BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HCM
BÁO CÁO TIỂU
LUẬN
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG HỆ
THỐNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY
HẠI CHO NHÀ MÁY GIẤY
GVHD: TH.S VŨ HẢI YẾN
NHÓM 11: LÊ THỊ HOÀI
NGUYỄN THỊ NGỌC MAI
HỒ HOÀNG THÁI
1
CHƯƠNG I
GIỚI THIỆU VỀ NGÀNH SẢN XUẤT GIẤY
1. Giới thiệu ngành sản xuất giấy ở Việt Nam.
Ngành giấy là một trong những ngành được hình thành từ rất sớm tại Việt Nam,
khoảng năm 284. Đây là một trong những ngành quan trọng trong nền kinh tế quốc dân,
đóng góp một phần giá trị GDP của cả nước, phục vụ trực tiếp cho sự phát triển văn hóa,
giáo dục, công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước.
Nhu cầu tiêu dùng giấy cả nước năm 2012 ước khoảng 2,9 triệu tấn giấy các loại.
Trong đó giấy in, giấy viết ước khoảng 585 nghìn tấn, giấy in báo là
70.000 tấn, giấy bao bì công nghiệp là 1,79 triệu tấn, giấy tissue là 83,1 nghìn tấn, v.v
Năm 2013, nhu cầu tiêu dùng giấy các loại của cả nước đạt trên 3 triệu tấn, tăng nhẹ so
với mức tiêu thụ của năm 2012.
Hiện cả nước có khoảng 500 nhà máy giấy, nhưng đa số còn ở quy mô nhỏ và
trung bình, công nghệ đã lỗi thời. Thời gian qua, dù một số dự án lớn trong ngành công
nghiệp giấy được triển khai như dự án nhà máy bột giấy tại Tuyên Quang (công suất
130.000 tấn/năm), nhà máy bột giấy Phương Nam, v.v nhưng theo các đơn vị này thì
cho đến nay các dự án vẫn gặp nhiều khó khăn về vốn, nguyên liệu, v.v
Bộ Công Thương dự báo, năm 2013 sản lượng giấy trong nước dự kiến sẽ đạt 2,18
triệu tấn giấy các loại, tăng 17,7 % so với năm 2012. Cộng thêm khoảng 1,3 triệu tấn giấy
mm đây là nguồn nguyên liệu chủ yếu ở nước ta
● Cây thân thảo : rơm rạ, bã mía, lau sậy là những cây ngắn ngày, hàm lượng lignin thấp,
sơ xợi ngắn
Ở Việt Nam vấn đề trồng rừng đang được đẩy mạnh và do có thành phần hoá học được
liệt kê bên dưới thì việc sử dụng gỗ trong công nghiệp giấy vẫn là vấn đề then chốt
2.2 Vùng nguyên liệu cho c á c nh à m á y giấy:
3
Khả năng đáp ứng nhu cầu thấp và không đồng đều. Vùng nguyên liệu tập trung chủ
yếu ở miền Bắc và miền Trung trong khi năng lực sản xuất lại tập trung phần lớn ở miền
Nam.
Một điểm đáng lưu ý là, trong khi vùng nguyên liệu đều tập trung ở Miền Bắc và
Miền Trung thì năng lực sản xuất giấy tập trung lớn nhất ở Miền Nam. Do vậy, các nhà
máy sản xuất bột từ nguyên liệu nguyên nguyên thủy tại Miền Nam hiện nay đang gặp
vấn đề về nguồn nguyên liệu. Các doanh nghiệp chỉ tập trung sản xuất bột từ giấy phế
liệu. Các nhà máy giấy tại Miền Nam cũng phải nhập khẩu bột giấy với số lượng lớn do ở
Việt Nam chưa có doanh nghiệp sản xuất bột giấy thương mại.
3. Quy trình công nghệ sản xuất giấy.
3.1. Sản xuất giấy từ nguyên liệu.
Các phương pháp chính sản xuất bột giấy gồm: phương pháp hóa học (sulfat,
sulfit…), bán hóa học, nhiệt cơ.
- Phương pháp hóa học:
Sơ chế nguyên liệu → nấu bột → bểchứa → sàng, rửa → tẩy → bột giấy thành
phẩm.
- Phương pháp bán hóa học:
Gỗ nguyên liệu → ngâm tẩm trong điều kiện hóa chất/nấu → bột giấy thành phẩm.
