Kế toán tiêu thụ thành phẩm và xác định kết quả kinh doanh tại Công ty bánh kẹo Hải Châu - Pdf 14

Lời nói đầu
Cùng với xu hớng đang đi lên của thế giới , đất nớc ta càng ngày một đổi thay.
Bắt đầu là việc chuyển đổi từ cơ chế khoán gọn sang cơ chế thị trờng, đến thời điểm
đánh đấu bớc ngoặt lớn trong sự phát triển của lịch sử kinh tế Việt Nam là việc
chuyển đổi kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần có sự quản lý của nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa.
Trớc đây trong cơ chế tập trung quan liêu bao cấp hầu hết các vấn đề của doanh
nghiêp sản xuất nh: Sản xuất cái gì, bao nhiêu, bán ở đâu đều do nhà n ớc chỉ
định nhà nớc toàn quyền quyết định số lãi, phân phối thu nhập của doanh nghiệp ,
thậm chí nếu doanh nghiệp làm ăn thua lỗ thì nhà nớc bù lỗ. Chính vì vậy, hoạt động
kinh doanh của các doanh nghiệp đều thực hiện theo kế hoạch của nhà nớc, mang
nặng tính pháp lệnh, trách nhiệm của doanh nghiệp với kết quả sản xuất kinh doanh
chỉ mang tính hình thức.
Với cơ chế mới các doanh nghiệp đã thực sự vận độnh để tồn tại và phát triển
bằng thực lực của mình. Các doanh nghiệp là đơn vị kinh tế độc lập tự chủ về tài
chính, tự hạch toán tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động kinh doanh của mình:
sản xuất sản phẩm gì, khối lợng là bao nhiêu, tiêu thụ chúng nh thế nào là do doanh
nghiệp tự quyết định.
Để tồn tại và phát triển trong cơ chế thị trờng một trong những điều kiện quyết
định các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh là phải tiêu thụ đợc sản phẩm của mình.
Có tiêu thụ đợc sản phẩm thì doanh nghiệp mới thu hồi đợc vốn, bù đắp đợc chi phí
bỏ ra, thu đợc lãi để có thể tái sản xuất hoặc tích luỹ để đầu t mở rộng qui mô sản
xuất. Vì vậy sản xuất và tiêu thụ thành phẩm là vấn đề quan tâm hàng đầu của mỗi
doanh nghiệp, bởi nó quyết định sự tồn tại hay phá sản của mỗi doanh nghiệp.
Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là một quá trình liên tục từ
khâu cung ứng, tổ chức sản xuất, đến tiêu thụ sản phẩm tạo thành một vòng quay của
vốn.Tất cả các khâu đều hớng vào mục tiêu là tiêu thụ đựoc sản phẩm. Vì vậy để sản
1
xuất và tổ chức công tác tiêu thụ nh thế nào đó cho phù hợp với điều kiện cụ thể của
doanh nghiệp cũng nh nhu cầu thị trờng, thì các nhà quản lý doanh nghiệp buộc phải
nghiên cứu phân tích, đánh giá nhu cầu thị trờng, từ đó lựa chọn đợc phơng án kinh

