẩu
2008 22.334 18.326
2009 19.99 18.12
2010 20.967 21.063
6 tháng 2011 12.506 12.791
(Nguồn: Tổng hợp từ các báo cáo thường niên)

hướng hiện đại, hoạt động đa năng, đa dạng về sở hữu và loại hình TCTD có quy mô hoạt
động và tiềm lực tài chính mạnh, tạo nền tạo nền tản xây dựng hệ thống các TCTD hiện
đại, đạt trình độ phát triển tiên tiến trong khu vực Châu Á, áp dụng đầy đủ các chuẩn mực
quốc tế về hoạt động ngân hàng, có khả năng cạnh tranh với các ngân hàng trong khu vực
và trên thế giới.
• Hình thành đồng bộ khung pháp lý minh bạch và công bằng nhằm thúc đẩy cạnh
tranh và đảm bảo án toàn hệ thống, áp dụng đầy đủ hơn các thiết chế và chuẩn mực quốc tế
về an tòan đối với hoạt động tiền tệ ngân hàng. Xóa bỏ phân biệt đối xử giữa các TCTD và
loại bỏ các hình thức bảo hộ, bao cấp trong lĩnh vực ngân hàng.
Như vậy với những chính sách mới của Ngân hàng Nhà Nước và chính phủ sẽ tạo
điều kiện cho các ngân hàng Việt Nam phát triển theo hướng năng động, tự chủ và có trách
nhiệm hơn đối với hoạt động kinh doanh. Ngân hàng nào tiên phong đi đầu trong đổi mới
công nghệ, cải tiến phương pháp quản lý thì đây là cơ hội tốt để vươn lên. Ngược lại, sự
cạnh tranh gay gắt trong nền kinh tế hội nhập sẽ không còn chỗ đứng cho những ngân hàng
không chủ động đón đầu các thử thách, những ngân hàng không đổi mới không theo kịp
đối thủ cạnh tranh, không làm hài lòng khách hàng.
* Một số chỉ tiêu phát triển chung của ngành ngân hàng qua 2006-2010
Tăng trưởng vốn huy động bình quân: 18-20%/năm.
Tăng trưởng tín dụng bình quân: 18-20%/năm.
Tỷ trọng nguồn vốn trung và dài hạn trong tổng vốn huy động: 33-35%.
Tăng trưởng doanh số thanh toán qua ngân hàng: 25-30%.
Tỷ lệ nợ xấu: 5-7%.
Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu: >=8%.
(Nguồn : Ngân hàng Nhà Nước.)
4.1.3. Văn hoá – xã hội.
4.1.3.1. Quy mô dân số.
Theo kết quả điều tra dân số ngày 01/04/2009 Thành phố Hồ Chí Minh có dân số
7.162.864 người chiếm 0,6% diện tích và 8,34% dân số của Việt Nam nhưng chiếm tới
20,2% tổng sản phẩm, 27,9% giá trị sản xuất công nghiệp và 34,9% dự án nước ngoài.
Những năm gần đây dân số thành phố tăng nhanh, trong 10 năm từ 1999-2009 dân số thành