- Phương pháp nhiệt cơ: hiệu suất bột loại này thường cao (85-90%) nhưng sử dụng
nhiều năng lượng. Bột giấy có độ bền không cao, dễ bị ố vàng…
Gỗ nguyên liệu → cắt mảnh → nghiền bột → sàng chọn → bột giấy thành phẩm.
Nguyên lý cơ bản của các phương pháp sản xuất bột giấy bao gồm hoá học, bán
hóa học, hoá nhiệt cơ (bảng 1). Trên thực tế thường kết hợp các phương pháp nêu
3
65-90
-Sunfat NaOH + Na
2
S 75-85
-Soda Na
2
SO
3
+ NaOH 65-85
-Sunfit Mg-Sunfit 60-90
3.Hóa nhiệt cơ
-Sunfat NaOH + Na
2
S 55-60
-Soda Mg – Sulfit 55-70
-Sunfit Sunfit axit 55-70
Hiện nay, trên thế giới khoảng 75% công nghệ sản xuất bột giấy là công nghệ sulfat
và sulfit do các phương pháp này có một số ưu điểm. Bột giấy sản xuất bằng hai công
nghệ này có độ bền, độ trắng cao và cũng có thể sử dụng cho nhiều loại nguyên liệu thô
như: tre, nứa và có khả năng thu hồi hóa chất nấu bằng phương pháp cô đặc – đốt – xút
hóa dịch đen để tái sinh sử dụng lại dung dịch kiềm cho công đoạn nấu.
3.2 Sản xuất giấy từ giấy loại.
Sau khi giấy loại (AOCC) được đánh tơi, lọc nồng độ cao, sàng, lọc nồng độ trung
bình, từ thiết bị phân tách sợi lần 1, dòng bột được chia thành xơ sợi ngắn và xơ sợi dài:
- Xơ sợi ngắn tiếp tục được xử lý dùng để làm lớp giữa tờ giấy.
- Xơ sợi dài tiếp tục được phân tách ở thiết bị phân tách lần hai để lại phân thành
hai loại xơ sợi.
+ Loại dài hơn được gia công tiếp và rồi lại phân thành hai nhóm xơ sợi sau khi
phân tách nóng.
thấp thích hợp khi vào thiết bị tinh lọc và sàng chọn trước khi lên máy xeo.
Sau khi được tinh lọc và sàng tinh thì dòng bột được hoà loãng tới nồng độ khoảng
0,5% rồi bơm vào thùng đầu của máy xeo để xeo giấy.
7
4. Máy móc thiết bị.
Đối với ngành công nghiệp sản xuất giấy và bột giấy thông thường máy móc thiết
bị được đầu tư cho các công đoạn từ khai thác nguyên liệu, nguồn vật liệu thô đến sản
phẩm phụ thuộc vào tính chất công việc ( khai thác, vận chuyển…) và công nghệ sản
xuất.
Các phương tiện vận chuyển có thể là xe ô tô tải, tàu, các loại thuyền bè. Những
phương tiện vận chuyển này cũng được sử dụng để chuyển giấy thành phẩm đến nơi
tiêu thụ.
Các hạng mục công trình chủ yếu sử dụng để sản xuất giấy và bột giấy được trình
bày ở bản 2 và bảng 3 dưới đây:
Bảng 2: Các hạng mục công trình chủ yếu sử dụng để sản xuất giấy và bột giấy.
1. Sản xuất hóa chất
8. Sân bãi nguyên liệu
2. Cơ điện
9. Kho tàng
3. Động lực
10. Bến cảng
4. Sản xuất bột giấy
11. Đường sắt
5. Xeo giấy
12. Đường bộ
6. Hệ thống cầu cống, chuyển tải hơi,
điện nước và hóa chất
13. Điều hành sản xuất( có thể là phòng
điều khiển tự động)
7. Xưởng sửa chữa ô tô và các phân
2. Nguồn gốc chất thải nguy hại
CTNH phát sinh từ các nguồn sau :
Các hoạt đôïng sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp.
Các hoạt động sản xuất nông nghiệp.
Các bệnh viện, trung tâm Y tế.
Các dịch vụ đặc biệt như : các trạm xăng, dầu, các garage bảo trì xe ô tô, cửa hàng
hóa chất BVTV…
Trong sinh hoạt.
