CÁC HÌNH THỨC VAY NỢ CỦA NHÀ NƯỚC - Pdf 14

TIỂU LUẬN TÀI CHÍNH HỌC
ĐỀ TÀI: CÁC HÌNH THỨC VAY NỢ CỦA NHÀ NƯỚC
I - Vay nợ trong nước của chính phủ
1.Trái phiếu chính phủ
a-Tín phiếu kho bạc nhà nước
Là loại trái phiếu (giấy vay nợ ngắn hạn) có kỳ hạn dưới một
năm do kho bạc nhà nước phát hành nhằm mục đích bù đắp thiếu hụt
tạm thời của ngân sách nhà nước.
Đặc điểm:
− Lãi suất: cao.
− Đặc điểm loại chiết khấu: Chiết khấu hoặc mang mệnh giá.
− Thời hạn: 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng, hoặc 1 năm với nhiều
mức mệnh giá.
− Hình thức phát hành: Đấu thầu, phát hành trực tiếp qua kho
bạc, phát hành qua đại lý trên thị trường thứ cấp.
− Tính thanh khoản: cao nhất.
− Mức độ rủi ro vỡ nợ: Vì uy tín của chủ thể phát hành nên
mức độ rủi ro của tín phiếu kho bạc rất thấp so với các công cụ trên thị
trường tiền tệ hay có thể coi là không có rủi ro tín dụng.
− Năm 2008 huy động được 20.730 tỷ đồng, năm 2009 là
10.714 tỷ đồng và năm 2010 huy động được 8.350 tỷ đồng.
b- Trái phiếu công trình:
Huy động vốn cho công trình đầu tư cụ thể thường là để xây
dựng những công trình cơ sở hạ tầng hay công trình phúc lợi công
cộng.
VD dự án đường cao tốc Cầu Giẽ - Ninh Bình.
1
+ Do chính phủ trung ương hoặc chính quyền địa phương phát
hành, có kỳ hạn từ 1 năm trở lên.
c-Trái phiếu ngoại tệ:
Là loại trái phiếu Chính phủ có kì hạn từ 1 năm trở lên, nhưng

hành trái phiếu Chính phủ của họ không cao.
Ưu điểm:
Đây là biện pháp cho phép Chính phủ có thể duy trì việc thâm
hụt ngân sách mà không cần phải tăng cơ sở tiền tệ hoặc giảm dự trữ
quốc tế. Vì vậy, biện pháp này được coi là một cách hiệu quả để kiềm
chế lạm phát.
Tập trung được khoản tiền tạm thời nhàn rỗi trong dân cư,tránh
được nguy cơ khủng hoảng nợ nước ngoài, dễ triển khai
Nhược điểm:
Việc khắc phục thâm hụt ngân sách bằng nợ tuy không gây
ra lạm phát trước mắt nhưng nó lại có thể làm tăng áp lực lạm phát
trong tương lai nếu như tỷ lệ nợ trong GDP liên tục tăng. Hơn nữa,
việc vay từ dân trực tiếp sẽ làm giảm khả năng khu vực tư nhân trong
việc tiếp cận tín dụng và gây sức ép làm tăng lãi suất trong nước.
Chứa đựng nguy cơ kìm hãm sự phát triển của các hoạt
động sản xuất, kinh doanh của nền kinh tế.
Tổng lượng tiền mà nhân dân và các đơn vị có thể có để
cho chính phủ vay bị giới hạn trong tổng lượng tiết kiệm của xã hội.
Nếu chính phủ huy động được nhiều thì đương nhiên phần tiền còn lại
dành cho đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh ở khu vực ngoài quốc
doanh sẽ giảm đi.
Như vậy, chưa biết chính phủ sẽ làm gì, làm như thế nào đối với
lượng tiền huy động được, nhưng xã hội hay trực tiếp hơn là khu vực
các doanh nghiệp và dân cư đó sẽ mất đi một nguồn vốn tương ứng
có khả năng dành cho đầu tư phát triển kinh tế. Nếu các biện pháp thu
hút tiền vay của chính phủ và của ngân hàng càng có lãi suất cao thì
càng tạo ra luồng tiền vốn dịch chuyển từ các khu vực doanh nghiệp
và dân cư sang hệ thống tài chính ngân hàng mà không chảy vào sản
xuất kinh doanh.
Biện pháp tài trợ thâm hụt ngân sách này chỉ nên thực hiện