Phần III: Một số ý kiến đề xuất nhằm hoàn thiện kế toán tiêu thụ thành
phẩm va xác định kết quả kinh doanh ở công ty bánh kẹo Hải Châu.
Phần I
3
Lý luận chung về hạch toán kế toán tiêu thụ
thành phẩm và xác định kết quả kinh doanh
trong doanh nghiệp sản xuất
I. Những vấn đề chung về tiêu thụ thành phẩm Và xác định
kết quả kinh doanh trong các doanh nghệp sản
xuất
1. Đặc điểm và vai trò của quá trình tiêu thụ sản phẩm trong các doanh
nghiệp sản xuất kinh doanh
Tiêu thụ sản phẩm có tác dụng nhiều mặt đối với lĩnh vực sản xuất vật chất,
tiêu thụ là giai đoạn cuối cùng của quá trình tuần hoàn vốn sản xuất kinh doanh.
Trong tiêu dùng, quá trình tiêu thụ cung cấp hàng hoá, đáp ứng mọi nhu cầu của xã
hội.
Trong nền kinh tế thị trờng, chức năng của doanh nghiệp sản xuất là sản xuất
hành hoá phục vụ nhu cầu tiêu dùng của xã hội, bao gồm các khâu cung ứng, sản
xuất, tiêu thụ. Vì vậy các doanh nghiệp không những có nhiệm vụ sản xuất ra thành
phẩm mà còn phải tổ chức tiêu thụ đợc sản phẩm trên thị trờng mới thực hiện đầy đủ
chức năng của mình. Trong quá trình lu chuyển vốn, tiêu thụ là khâu giữ vị trí quan
trong trực tiếp thực hiện nhiệm vụ kinh doanh của doanh nghiệp, các khâu cung ứng
và sản xuất sản phẩm đều phụ thuộc vào việc sản phẩm có thể tiêu thụ đợc hay
không. Vì vậy có thể nói tiêu thụ là cơ sở để bảo toàn và phát triển vốn kinh doanh,
quyết định sự thành bại của doanh nghiệp.
Đối với bản thân doanh nghiệp sản xuất, có bán đợc thành phẩm thì mới có thu
nhập để bù đắp chi phí, hình thành kết quả kinh doanh. Thực hiện tốt khâu tiêu thụ,
hoàn thành kế hoạch bán hàng thì doanh nghiệp mới thu hồi vốn, có điều kiện quay
vòng vốn, tiếp tục sản xuất kinh doanh. Ngợc lại nếu sản phẩm không tiêu thụ đợc sẽ
4

ợc thị trờng chấp nhận và lợi nhuận mà doanh nghiệp thu đợc.
Tiêu thụ là quá trình trao đổi để thực hiện giá trị của hàng hoá, là quá trình
doanh nghiệp chuyển hoá vốn từ hình thái hiện vật sang hình thái tiền và hình thái kết
quả tiêu thụ, là kết quả cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh.
Quá trình trao đổi có thể chia ra thành hai giai đoạn:
- Giai đoạn 1: Doanh nghiệp sản xuất sản phẩm cho khách hàng, giai đoạn này bên
bán căn cứ và hợp đồng kinh tế đã ký kết để giao hàng cho ngời mua. Giai đoạn này
phản ánh một mặt quá trình vận động của hàng hoá nhng cha phản ánh đợc kết quả
quá trình tiêu thụ vì cha có cơ sở đảm bảo quá trình tiêu thụ đã hoàn tất.
- Giai đoạn 2: Khách hàng thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán tiền hàng. Đây là
giai đoạn hoàn tất của quá trình tiêu thụ, là thời điểm chuyển giao quyền sở hữu về
sản phẩm, dịch vụ
Doanh thu bán hàng đợc xác định và doanh nghiệp có thu nhập để bù đắp
những chi phí đã bỏ ra và hình thành nên kết quả tiêu thụ.
Xét về mặt hành vi, qúa trình tiêu thụ phải có sự thoả mãn trao đổi giữa ngời
mua và ngời bán, ngời bán đồng ý bán, ngời mua đồng ý mua và chấp nhận thanh
toán.
Xét về mặt bản chất kinh tế, bán hàng là quá trình có sự thay đổi về quyền sở
hữu hàng hoá. Sau khi bán hàng ngời bán thu đợc tiền nhng mất quyền sở hữu còn
ngời mua mất tiền để có đợc quyền sở hữu hàng hoá.
Trong quá trình tiêu thụ doanh nghiệp xuất thành phẩm giao cho khách hàng
và nhận lại một khoản tiền tơng ứng với giá bán của số hàng đó gọi là doanh thu bán
hàng. Với chức năng trên, có thể thấy tiêu thụ có ý nghĩa rất quan trọng đối với mọi
doanh nghiệp sản xuất.
Các phơng thức tiêu thụ
Hiện nay để đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm các doanh nghiệp có thể
sử dụng nhiều phơng thức bán hàng phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh, mặt
6
hàng tiêu thụ của mình. Công tác tiêu thụ phẩm trong doanh nghiệp sản xuất có thể
tiến hành theo các phơng thức sau:

doanh.
2. Kết quả kinh doanh và phơng pháp xác định kết quả kinh doanh
a. ý nghĩa việc xác định kết quả kinh doanh
Trong nền kinh tế thị trờng, ngoại trừ một số doanh nghiệp công ích, mục đích
kinh doanh là lợi nhuận. Đấy là mục tiêu hàng đầu chi phối mọi hoạt động của doanh
nghiệp. Để biết đợc doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả hay không, lợi nhuận là bao
nhiêu, cao hay thấp, doanh nghiệp phải tính toán để xác định kết quả kinh doanh của
mình.
Kết quả kinh doanh là kết quả cuối cùng mà doanh nghiệp hớng tới, mọi chính
sách biện pháp của doanh nghiệp đều xoay quanh vấn đề làm thế nào để có đợc kết
quả kinh doanh tốt nhất. Thông qua việc xác định kết quả doanh nghiệp sẽ tìm ra đợc
con đờng, phơng hớng cần thiết để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của mình.
Xác định đúng đắn, chính xác kết quả kinh doanh là cơ sở để đánh giá hiệu
quả hoạt động của doanh nghiệp, thực hiện nghĩa vụ của mình với Nhà nớc, giải
quyết hài hoà mối quan hệ lợi ích kinh tế giữa lợi ích của Nhà nớc với lợi ích của tập
thể và cá nhân ngời lao động. Xác định đúng đắn kết quả kinh doanh sẽ giúp
doanh nghiệp đặt ra các phơng hớng phấn đấu phù hợp với khả năng tạo điều kiện
cho doanh nghiệp hoạt động tốt ở các kỳ sau, cung cấp số liệu cho bên đối tác có liên
quan ( các nhà đầu t, khách hàng) nhằm thu hút đầu t, cải thiện và nâng cao uy tín
của doanh nghiệp đối với bạn hàng, với ngời lao động.
b. Kết quả tiêu thụ và phơng pháp xác định kết quả kinh doanh
+. Kết quả tiêu thụ
8
Kết qủa tiêu thụ là chênh lệch giữa doanh thu thuần với trị giá vốn hàng xuất
bán, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp. Trong doanh nghiệp sản xuất,
kết quả tiêu thụ là kết quả chính tạo nên lợi nhuận cho doanh nghiệp. Thông qua việc
xác định kết quả tiêu thụ mà doanh nghiệp có thể biết đợc hiệu quả sản xuất kinh
doanh của mình, khả năng cạnh tranh của sản phẩm, những mặt hàng có hiệu quả cao
cần đẩy mạnh sản xuất và mặt hàng chỉ đạt hiệu quả thấp để có biênj pháp xử lý.
+. Phơng pháp xác định kết quả kinh doanh:

thờng số thành phẩm mỗi lần nhập kho là khác nhau do vậy phải tính toán mới xác
định đợc trị giá vốn sản phẩm sản xuất. Việc tính toán trị giá vốn hàng bán có thể sử
dụng nhiều phơng pháp khác nhau nhng doanh nghiệp đã lựa chọn phơng pháp nào
thì phải đảm bảo sử dụng phơng pháp đó ít nhất trong một niên độ kế toán.
Để xác định trị giá vốn hàng xuất, doanh nghiệp sản xuất có thể dùng giá
thành sản xuất từ phân xởng hoặc nơi sản xuất trực tiếp hoặc giá hạch toán sau đó
điều chỉnh về giá thực tế. Có các phơng pháp sau để tính trị giá hàng xuất:
+Phơng pháp sử dụng hệ số giá
+Phơng pháp Nhập trớc xuất trớc
+Phơng pháp nhập sau xuất trớc
+Phơng pháp thực tế đích danh
+Phơng pháp bình quân gia quyền
- Chi phí bán hàng:
Thành phẩm nếu chỉ dừng ở khâu sản xuất không đa ra tiêu thụ thì sẽ không
đáp ứng đợc nhu cầu xã hội, doanh nghiệp sẽ không có thu nhập để bù đắp chi phí
bỏ ra và tạo ra lợi nhuận để tái sản xuất mở rộng. Vì vậy bán hàng là khâu quan trọng
đa sản phẩm từ sản xuất đến tiêu dùng, từ đó giá trị sản phẩm mới đợc thực hiện. Nh-
ng để thực hiện đợc tiêu thụ phải bỏ ra một số chi phí nhất định về lao động, nguyên
vật liệu Những chi phí này gọi là chi phí bán hàng.
Chi phí bán hàng là biểu hiện bằng tiền của những lao động sống và những lao
động vật hoá cần thiết để tiêu thụ thành phẩm, hàng hoá, dịch vụ. Hiểu một cách đơn
giản chi phí bán hàng là những chi phí có liên quan đến quá trình tiêu thụ phát sinh ở
khâu vận chuyển, bốc dỡ, quảng cáo
Chi phí bán hàng đợc phân thành các khoản mục:
+ Chi phí nhân viên
10
+ Chi phí vật liệu, bao bì
+ Chi phí công cụ, đồ dùng
+ Chi phí khấu hao tài sản cố định
+ Chi phí dịch vụ mua ngoài