Công nghiệp:
Ngành công nghiệp hoá chất (sản xuất ác quy, pin, axít, kiềm, dung môi, sơn keo,
mỹ phẩm, chất tẩy rửa, dược phẩm, thuốc nhuộm, phân hoá học, thuốc trừ sâu…) ngành
chế biến dầu mỏ, ngành dệt nhuộm, ngành thuộc da, ngành chế biến gỗ, ngành luyện kim,
khai khoáng,ngành xi mạ, ngành sản xuất linh kiện điện tử
Bệnh viện:
Do các hoá chất sử dụng trong bệnh viện bao gồm: formaldehit, phenols thường
dùng làm các chất khử trùng, thuỷ ngân thường được dùng trong nhiệt kế, hoặc thiết bị để
đo huyết áp. Có thể là do sự sử dụng một cách lãng phí (sử dụng hoá chất một cách lãng
phí, vứt bỏ các dụng cụ y học như: kim tiêm, gạc, băng y tế…) các bệnh phẩm, các bộ
phận, những chất lỏng của con người.
10
Từ sinh hoạt:
Chủ yếu là do sử dụng không đúng mức, và do sự thải bỏ của các vật dụng sau khi sử
dụng từ các hộ gia đình bao gồm: những nguồn pin cũ, các hoá chất tẩy rửa, dụng cụ y tế,
mĩ phẩm, các chất bảo vệ…
3. Phân loại chất thải nguy hại.
3.1 Phân loại theo khả năng xử lý
Để dễ dàng áp dụng các phương pháp xử lý. Ví dụ như, chất thải có chứa hợp
chất Cr
3+
lớn hơn 1% trọng lượng, bắt buộc phải dùng phương pháp hóa học – oxy hóa để
qua các quá trình bay hơi, lan truyền theo dòng nước, thấm. Nước mặt bị ô nhiễm kéo
theo sự ô nhiễm của đất và không khí. CTNH được chôn lấp ở những bãi rác không hợp
vệ sinh rò rỉ gây ô nhiễm đất, nước mặt và nước ngầm.
CTNH có thể ảnh hưởng trực tiếp qua con người thông qua các tuyến hô hấp, tiêu hóa
hay qua da, mắt.
5. Tổng quan các phương pháp giảm thiểu CTNH.
5.1 Tổng quan phương pháp giảm thiểu chất thải tại nguồn
Giảm thiểu chất thải tại nguồn là các biện pháp quản lý và vận hành sản xuất, thay đổi
quy trình công nghệ sản xuất nhằm giảm lượng chất thải hay độc tính của chất thải.
a. Cải tiến trong quản lý và vận hành sản xuất
Cải tiến cách thức vận hành cần thực hiện trong tất cả các lĩnh vực sản xuất như sản
xuất, bảo trì, vận hành, sử dụng và lưu trữ vật liệu thô, sản phẩm, lưu giữ và quản lý chất
thải. Công tác này sẽ giảm thiểu tối đa việc tạo thành các sản phẩm bị lỗi kỹ thuật, kém
chất lượng cũng như sự rơi vãi của nguyên vật liệu, chất thải trong nhà xưởng. Bên cạnh
đó việc quản lý hợp lý có thể giảm đáng kể sự nhiễm bẩn của nguyên liệu, sản phẩm cũng
như các nguyên liệu không cần thiết trong sản xuất.
b. Thay đổi nguyên liệu đầu vào
12
Thay đổi nguyên liệu có tính nguy hại bằng các thành phần ít độc hơn hay không độc
hại góp phần giảm lượng CTNH sinh ra trong nhà máy. Ví dụ ngành in thay thế mực in
có dung môi hữu cơ bằng mực in có dung môi là nước.
c. Thay đổi về kỹ thuật, công nghệ
Cải tiến quy trình sản xuất: Là cải tiến quy trình vận hành, thiết bị sản xuất và chế độ
bảo trì hợp lý máy móc, thiết bị. Công việc này sẽ giúp giảm thiểu lượng nước thải sinh
ra do có sự cố trong sản xuất cũng như giảm các thao tác thừa và các công đoạn thừa phát
sinh chất thải trong toàn bộ quy trình.