- Tính chung giai đoạn 2006-2010, tổng số nợ phát hành là
409.857 tỷ VND (tương đương 21,%GDP năm 2010), trong đó, tổng
nợ phát hành trong nước là 306.065 tỷ VND, chiếm 74,7% tổng số nợ
phát hành (tương đương 15,7%GDP năm 2010). Trong tổng số nợ
phát hành 5 năm có 219.162 tỷ VND trả nợ gốc, chiếm hơn tổng số nợ
phát hành, trong đó trả nợ gốc vay trong nước chiếm 82,3% tổng số
trả nợ gốc. Tổng số nợ mới phát sinh để bù đắp thâm hụt NSNN 5
năm 2006-2010 là 190.695 tỷ VND (tương đương 9,77%GDP năm
2010), trong đó, tổng nợ mới phát sinh trong nước là 125.763 tỷ VND,
4
chiếm gần 66% tổng số. Rõ ràng, trong giai đoạn 2006-2010, nghĩa vụ
nợ Chính phủ đã và đang gia tăng nhanh chóng, trong đó chủ yếu là
vay nợ trong nước. Nếu tính thêm cả phần Chính phủ vay về cho vay
lại (vay nước ngoài) thì tổng nợ của Chính phủ (số phát hành) 5 năm
qua lên tới 506.776 tỷ VND, xấp xỉ 26%GDP năm 2010, trong đó nợ
nước ngoài chiếm 39,6%, tương đương 10,3% GDP năm 2010.
II - Vay nợ nước ngoài
1. Vay viện trợ phát triển chính thức
a - Khái niệm
Là các khoản vay nhân danh nhà nước, Chính phủ từ các nhà
tài trợ là nước ngoài: các tổ chức song phương( WB, IMF, ADB…), các
tổ chức liên quốc gia hoặc liên chính phủ có thể như các tổ chức phi
chính phủ(NGO).
b- Ưu và nhược điểm
Ưu điểm
− Lãi suất thấp (dưới 20%, trung bình từ 0.25%năm)
− Thời gian cho vay cũng như thời gian ân hạn dài (25-40
năm mới phải hoàn trả và thời gian ân hạn 8-10 năm)
− Trong nguồn vốn ODA luôn có một phần viện trợ không
hoàn lại, thấp nhất là 25% của tổng số vốn ODA.

ODA nhưng thông thường, các danh mục dự án ODA cũng phải có sự
thoả thuận, đồng ý của nước viện trợ, dù không trực tiếp điều hành dự
án nhưng họ có thể tham gia gián tiếp dưới hình thức nhà thầu hoặc
hỗ trợ chuyên gia.
− Tác động của yếu tố tỷ giá hối đoái có thể làm cho giá trị
vốn ODA phải hoàn lại tăng lên.
− Ngoài ra, tình trạng thất thoát, lãng phí; xây dựng chiến
lược, quy hoạch thu hút và sử dụng vốn ODA vào các lĩnh vực chưa
hợp lý; trình độ quản lý thấp, thiếu kinh nghiệm trong quá trình tiếp
nhận cũng như xử lý, điều hành dự án… khiến cho hiệu quả và chất
lượng các công trình đầu tư bằng nguồn vốn này còn thấp có thể đẩy
nước tiếp nhận ODA vào tình trạng nợ nần
c- Các hình thức viện trợ
• Viện trợ song phương:là viện trợ giữa các nước có những
thỏa thuận tay đôi với nhau, thông qua một tổ chức của chính phủ, cơ
quan quản lí viện trợ hay chương trình hợp tác phát triển kinh tế với
nước ngoài của chính phủ nước viện trợ. Ví dụ như: Năm tài chính
2009/2010, tổng viện trợ của Canada dành cho Việt Nam thông qua
các hình thức song phương, đa phương, khu vực, đối tác và các tài trợ
khác đạt 89,5 triệu CAD (trong đó viện trợ song phương là 23 triệu
CAD). Trong năm tài chính 2010/2011, viện trợ song phương của
6
Canada dành cho Việt Nam đạt 27 triệu CAD, ngoài ra còn song
phương với NHẬT BẢN
• Viện trợ đa phương: là viện trợ giữa các quốc gia được
thưc hiện thông qua tổ chức nào đó như: WB, IMF ví dụ việt nam
có quan hệ đa phương với nhật, mỹ, canda. anh…
• Viện trợ không hoàn lại:là sự kết hợp giữa hai hình thức
trên. Đối với hình thức này thì thành lập loại quỹ chung và loại quỹ ủy
thác. Để nhận được viện trợ thì các nước phải xây dựng trước các dự