chỉ tiêu lãi thuần từ hoạt động kinh doanh. Biện pháp cơ bản để nâng cao hiệu quả
kinh doanh là tăng thu nhập, giảm chi phí.
Kết quả = Thu nhập Chi phí
Công thức trên cho ta thấy nếu chi phí càng nhỏ thì lãi thu đợc sẽ càng lớn và
ngợc lại. Vì vậy để nâng cao hiệu quả kinh doanh thì nhiệm vụ thiết yếu đặt ra là phải
tiết kiệm chi phí.
a. Các biện pháp tăng thu nhập
Để tăng thu nhập, cần tích cực áp dụng các biện pháp để tăng doanh số bán ra
đẩy mạnh khối lợng tiêu thụ đồng thời cũng cần giảm tối thiểu các khoản giảm trừ
doanh thu. Trong các khoản giảm trừ doanh thu, doanh nghiệp cần đặc biệt chú ý đến
các khoản giảm trừ do hàng kém phẩm chất, sai quy cách, do vi phạm hợp đồng kinh
tế. Đây là các khoản giảm trừ doanh thu một cách tiêu cực nên doanh nghiệp cần có
biện pháp hạn chế một cách tối đa các khoản này. Bên cạnh đó, phải quản lý tốt khâu
kiểm định chất lợng sản phẩm, cố gắng đáp ứng nhu cầu trong hợp đồng.
b. Các biện pháp tiết kiệm chi phí:
Chi phí kinh doanh là các khoản chi phí cần thiết bỏ ra trong quá trình kinh
doanh. Giảm chi phí không có nghĩa là cắt giảm chi phí mà vấn đề cần thiết là tiết
kiệm chi phí. Đi đôi với việc giảm chi phí thì tốc độ tăng doanh thu phải cao thì mới
tạo ra sự chênh lệch lớn giữa doanh thu và chi phí, mới đảm bảo sản xuất có hiệu quả.
Chi phí trong kinh doanh bao gồm cả chi phí để sản xuất sản phẩm, do vậy
biện pháp hạ giá thành cũng góp phần làm giảm chi phí một cách tích cực trong tr-
ờng hợp không ảnh hởng đến chất lợng sản phẩm. Việc phấn đấu hạ giá thành đòi hỏi
12
doanh nghiệp phải nghiên cứu để có cơ cấu giữa các loại chi phí ( chi phí khả biến,
chi phí bất biến ) hợp lý, cơ sở cho việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
II. Phơng pháp Kế toán tiêu thụ và xác định kết quả kinh
doanh trong các doanh nghiệp sản xuất
1. Nhiệm vụ của kế toán tiêu thụ và xác định kết quả kinh doanh:
Kế toán trong doanh nghiệp là một công cụ quản lý, là khoa học thu nhận xử lý
và cung cấp thông tin về tài sản, nguồn vốn và tình hình biến động của tài sản trong

