Câu hỏi:
Câu 1. Chứng minh Luật dân sự là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật
Việt Nam.
Một ngành luật được gọi là độc lập trong hệ thống pháp luật khi nó có đối tượng
điều chỉnh riêng và phương pháp điều chỉnh riêng. Xuất phát từ góc độ đó để chứng minh
điều Luật Dân sự là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam thì ta phải
làm rõ Luật Dân sự có đối tượng điều chỉnh riêng và phương pháp điều chỉnh riêng.
Đối tượng điều chỉnh của Luật Dân sự là quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân
trong các giao lưu dân sự.
Quan hệ tài sản là quan hệ giữa người với người thông qua một tài sản nhất định. Theo
điều 172 - Bộ Luật Dân sự khái niệm tài sản bao gồm: tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền,
các quyền về tài sản. Tài sản trong Luật Dân sự được hiểu theo nghĩa rộng không chỉ là
vật thuộc về ai, do an chiếm hữu, sử dụng, định đoạt mà bao gồm cả việc dịch chuyển tài
sản từ chủ thể này sang chủ thể khác.
Quan hệ tài sản do lãnh đạo điều chỉnh gồm 5 nhiệm vụ:
- Quan hệ về sở hữu (bao gồm cả sở hữu trí tuệ)
- Quan hệ về nghĩa vụ dân sự và hợp đồng dân sự
- Quan hệ về thừa kế
- Quan hệ về chuyển quyền sử dụng đất
- Quan hệ về bồi thường thiệt hại
Các quan hệ tài sản do Luật Dân sự điều chỉnh là quan hệ tài sản mang tính chất hàng hoá
- tiền tệ và có các đặc điểm sau:
- Được hình thành theo quy luật giá trị nói chung là sự đền bù ngang giá. Sự đền
bù tương đương là đặc trưng của các quan hệ dân sự. Tuy nhiên, trong giao lưu dân sự
cũng tồn tại những quan hệ không mang tính chất đền bù tương đương (tặng, cho, thừa
kế) . Nhưng những quan hệ này không phải là cơ bản và phổ biến.
- Quan hệ tài sản luôn mang tính ý chí, đó chính là mục đích và động cơ của các
chủ thể tham gia quan hệ tài sản. Tuy nhiên, ý chí của các chủ thẻ phải phù hợp với ý chí
Nhà nước.
- Đối tượng của quan hệ tài sản là những tài sản theo quy định của pháp luật dân
sự và phải là những tài sản được phép lưu thông.
1.Nhóm nguyên tắc thể hiện tính pháp chế
- Nguyên tắc tôn trọng lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích
hợp pháp của người khác.
Nguyên tắc này đã được thể hiện trong chế định về quyền nhân thân. Điều 26 - Bộ Luật
Dân sự quy định: "Không ai được lạm dụng quyền nhân thân của mình xâm phạm đến lợi
ích của Nhà nước, lợi ích công cộng quyền và lợi ích hợp pháp của người khác".
- Nguyên tắc tuân thủ pháp luật
- Chế định giao dịch dân sự là chế định quán triệt nguyên tắc này rõ rệt nhất. Một
giao dịch dân sự có nội dung trái pháp luật đương nhiên là vô hiệu, một giao dịch dân sự
không tuân thủ qi của pháp luật về hình thức có thể bị coi là vô hiệu.
- Nguyên tắc tôn trọng bảo vệ quyền nhân thân
Chế định quyền nhân thân quy định: "Mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền nhân thân
của người khác".Quy định này chính là sự cụ thể hoá nguyên tắc trên.
2.Nhóm nguyên tắc thể hiện bản sắc truyền thống dân tộc trong giao lưu dân sự.
- Nguyên tắc tôn trọng đạo đức truyền thống dân tộc trong:
Chế định giao dịch dân sự đã đặt ra vấn đề giao dịch dân sự phải không trái pháp luật và
đạo đức xã hội. Tôn trọng đạo đức xã hội là một điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân
sự.
- Nguyên tắc hoà giải:
Chế định về thời hiệu quy định việc hoà giải có thể làm gián đoạn thời hiệu. Điều đó có
nghĩa Luật Dân sự rất coi trọng việc hoà giải trong các tranh chấp dân sự.
3.Nhóm nguyên tắc thể hiện bản chất của quan hệ dân sự.
- Nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thoả thuận
Nguyên tắc này được thể hiện trong chi giao dịch dân sự. Một điều kiện có hiệu lực của
giao dịch dân sự là mọi người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện. Khi giao dịch dân
sự được xác lập do cưỡng ép thì vô hiệu.
- Nguyên tắc bình đẳng
chế định về năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự của cá nhân quy định:
"Mọi người có năng lực pháp luật dân sự như nhau" (khoản 2 Đ 46).
- Nguyên tắc thiện chí, trung thực
phù hợp với quy định của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, ví dụ một người ký hợp
đồng mua bán làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của người đó với bên kia trong hợp đồng.
+ Hành vi bất hợp pháp: là những hành vi được thực hiện trái với quyết định của
pháp luật và đạo đức xã hội. Ví dụ: A đe doạ B buộc B phải xác lập giao dịch vô hiệu, A
phải bồi thường thiệt hại cho B.
- Sự biến pháp lý là những sự kiện xảy ra trong thực tế không phụ thuộc vào ý chí của
con người nhưng pháp luật quy định làm phát sinh hậu quả pháp lý. Sự biến pháp lý gồm
2 loại:
+ Sự biến tuyệt đối là những sự kiện xảy ra trong thiên nhiên thời gian phụ thuộc
vào ý muốn của con người động đất, núi lửa…
+ Sự biến tương đối là những sự kiện xảy ra trong thực tế do hành vi của con
người nhưng quá trình phát sinh thay đổi chấm dứt không phụ thuộc vào ý thức người đó.
Ví dụ: một người đi rừng đốt lửa để sưởi ấm không may làm cháy rừng.
- Thời hạn là sự liên hệ pháp lý đặc biệt theo đó quan hệ pháp luật dân sự được phát sinh.
Ví dụ: A thoả thuận với B sẽ trả nợ trong thời hạn 1 tháng vào ngày cuối cùng của thời
hạn (thời điểm kết thúc ngày cuối cùng) A phải trả nợ cho B.
Câu 5: Phân tích sự hạn chế trong năng lực pháp luật và năng lực hành vi của công
dân. Có ý kiến cho rằng cá nhân có năng lực pháp luật dân sự từ khi còn là thai nhi
điều đó có đúng không, tại sao?
Sự hạn chế năng lực pháp luật và năng lực hành vi của công dân là có thực trong pháp
luật.
Theo khoản 1 - Điều 16 - Bộ Luật Dân sự thì năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là
khả năng của cá nhân có quyền sử dụng và nghĩa vụ dân sự. Năng lực pháp luật dân sự
của cá nhân do Nhà nước quy định, Nhà nước không cho phép công dân tự hạn chế năng
lực pháp luật của chính họ và của cá nhân khác trừ trường hợp pháp luật có quy định.
Như vậy, năng lực pháp luật dân sự của cá nhân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của
pháp luật.
Việc hạn chế năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có thể áp dụng đối với một số người
nào đó:Tước quyền cư trú của công dân tại một địa điểm nhất định (cấm cư trú), quản
chế… sự hạn chế này xét về bản chất không phải là hạn chế năng lực pháp luật của công
- Người chưa thành niên không còn cha mẹ không xác định được cha mẹ hoặc cha và mẹ
đều mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự bị toà án hạn chế
quyền của cha, mẹ hoặc còn cha mẹ nhưng cha mẹ không có điều kiện chăm sóc, giáo
dục người chưa thành niên đó và cha mẹ có yêu cầu;
- Người bị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác không thể nhận thức làm chủ được
hành vi của mình.
Khoản 3 - Đ 67 - BLDS cũng quy định: "Người dưới 15 tuổi được quy định tại điểm a
khoản 2 . Điều này, người bị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận
thức, làm chủ được hành vi của mình thì phải có người giám hộ".
Người nghiện ma tuý hoặc nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của
gia đình thì theo yêu cầu của người có quyền , lợi ích liên quan, cơ quan hoặc tổ chức
hữu quan Toà án ra quyết định tuyên bố là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.
Căn cứ vào các quy định về đối tượng được giám hộ người bị hạn chế năng lực hành vi
dân sự không có người giám hộ.