5.2 Phương pháp lưu giữ và phân loại tại nguồn
CTNH sau khi được thải bỏ tại các cơ sở sản xuất sẽ được cơ sở đó phân loại riêng
từng thành phần chất thải nguy hại, chất thải có khả năng tái chế, tái sử dụng, tái sản xuất
tạo ra sản phẩm mới. Từng loại chất thải sau khi được phân loại này được chứa đựng
nhằm làm giảm độc tính của chất thải:
Bảng 4: Các phương pháp xử lý nhằm giảm độc tính chất thải
Quá trình
xử lý
Chất thải công nghiệp Các dạng
chất thải
14
Chất ăn mòn
Hợp chất xyanua
Dung môi halogen
Dung môi phihalogen
Chất hữu cơ clo
Chất hữu cơ khác
Chất thải nhiễm dầu
PCBs
Chất lỏng nhiễm bẩn kim loại
Chất lỏng nhiễm bẩn hữu cơ
Đất ô nhiễm
Chất lỏng
Chất lỏng
Chất rắn hay dạng bùn nhão
Chất khí
Hấp thụ
bằng than
hoạt tính
X X X X X
Trao đổi
ion
X X
Chưng cất X X X X X
b. Kết tủa
Là quá trình chuyển hóa chất hòa tan thành dạng không tan bằng các phản ứng hóa
học tạo tủa hay thay đổi thành phần hóa chất trong dung dịch, thay đổi điều kiện vật lý
của môi trường (hạ nhiệt độ) để giảm độ hòa tan của hóa chất, phần chất rắn tan sẽ kết
tinh. Phương pháp này thường dùng với các phương pháp tách chất rắn như lắng cặn, li
tâm, lọc.
c. Oxy hóa khử
Phản ứng oxy hóa khử là phản ứng trong đó tính chất oxy hóa của chất phản ứng
tăng lên khi tính chất oxy hóa của một chất khác giảm xuống. Chất cho điện tử là chất
khử, chất nhận điện tử là chất oxy hóa. Để thực hiện quá trình oxy hóa khử người ta trộn
chất thải với hóa chất xử lý (tác nhân oxy hóa hay khử) hay cho tiếp xúc các hóa chất ở
dạng dung dịch với hóa chất ở thể khí.
d. Bay hơi
Là làm đặc chất thải dạng lỏng hay huyền phù bằng phương pháp cấp nhiệt để hóa
hơi chất lỏng. Phương pháp này thường dùng trong giai đoạn xử lý sơ bộ để giảm lượng
chất thải cần xử lý cuối cùng.
e. Đóng rắn và ổn định chất thải
Đóng rắn là làm cố định hóa học, triệt tiêu tính lưu động hay cô lập các thành phần
ô nhiễm bằng lớp vỏ bền vững, tạo thành một khối nguyên có tính toàn vẹn cấu trúc cao.
Phương pháp này nhằm giảm tính lưu động của chất nguy hại trong môi trường; làm chất
thải dễ vận chuyển do giảm khối lượng chất lỏng trong chất thải và đóng rắn chất thải;
16
làm giảm bề mặt tiếp xúc chất thải với môi trường tránh thất thoát chất thải do lan truyền,
rò rỉ, hạn chế sự hòa tan, khử độc các thành phần nguy hại.
6.4 Các phương pháp nhiệt
Đốt là quá trình oxy hóa ở nhiệt độ cao bằng oxy không khí. Bằng cách đốt chất
thải ta có thể giảm thể tích của nó đến 80% - 90%. Nhiệt độ buồng đốt phải cao hơn
800
0
C. Sản phẩm cuối cùng của quá trình đốt là các chất không gây hại như nước, CO
Quá trình xử lý sinh học yếm khí là quá trình khoáng hóa nhờ vi sinh vật trong
điều kiện không có oxy. Công nghệ xử lý sinh học yếm khí tạo thành sản phẩm là khí
CH
4
, CO
2
(chiếm thành phần lớn) và H
2
, N
2
, H
2
S, NH
3
.
6.6 Chôn lấp an toàn CTR – CTNH
Chôn lấp là công đoạn cuối cùng không thể thiếu trong hệ thống quản lý CTNH.
Chôn lấp là biện pháp nhằm cô lập chất thải nhằm ngăn chặn sự phát tán chất thải vào
môi trường. Các chất thải nguy hại khi chôn trong bãi chôn lấp cần đáp ứng các tiêu
chuẩn sau:
− Chỉ có chất thải vô cơ (ít hữu cơ);
− Tiềm năng nước rỉ rác thấp;
− Không có chất lỏng;
− Không có chất nổ;
− Không có chất phóng xạ;
− Không có lốp xe.