- Tổ chức hệ thống chứng từ ban đầu và trình độ luân chuyển chứng từ hợp lý.
Sử dụng các chứng từ hợp pháp, luân chuyển khoa học hợp lý, tránh trùng lặp, bỏ sót,
đảm bảo yêu cầu quản lý để nâng cao hiệu qguả công tác kế toán. Lựa chọn hình
thức sổ kế toán phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
- Xác định đúng và tập hợp đầy đủ chi phí phát sinh trong khâu tiêu thụ và
khâu quản lý doanh nghiệp, phân bổ chi phí hợp lý và kết chuyển đúng trị giá vốn
hàng xuất bán để xác định kết quả kinh doanh.
2. Kế toán nghiệp vụ tiêu thụ
a. Tài khoản sử dụng
*Nhóm tài khoản phản ánh doanh thu:
Loại tài khoản này phản ánh toàn bộ doanh thu bán hàng thực tế của doanh
nghiệp đạt đợc trong kỳ kế toán.
Doanh thu bán hàng là toàn bộ số tiền bán sản phẩm, hàng hoá, tiền cung cấp
dịch vụ cho khách hàng, bao gồm cả phụ thu và phí thu thêm ngoài giá bán.
Loại tài khoản doanh thu có 4 tài khoản, chia thành 2 nhóm:
Nhóm tài khoản 51-Doanh thu, có 2 tài khoản:
+TK 511- Doanh thu bán hàng;
14
+TK 512- Doanh thu bán hàng nội bộ.
-TK 511- Doanh thu bán hàng: Phản ánh doanh thu bán hàng thực tế của doanh
nghiệp thực hiện trong một kỳ hạch toán
-TK 512- Doanh thu bán hàng nội bộ: Phản ánh doanh thu của số sản phẩm,
hàng hoá, dịch vụ đã tiêu thụ trong nội bộ các doanh nghiệp.
Nhóm tài khoản 53 Hàng bán bị trả lại và giảm giá, có 2 tài khoản:
+TK 531- Hàng bán bị trả lại;
+TK 532- Giảm giá hàng bán.
-TK 531- Hàng bán bị trả lại: Phản ánh doanh thu đã bị khách hàng trả lại do các
nguyên nhân vi phạm cam kết, vi phạm hợp đồng kinh tế, hàng bị mất, kém phẩm
chất, không đúng chủng loại, quy cách.
-TK 532- Giảm giá hàng bán: Phản ánh các khoản giảm giá, bớt giá của việc bán

Chỉ tiêu lãi gộp và kết quả tiêu thụ thành phẩm không đợc phản ánh rõ trên tài khoản
mà đợc tính toán và thể hiện trên báo cáo kết quả kinh doanh đợc lập định kỳ.
Các chỉ tiêu trên cần đợc kế toán phản ánh tổng hợp cũng nh chi tiết cho mỗi
loại thành phẩm
b. Kế toán nghiệp vụ tiêu thụ theo phơng pháp kê khai thờng xuyên ở các
doanh nghiệp sản xuất
Phơng thức tiêu thụ trực tiếp
Sơ đồ hạch toán tiêu thụ thành phẩm theo phơng pháp tiêu thụ trực tiếp
TK154 TK 155 TK 632 TK 531, 532 TK 511 TK111,112,131
(1) (2) (6) (4)
TK911 TK333.1
(3) (8) (7) (5)
16
(1)- Nhập kho thành phẩm
(2)- Căn cứ vào hoá đơn phản ánh giá thành thực tế thành phẩm giao cho khách hàng
(3)- Xuất thành phẩm bán trực tiếp không qua kho
(4)- Doanh thu bán hàng cha có thuế GTGT
(5)- Thuế GTGT đầu ra phải nộp
(6)- Kết chuyển các khoản giảm trừ doanh thu bán hàng
(7)- Kết chuyển doanh thu thuần
(8)- Kết chuyển trị giá vốn hàng bán
Phơng thức hàng đổi hàng
Sơ đồ hạch toán tiêu thụ thành phẩm theo phơng thức hàng đổi hàng
TK 155,156 TK 632 TK 911 TK 511 TK 131 TK131,153,211
(1) (5) (4) (3a) (3b)
TK 333.1 TK 133.1
(2a)
(1)- Xuất kho thành phẩm giao cho khách
(2a)- Căn cứ vào hoá đơn GTGT khi đa thành phẩm đi đổi kế toán phản ánh doanh
thu bán hàng và thuế GTGT