Điều 69 - BLDS quy định người có đủ các điều kiện sau đây có thể làm người giám hộ:
- Đủ 18 tuổi trở lên
- Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ
- Có điều kiện cần thiết bảo đảm thực hiện việc giám hộ
Phân biệt người giám hộ và người đại diện
Người giám hộ là người được pháp luật quy định hoặc được cử để thực hiện việc chăm
sóc và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người bị bệnh tâm thần
hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức làm chủ hành vi của mình.
Người đại diện là người nhân danh một người khác gọi là người được đại diện xác lập,
thực hiện giao dịch trong phạm vi thẩm quyền đại diện vì lợi ích của người được đại diện.
- Ng ời giám hộ
+ Đối tượng: Người chưa thành niên, người bị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh
khác mà không thể nhận thức làm chủ hành vi của mình
+ Tài sản: Người giám hộ quản lý tài sản của Người được giám hộ sử dụng tài
sản đó để chăm sóc chỉ dùng cho những nhu cầu cần thiết của Người đợc giám hộ
+ Phạm vi thẩm quyền: Rộng hơn
- Quyền tự do đi lại, cư trú
- Quyền lao động
- Quyền tự do kinh doanh
- Quyền tự do sáng tạo
*Quyền nhân thân gắn với tài sản
- Quyền tác giả đối với các tác phẩm văn học nghệ thuật, khoa học, kỹ thuật.
-Quyền sở hữu công nghiệp đối với các sáng chế, giải pháp hữu ích, nhãn hiệu hàng hoá.
* Quyền sở hữu, quyền thừa kế và các quyền khác đối với tài sản.
Cá nhân có quyền sở hữu đối với tài sản hợp pháp của mình. Tài sản thuộc sở hữu của cá
nhân bao gồm thu nhập hợp pháp, của cải để dành nhà ở, tư liệu sản xuất, tư liệu sinh
hoạt, vốn hoa lợi, lợi tức và các tài sản hợp pháp khác. Tài sản thuộc sở hữu của cá nhân
không bị hạn chế về số lượng và giá trị trừ những tài sản không thuộc sở hữu của cá
nhân.
Cá nhân có quyền để lại thừa kế , hưởng di snr thừa kế theo dic chúc hoặc theo pháp luật
* Quyền tham gia vào các quan hệ dân sự và nghĩa vụ phát sinh từ các quan hệ đó.
Để tham gia vào các quan hệ dân sự cá nhân phải có năng lực pháp luật dân sự và năng
lực hành vi dân sự. Tham gia vào các quan hệ dân sự là cơ sở quan trọng nhất để phát
sinh các nghĩa vụ dân sự. Nghĩa vụ dân sự còn phát sinh từ các căn cứ khác như bồi
thường thiệt hại
Cá nhân phải thực hiện đúng, đầy đủ nghĩa vụ dân sự, nếu không sẽ phải gánh chịu
những hậu quả pháp lý bất lị - trách nhiệm dân sự.
Nhình chung BLDS đã quy định dầy đủ và toàn diện về địa vị pháp lý của cá nhân tạo
điều kiện để cá nhân tham gia vào các giao lưu dân sự, kết hợp hài hoà được các lợi ích:
lợi ích cá nhân, lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng.
Câu 8: Tại sao nói hộ gia đình là chủ thể hạn chế của Luật Dân sự
Trước khi BLDS ra đời (được QH thông qua ngày 28/10/1995 có hiệu lực từ ngày
1/7/1996 trong các văn bản với tư các nguồn của Luật Dân sự chỉ có cá nhân và pháp
nhân được coi là chủ thẻ của Luật Dân sự. Nhưng đến BLDS 1995 lần đầu tiên họ gia
đình và tôt hợp tác được xác định là chủ thể của Luật Dân sự. Tuy nhiên, hộ gia đình là
chủ thẻ hạn chế của Luật Dân sự.
trọng nhất, tại sao?
Điều 131 - BLDS quy định: giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây
1.Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự.
2.Mục đích và nội dung của giao dịch không trái pháp luật, đạo đức xã hội
3.Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện
4.Hình thức giao dịch phù hợp với quy định của pháp luật
Trong các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự thì điều kiện người tham gia giao
dịch hoàn toàn tự nguyện là điều kiện quan trọng nhất.