Thông thường các CTNH được chôn lấp bao gồm:
− Chất thải kim loại có chứa chì;
− Chất thải thành phần có chứa thủy ngân;
− Bùn xi mạ và bùn kim loại;
nguồn gốc sinh học khác. Quá trình nấu bột giấy (bằng phương pháp sunfit hay sunfat)
cũng thải ra các
hợp chất (ở dạng lỏng) chứa lưu huỳnh, đồng thời thải ra khí SO
2
, H
2
S, các mercaptan,
các sunfua
Quá trình tẩy trắng bột giấy gây ô nhiềm môi trường nhiều nhất vì có sử dụng tới clo
(tạo ra một số hoá chất độc hại nhưfurans và dioxins) và các hợp chất của nó như
hypoclorit, clo đioxit, một số hợp chất hữu cơ, kim loại độc hại như arsenic, mangan,
selenium v.v…. Để tẩy trắng 1 tấn bột giấy cần tới 100kg clo và các hợp chất của nó
(trong đó khoảng 50% là clo phân tử). Về mặt công nghệ sản xuất, trong quá trình tẩy
trắng bột giấy, đưa bao nhiêu hợp chất clo vào thì lại thải ra bấy nhiêu. Hiện nay trên thế
giới cũng chưa có công nghệ tái sử dụng Clo trong khâu tẩy trắng bột giấy. Những chất
hữu cơ như lignin, chất bán sợi và các hóa chất dùng để làm phân rã mảnh nguyên liệu
trong nước thải là những tác nhân gây ô nhiễm nặng nếu không thu hồi được dịch đen.
Ngoài ra, trong quá trình xeo bột giấy thành giấy, các nhà máy còn thải ra những sợi
nhỏvà các chất độn như bột đá không chìm trong nước, những chất này khi thải ra sẽ hình
thành các "bãi sợi" hữu cơ, tạo quá trình lên men, tiêu hao ô-xy hòa tan trong nước, tác
động đến sự sống của sinh vật, làm mất cân bằng sinh thái.
20
So với nhiều ngành công nghiệp sản xuất khác, ngành giấy có mức độ ô nhiễm cao và
dễ gây tác động đến con người và môi trường xung quanh do ô nhiễm từ nguồn nước thải
xử lý không đạt yêu cầu. Công nghệ sản xuất giấy ở Việt Nam còn rất lạc hậu. Để sản
xuất ra một tấn giấy thành phẩm, các nhà máy phải sử dụng từ 30-100 m
3
nước, trong khi
các nhà máy giấy hiện đại của thế giới chỉ sử dụng 7-15 m
3
Ngoài ra, trong giai đoạn hoạt động nhà máy sản xuất giấy và bột giấy sẽ phát sinh
các loại chất thải nguy hại khác, bao gồm chất thải từ quá trình bảo quản gỗ, nguyên vật
liệu, bao bì gỗ
Bên cạnh đó, nó còn phụ thuộc vào mức độ cơ khí hoá của trang thiết bị máy móc,
quá trình sản xuất, nguyên liệu sử dụng cũng như khả năng tuần hoàn tái sử dụng nước
cho sản xuất.
Căn cứ theo quyết định 23/2006/QĐ-BTNMT về việc ban hành danh mục các chất
thải nguy hại trong đó có ngành chế biến gỗ và sản xuất giấy, các chất thải nguy hại phát
sinh trong ngành sản xuất giấy được thể hiện trong bảng 5.
Bảng 5: Bảng thống kê các chất thải nguy hại phát sinh trong ngành sản xuất giấy.
Tên chất thải nguy hại Mã chất thải nguy hại
1.Hóa chất có chứa hợp chất Halogen thừa, tràn đổ. 03 02 02
2.Bùn thải từ quá trình xử lý nước thải 12 06 06
3.Dầu động cơ, mỡ bôi trơn máy móc, thiết bị rò rỉ, tràn đổ. 17 02 03
4.Giẻ lau dính dầu 18 02 01
5.Bao bì chứa hóa chất, dầu mỡ thải 18 01 01
6.Mẩu, mắt nguyên liệu thừa có chứa chất bảo quản nguy hại. 03 01 04
2.1 Hóa chất có chứa hợp chất Halogen thừa, tràn đổ.
Các hóa chất có chứa hợp chất halogen phát sinh bao gồm các loại như: Clo, Peroxit,
Clodioxit, Natrihypoclorit phát sinh trong công đoạn nấu, tẩy trắng. Bản chất và tính
chất nguy hại của các hóa chất này được thể hiện trong bảng 6,7,8,9.