các khoản vay sau này
− Gắn liền với nhu cầu sử dụng vốn dự phòng của ngân sách
Nhà nước và có thể làm cho tình hình vay nợ nước ngoài của Việt
Nam bị xấu đi
Thực trạng các khoản vay có tính chất thương mại của
VN
- Chiếm 19,92% tổng vay nợ nước ngoài
- Lãi suất
Trên 1,5 tỷ USD lãi suất từ 3-5,99%
919 triệu USD ở mức lãi suất 6-10%.
Hơn 1,9 tỷ USD dư nợ còn lại được áp lãi suất thả nổi theo
LIBOR 6 tháng và LIBOR Euro 6 tháng.
- Lợi suất lên đến hơn 7% đối với khoản 1 tỷ USD trái phiếu
Chính phủ ngoại tệ.
Nhận xét
- Lãi suất vay nợ của Việt Nam đang có xu hướng tăng lên. Điều
này có thể là hệ quả của việc Việt Nam đã gia nhập nhóm nước có thu
nhập trung bình cũng như việc uy tín nợ quốc gia bị ảnh hưởng do một
số bất ổn của kinh tế vĩ mô và sự kiện Vinashin.
- Trong 10-20 năm tới đây, VN sẽ thuộc những quốc gia không
được hưởng những nguồn vốn ưu đãi nữa mà phải vay thương mại
nhiều hơn, vì thế chi phí nợ sẽ tăng lên, điều này buộc các khu vực
DN, cả Nhà nước, tư nhân và các ngân hàng phải tính đến nợ dự
phòng, rủi ro về hối đoái và tái cấp vốn
3. Vay ưu đãi
8
a- Định nghĩa: là các khoản vay có điều kiện ưu đãi hơn so với
vay thương mại nhưng ưu đãi không đạt theo tiêu chuẩn chung của
ODA
b- Vai trò