(5) (4) (6)
TK 711
(1)- Trị giá thực tế thành phẩm xuất bán trả góp
(2)- Doanh thu bán hàng thu tiền lần đầu
(3)- Lãi trả góp
(4)-Tổng số tiền còn phải thu của ngời mua
(5)- Thuế GTGT phải nộp
(6)- Thu tiền của ngời mua ở các kỳ sau
(7)- Kết chuyển doanh thu thuần
(8)- Kết chuyển trị giá vốn hàng bán
Phơng thức tiêu thụ nội bộ
Sơ đồ hạch toán tiêu thụ thành phẩm nội bộ
TK 154 TK 155 TK 632 TK 531,532 TK 512 TK111,112,136
(1) (2) (5) (4)
19
(3)
(3) TK 911 TK333.1
(7) (6)
(1)- Nhập kho thành phẩm
(2)- Căn cứ vào hoá đơn phản ánh giá thành thực tế của thành phẩm tiêu thụ
(3)- Xuất bán thành phẩm trực tiếp không qua kho
(4)- Doanh thu tiêu thụ thành nội bộ, cha có thuế GTGT
(5)- Kết chuyển các khoản làm giảm doanh thu
(6)- Kết chuyển doanh thu thuần
(7)- Kết chuyển trị giá vốn hàng bán.
Kế toán chi phí bán hàng.
Kế toán sử dụng TK 641 để hạch toán chi phí bán hàng phát sinh trong quá trình
tiêu thụ thành phẩm.
Tài khoản này gồm các tài khoản cấp hai sau:
- TK 641.1 chi phí nhân viên -TK 641.5 chi phí bảo hành

TK 133
TK 152,153 TK 642 TK111,112
Chi phí vật liệu dụng cụ Các khoản thu giảm chi
TK 334,338 TK 911
Chi phí tiền lơng và các khoản K/c CF QLDN
trích theo lơng
TK 214 TK 142
Chi phí khấu hao TSCĐ
TK 142,335
Chi phí phân bổ dần
21
Chi phí trích trớc
TK 133
Thuế GTGT không đợc khấu trừ,
nếu đợc tính vào CF QLDN
TK 336
Chi phí quản lý cấp dới nộp
lên theo quy định
TK 139,159
Dự phòng phải thu khó đòi
Dự phòng giảm giá HTK
TK 111,112,33
Thuế môn bài, thuế đất nộp NSNN
c. Kế toán nghiệp vụ tiêu thụ theo phơng pháp kiểm kê định kỳ ở các doanh
nghiệp sản xuất
Phơng pháp kiểm kê định kỳ là phơng pháp hạch toán căn cứ vào kếy qủa kiểm
kê thực tế phản ánh giá trị hàng tồn kho cuối kỳ trên sổ kế toán tổng hợp và từ đó tính
ra giá trị vật t hàng hoá đã xuất
Không theo dõi thờng xuyên các tài khoản hàng tồn kho mà chỉ phản ánh soó tồn
kho đầu kỳ cuối kỳ.

b. Trình tự kế toán nghiệp vụ tiêu thụ
Kết quả kinh doanh đợc xác định trên cơ sở kết chuyển số liệu từ các tài khoản
doanh thu và chi phí vào tài khoản 911. Trình tự hạch toán đợc thể hiện trên sơ đồ
sau:
Sơ đồ hạch toán xác định kết quả tiêu thụ
TK 632 TK 911 TK 511,512
23
(1) (5)
TK 641,642
(2)
TK 142.2 TK 421
(3) (4) (7)
(6)
(1)-Kết chuyển trị giá vốn hàng bán
(2)- Kết chuyển chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp
(3)-Chi phí chờ kết chuyển
(4)- Kết chuyển chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp
(5)- Kết chuyển doanh thu thuần
(6)- Lãi về tiêu thụ
(7)- Lỗ về tiêu thụ
III. hệ thống sổ chi tiết và tổng hợp kế toán
nghiệp vụ tiêu thụ
1. Kế toán chi tiết
Kế toán chi tiết tiêu thụ là sự chi tiết hoá các thông tin tổng quát đợc hình thành
bởi kế toán tổng hợp nhằm thu thập thông tin rộng rãi hơn cho việc quản lý và kiểm
tra các hoạt động kinh doanh, chi tiết hoá các hớng thành các chỉ tiêu tổng quát và
nghiên cứu các chỉ tiêu đóổ các góc độ khác nhau. Thoả mãn thông tin và nhu cầu
thông tin cho quản lý, cho ngời lao động là mục tiêu chính của kế toán chi tiết.
Kế toán chi tiết tiêu thụ đợc thực hiện trên mẫu sau
24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status