Bảng 6: Đặc tính và mức độ nguy hiểm của hóa chất Clo trong sản xuất giấy.
Hình thức sử
dụng
Clo sẽ chuyển giao bột giấy trong các nhà máy như là một chất lỏng gây áp và
nó sẽ bốc hơi trước khi cho bột giấy vào.
Mức nguy hiểm
của phản ứng
- là chất oxi hoá mạnh: nó có thể phản ứng mãnh liệt với các nguyên vật liệu
dễ cháy.
2
là khí ăn
mòn gây phá huỷ và rất độc.
Mức nguy hiểm
tới sức khỏe
- ppm: giới hạn nồng độ này có thể chấp nhận được trong 8 giờ.
- Nồng độ cao: những hiệu ứng ăn mòn cục bộ.
Bảng 8: Đặc tính và mức độ nguy hiểm của hóa chất Peroxit(H
2
O
2
) trong sản xuất
giấy.
Hình thức sử
dụng
50% dung dịch sẽ chuyển giao bột giấy trong các nhà máy và nó được sử
dụng ở dạng pha loãng đến 2% trước khi sử dụng.
Mức nguy hiểm
của phản ứng
- Trong quá trình phân huỷ các chất xúc tác thì nó sẽ bốc hơi (do hơi nóng) và
sẽ phóng thích oxi.
- Là chất oxi hoá mạnh (khi nồng độ cao có thể phản ứng mãnh liệt).
- Khi cháy H
2
O
2
sẽ giải phóng oxi.
Mức nguy hiểm
tới sức khỏe
- Sự cô đặc dung dịch là nguyên nhân có thể làm cháy da và niêm mạc.
hình thành sau công đoạn này.
Tùy vào công suất hoạt động của từng nhà máy sản xuất giấy cũng như phụ thuộc vào
nguồn nguyên liệu đầu vào mà hàm lượng các độc tố có trong bùn thải khác nhau.
2.3 Dầu động cơ, mỡ bôi trơn máy móc, thiết bị rò rỉ, tràn đổ.
Hiện nay, hầu hết các nhà máy giấy đều sử dụng phương pháp sản xuất công nghiệp,
mỗi công đoạn sản xuất là một thiết bị chuyên dung khác nhau, để đạt hiệu quả sản xuất
cao thì những thiết bị máy móc này cần phải được bảo trì, bảo dưỡng thường xuyên với
khối lượng dầu, mỡ bôi trơn không hề nhỏ. Bên cạnh đó phải kể đến các thiết bị hoạt
động bằng xăng, dầu. Trong quá trình làm việc hay bảo trì máy móc chắc hẳn không
tránh khỏi việc tràn đổ hay rò rỉ các loại xăng, dầu nhớt, mỡ bôi trơn ra ngoài. Đa số các
loại dầu nhớt đều có cấu trúc vòng benzen thơm, rất khó hòa tan, phân hủy. Chính vì vậy
24
mức độ nguy hiểm của nó đối với con người và môi trường cực kì cao nếu không có biện
pháp quản lý phù hợp và kịp thời.
2.3.1 Mức độ nguy hiểm của xăng, dầu:
* Mức xếp loại nguy hiểm. Mức độ nguy hiểm
HFPA HMIS Thông tư 12/2006TT-BCN
Sức khoẻ 1 1
Độ bốc cháy 3 3 Rất dễ cháy
Độ phản ứng 0(tối thiểu) 0 Hạng nguy hiểm : 03
* Cảnh báo nguy hiểm :
- Các nguy hiểm về cháy nổ:
+ Có thể bốc cháy và kích cháy nổ bởi nhiệt , tia sáng, lửa, hoặc các nguồn kích nổ khác.
+ Điện tích tĩnh điện có thể xảy ra trong quá trình vận chuyển.
- Các nguy hiểm về sức khỏe:
+ Nhiễm độc đau nhức da nghiêm trọng.
+ Nguy hiểm nếu nuốt vào, có thể xâm nhập vào phổi và gây hủy hoại phổi.