tăng 4,6 tỷ USD so với năm 2009, đạt mức nợ cao nhất kể từ năm
2005. Cần lưu ý con số 42,2% GDP cũng cao hơn nhiều so với mức
38,8% mà Chính phủ dự kiến cuối năm 2010.
Thứ hai: dịch vụ nợ tăng nhanh trong khi dự trữ ngoại tệ
cũng giảm nhiều. Dịch vụ nợ nước ngoài của nước ta trong năm
2010 là 1,67 tỷ USD, trong đó riêng tiền lãi và phí hơn 616 triệu USD,
tăng gần 30% so với con số 1,29 tỷ USD của năm 2009. Dịch vụ nợ
Chính phủ so với tổng ngân sách nhà nước năm 2009 là 5,1%
(ngưỡng an toàn của Ngân hàng Thế giới - WB - đưa ra dưới 35%).
Tuy nhiên, dịch vụ nợ nước ngoài năm 2010 bằng 50% tổng đầu
tư phát triển cùng năm ngân sách. Một con số không hề nhỏ trong quy
mô khiêm tốn của ngân sách nhà nước hiện nay. Đặc biệt, theo cảnh
báo của Bộ Tài chính, dự trữ ngoại hối nước ta trong năm 2010 chỉ
còn tương đương 187% tổng dư nợ ngắn hạn, giảm mạnh so với con
số 290% và 2.808% của các năm 2009 và 2008, trong khi mức khuyến
nghị của WB trên 200%.
Việc mua vào thêm 4 tỷ USD trong những tháng đầu năm 2011 ít
nhiều đã cải thiện tỷ lệ an toàn này. Tuy nhiên, việc mua vào này
không phải là giải pháp bền vững xét dưới góc độ chống lạm phát tiền
tệ, vì nó dễ trở thành nguồn xung lực làm tăng lạm phát tiền tệ.
Thứ ba, điều kiện nợ ngày càng ngặt nghèo hơn. Bộ Tài
chính cho biết lãi suất vay nợ đang có xu hướng tăng lên do nước ta
đã bị giảm mức nhận ưu đãi vì gia nhập nhóm nước có thu nhập trung
bình. Các khoản vay nước ngoài đa số có lãi suất thấp và trong tổng
nợ cuối năm 2009, vay ODA chiếm tỷ trọng 74,67%, vay ưu đãi chiếm
5,41%, vay thương mại 19,92% Qua năm 2010, vay nợ với lãi suất
thấp 1-2,99%/năm chiếm khoảng 65,5% tổng dư nợ.
Tuy nhiên, khoản vay có lãi suất cao 6-10%/năm trong năm
2010 cũng đã lên tới 1,89 tỷ USD, gấp hơn 2 lần năm 2009. Hiện các
chủ nợ chính của Việt Nam vẫn là Nhật Bản, Pháp, ADB, WB Các

2,5 9,8 9 2,2
N
ợ khu
vực
công
so với
GDP
6,7
2
8,2 5,1 9,3 1,1
T
rả nợ
trung
- dài
hạn
so với
xuất
3
,8 ,3 ,2 ,4
11
khẩu
T
rả nợ
của
Chính
phủ
so với
thu
ngân
sách

Các chủ nợ chính
thức
24.149 29.139
- Song phương 13.278 14.690
12
- Đa phương 10.931 12.449
Các chủ nợ tư nhân 3.779 5.362
- Người nắm giữ
trái phiếu
1.038 2.020
- Các ngân hàng
thương mại
2.583 3.195
- Các chủ nợ tư
nhân khác
158 147
NỢ CỦA CHÍNH
PHỦ
23.943 27.858
Các chủ nợ chính
thức
22.465 25.421
- Song phương 11.566 12.999
- Đa phương 10.899 12.422
Các chủ nợ tư nhân 1.478 2.437
- Người nắm giữ
trái phiếu
1.038 2.019
- Các ngân hàng
thương mại

Bảng Anh 83,89
Rupi Ấn Độ 17,91
Yen Nhật
10.817,
18
Won Hàn Quốc 207.31
Dinar Kuwait 18,05
Ringgit Malaysia 0,55
Krone Na Uy 86,54
Đôla New
Zealand
0,18
14
SDR*
7.538,6
5
Krone Thụy Điển 35,19
Baht Thái Lan 2,01
Đôla Mỹ
6.174,1
7
TỔNG CỘNG
27.857,
16
(Tính đến 31/12/2010)
Một số đề xuất nhằm quản lý có hiệu quả nợ
công ở Việt Nam
Phát triển nội lực nền kinh tế
Phát triển nội lực nền kinh tế cần tập trung vào vấn đề gia tăng
hàm lượng giá trị gia tăng trong xuất khẩu bằng cách: Giảm nhập khẩu