lãi suất cao hơn hoặc khi họ đổi ngoại tệ thường đến thích đến các tiệm vàng hơn đến ngân
hàng
4.1.4. Đối thủ cạnh tranh.
* Bưu điện.
Hiện nay bưu điện xin phép chính phủ kinh doanh, hoạt động như ngân hàng tuy nhiên
chính phủ chưa cho phép, thế nhưng trong tương lai có sự thay đổi. Nếu được cho phép,
bưu điện sẽ thực hiện một số nghiệp vụ của ngân hàng như trích tiền gửi trả tiền điện thoại,
nước, và một số tiện ích khác thì một số khách hàng của ngân hàng sẽ sử dụng các tiện ích
mà bưu điện cung cấp thêm vào đó bưu điện có công nghệ hiện đại, thường xuyên được cải
tiến và đầu tư, thời gian làm việc lâu hơn các ngân hàng là một lợi thế khi cạnh tranh.
* Ngân hàng thương mại cổ phần.
Vì là một trong những trung tâm thương mại sầm uất nhất Việt nam nên thành phố Hồ
Chí Minh tập trung hầu hết gần các ngân hàng từ nhà nước, cổ phần thương mại đến các
ngân hàng có liên doanh nước ngoài cũng như có vốn đầu tư 100% vốn nước ngoài đều có
hội sở hoặc chi nhánh tại thành phố Hồ Chí Minh. Tại thị trường nội địa, Kienlongbank
đang phải cạnh tranh với trên 40 ngân hàng thương mại trong đó có 5 ngân hàng nhà nước
lớn (Vietcombank, BIDV, MHBbank, Agribank, VDB Bank), 37 ngân hàng thương mại cổ
phần... Những ngân hàng thương mại trong nước hiện đang nắm giữ khoảng gần 90% thị
phần (cả tiền gửi và cho vay), trong đó riêng các ngân hàng thương mại nhà nước chiếm
gần 50%. Các ngân hàng thương mại quốc doanh là các NH thuộc sở hữu của nhà nước
hoặc đã cổ phần hóa một phần nhưng chủ sở hữu chính vẫn là nhà nước. Hầu hết các ngân
hàng trong khối này đều có lợi thế về quy mô vốn, với tổng số vốn điều lệ của 4 ngân hàng
lớn tại 31/12/210 là 64.037 tỷ đồng. Tuy nhiên,thị phần tín dụng của khối này đã sụt giảm
đáng kể trong giai đoạn 2005-2010 mặc dù chiếm tỷ trọng cao nhất. Chỉ tính riêng 4 ngân
hàng quốc doanh là BIDV, Argibank, Vietcombank, Viettinbank chiếm tới 48,3% tổng dư
nợ cho vay của toàn ngành trong năm 2010. Phần các ngân hàng nước ngoài (có 4 ngân
hàng liên doanh, 28 chi nhánh ngân hàng nước ngoài, 43 văn phòng đại diện) chỉ chiếm
khoảng dưới 10% thị phần.
Không những ngân hàng cạnh tranh với nhau trong lĩnh vực tiền tệ mà thêm vào đó là
các tổ chức tín dụng, các công ty cho thuê tài chính… cũng là những đối thủ cạnh tranh

• Tính không nhìn thấy: Khách hàng khó nắm trong tay mình dịch vụ, do đó dịch vụ rất
khó đánh giá về chất lượng trong giai đoạn trước khi mua nên khách hàng thường cân nhắc
rất kỹ. Khách hàng chỉ có thể kiểm tra chất lượng dịch vụ trước và sau khi mua.
• Tính tin cậy: Những sản phẩm riêng biệt đòi hỏi phải tạo được niềm tin với khách hàng.
• Tính không riêng lẻ và tính ngắn hạn: Dịch vụ thường là những quy trình hoặc kinh
nghiệm được tạo ra tiêu dùng đồng thời. Do đó nó có tính ngắn hạn, dịch vụ không thể lưu
trữ hoặc tồn kho, vì thế cần có những kênh phân phối hiệu quả để đảm bảo dịch vụ tạo ra
theo yêu cầu.
Bằng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên thuận tiện các khách hàng đến giao dịch đối với
bộ phận thanh toán quốc tế để thu thập ý kiến khi khách hàng, thống kê trên 56 mẫu cho
thấy kết quả đánh giá về mức độ hài lòng đối với ngân hàng như sau:
Bảng 4.4: Tổng hợp ý kiến của khách hàng về sản phẩm
Chỉ tiêu đánh giá
KẾT QUẢ
Số lần lựa chọn % Xếp hạng
Lãi suất, phí 45 80,4 2
Hình thức dịch vụ 20 35,7 7
Mức đáp ứng nhu cầu 37 66,1 4
Thủ tục. 46 82,1 1
Thái độ phục vụ 40 71,4 3
Uy tín, qui mô của ngân hàng 32 57,1 6
Khác 36 64,3 5
Nguồn : Kết quả phỏng vấn (Theo số liệu 56 khách hàng).(Xem phụ lục)
Từ bảng trên ta thấy có 4 yếu tố mà khách hàng quan tâm khi giao dịch với ngân hàng
thủ tục pháp lý, lãi suất và phí, thái độ phục vụ và mức đáp ứng nhu cầu vì hạn mức tài trợ
không đủ để thực hiện dự án hoặc hợp đồng thì doanh nghiệp phải xin tài trợ nhiều ngân
hàng khác nhau, gây khó khăn. Thêm vào đó là chất lượng phục vụ, lãi suất là điều mà
doanh nghiệp quan tâm. Do đó, việc tạo ra sự linh hoạt trong chính sách lãi suất, biểu phí
dịch vụ làm tăng khả năng sử dụng dịch vụ của khách hàng. Bên cạnh đó chi nhánh cần tạo
đội ngũ nhân viên có trình độ chuyên môn cao, nhiệt tình, chu đáo trong giao dịch với


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status