bảo lãnh. Luật cũng phải xác định rõ vai trò của Ngân hàng Trung
ương sao cho việc phát hành quỹ chứng khoán không bị lẫn với các
biện pháp nghiệp vụ thuộc chính sách tiền tệ. Tất cả các khoản vay
phải được ghi có tại một tài khoản ngân hàng dưới sự kiểm tra của Bộ
Tài chính, và nghĩa vụ nợ và các điều khoản vay nợ phải được công
bố đầy đủ cho công chúng. Minh bạch tài khóa đòi hỏi cơ quan lập
pháp phải xác định rõ các yêu cầu trong báo cáo hàng năm về dư nợ
và dòng chu chuyển nợ, kể cả số liệu về bảo lãnh nợ của chính phủ
trình cơ quan lập pháp và công khai cho công chúng.
Ngoài ra: cần đảm bảo rằng thông tin về nợ công phải bao quát
cả quá khứ, hiện tại và dự tính cho tương lai. Điều này hết sức cần
thiết vì thông tin công khai về nợ còn nhằm tăng cường khả năng can
thiệp và phòng ngừa tình huống xấu xảy ra.
- Cải cách hành chính
Việc cải cách hành chính nhà nước cần được thực hiện trên tất
cả các nội dung: Thể chế; tổ chức bộ máy; xây dựng và nâng cao chất
lượng đội ngũ cán bộ, công chức, Trong đó, cần tăng cường cơ chế
giám sát của nhân dân đối với hoạt động của cơ quan nhà nước, làm
rõ thẩm quyền, trách nhiệm của cơ quan hành chính trong giải quyết
khiếu nại của nhân dân; thực hiện tốt việc tiếp nhận ý kiến, phản hồi
của người dân. Bên cạnh đó, thủ tục hành chính cần phải được đơn
giản hóa và thông tin đầy đủ trên cổng thông tin điện tử của bộ, địa
phương để tạo thuận lợi tối đa cho người dân, cơ quan, tổ chức nhằm
tiết kiệm chi phí, đồng thời nâng cao trách nhiệm của cán bộ, công
chức trong cải cách thủ tục hành chính. Đặc biệt, cần chú trọng nâng
cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, trong đó có yếu tố hết sức
quan trọng là cải cách chế độ, chính sách tiền lương nhằm tạo động
16
lực thực sự để cán bộ, công chức làm việc, nâng cao chất lượng dịch
vụ hành chính và chất lượng dịch vụ sự nghiệp công.

(2007) chỉ có 20%
Sử dụng hiệu quả nợ công
Để sử dụng hiệu quả nợ công, cần phải chú trọng vào các vấn
đề sau:
17
- Chi tiêu công phải minh bạch, hợp lý. Vay nợ công phải được
chi cho đầu tư phát triển thay vì chi tiêu dùng chính phủ. Chỉ những dự
án thực sự đem lại hiệu quả kinh tế mới được xét duyệt và đầu tư thực
hiện. Tăng cường thanh tra, giám sát quá trình thực hiện dự án đầu tư;
tránh tình trạng tham nhũng, quan liêu.
- Đấu thầu các dự án một cách công khai, minh bạch nhằm chọn
lựa được những nhà thầu có năng lực nhất. Để doanh nghiệp ngoài
quốc doanh chịu trách nhiệm thầu các dự án đầu tư nhiều hơn, thay
cho các doanh nghiệp nhà nước.
- Tập huấn và nâng cao trình độ quản lý cũng như trình độ
nghiệp vụ cho các cán bộ trong các doanh nghiệp nhà nước.
Hình thức vay nợ trong nước là tốt nhất
− tận dụng được các khoản tiền nhàn rỗi trong dân chúng
− không phụ thuộc vào các nước cho vay
− hình thúc vay đa dạng, thời hạn đi vay tương đối ngắn do
vậy việc đi vay đã đựơc lên kế hoạch để trả cho những khoản vay
này.
− hạn chế được việc không trả được các khoản vốn lớn gây
ra vỡ nợ
Lý do ở Việt Nam, vay nợ nước ngoài lớn hơn vay nợ trong
nước:
• Do lạm phát ở Việt Nam rất lớn, lãi suất thấp hơn cả lạm
phát, do đó nếu so với Lạm phát thì người cho vay bị lỗ
• Vay thương mại nước ngoài của doanh nghiệp theo phương
thức tự vay tự trả có xu hướng tăng nhanh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status