Điều này được lý giải từ góc độ bản chất của giao dịch dân sự là thống nhất giữa ý chí và
bày tỏ ý chí. Tự nguyện là một trong nguyên tắc cơ bản của Luật Dân sự đã được quy
định tại Điều 7 - BLDS "Tự do, tự nguyện cam kết, thoả thuận" Tự nguyện bao gồm hai
yếu tố cấu thành là tự do ý chí và bày tỏ ý chí. Không có (hoặc thiếu một trong hai yếu
tố) cũng không có sự tự nguyện. Sự tự nguyện là thuốc tính của giao dịch dân sự dù là
hành vi pháp lý đơn phương hay hợp đồng dân sự.
Sự vi phạm nguyên tắc tự nguyện là cơ sở phổ biến nhất cho sự vô hiệu quả của giao dịch
dân sự (đương nhiên vô hiệu hoặc có thể bị coi vô hiệu).
- Giao dịch vô hiệu do giả tạo
- Giao dịch dân sự vô hiệu được xác lập do nhầm lẫn
- Giao dịch dân sự được xác lập do bị lừa dối đe doạ.
Câu 11. Cho ví dụ về các trường hợp xác lập, thực hiện giao dịch dân sự không có
sự tự nguyện.
Ý chí các bên tham gia giao dịch dân sự và ảnh hưởng của nó đến giao dịch dân sự.
Trong giao dịch dân sự việc hình thành ý chí chungcr các chủ thể phải biểu hiện sự tự
nguyện của họ mà không bị ảnh hưởng bởi một áp lực nào từ bên ngoài chủ thể.
Có những trường hợp được giao kết nhưng không đúng với ý chí của các bên hoặc một
bên của giao dịch những giao dịch đó bị coi là vô hiệu.
Giao dịch dân sự được xác lập do bị đe doạ, lừa dối.
Lừa dối trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên nhằm làm cho bên kia hiểu sai
lệch về chủ thể tính chất đối tượng hoặc nội dung của giao dịch nên đã xác lập giao dịch
đó.
Người đại diện theo pháp luật bao gồm:
+ Cha, mẹ đối với con chưa thành niên
+ Người giám hộ đối với người được giám hộ;
+ Người được toà án chỉ định đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.
+ Người đứng đầu pháp nhân theo điều lệ pháp nhân hoặc quyết định của cơ quan
Nhà nước có thẩm quyền.
+ Chủ hộ gia đình đối với hộ gia đình;
+ Tổ trưởng tổ hợp tác đối với tổ hợp tác
+ Những người khác theo quy định của pháp luật
- Đại diện theo uỷ quyền là đại diện được xác lập theo sự uỷ quyền giữa người đại diện
và người được đại diện.
Việc uỷ quyền phải được lập thành văn bản
Người đại diện theo uỷ quyền:
+ Cá nhân, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác cá
thể uỷ quyền cho người khác theo quy định nhân danh mình xác lập thực hiện giao dịch
dân sự.
+ Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế
năng lực hành vi dân sự không được làm người đại diện theo uỷ quyền.
Câu 13: Thời hạn là gì? nêu cách tính thời gian bằng giờ, ngày, tháng, năm theo quy
định của BLDS cho ví dụ minh hoạ?
Điều158 - Luật Dân sự quy định: Thời hạn là một khoảng thời gian được xác định từ thời
điểm này đến thời điểm khác.
Thời hạn cụ thể xác định bằng giờ, ngày, tuần, tháng, năm theo quy định của BLDS .
1.Thời điểm bắt đầu thời hạn
- Khi thời hạn được tính bằng ngày thì thời hạn được bắt đầu từ thời điểm đã xác định.
- Khi thời hạn được xác định bằng ngày, tuần, tháng, năm thì ngày đầu tiên của thời hạn
không được tính mà tính kể từ ngày tiếp theo của ngày được xác định.
2.Thời điểm kết thúc thời hạn
- khi thời hạn được tính bằng ngày thì thời hạn kết thúc tại thời điểm kết thúc ngày cuối
cùng của thơì hạn.
- Năng lực hành vi dân sự của cá nhân không có ngay khi cá nhân sinh ra mà phải đạt đến
độ tuổi nhất định (6 tuổi) mới bắt đầu có năng lực hành vi dân sự.
2.Tính chất
- Pháp luật ghi nhận mọi công dân có năng lực pháp luật dân sự như nhau. Khoản2-
Điều16-BLDS "mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật dân sự như nhau nghĩa là có tính
bình đẳng về năng lực pháp luật dân sự giữa các cá nhân".
- Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là cá nhân tự tạo ra quyền, tự tạo ra nghĩa vụ, tự
thực hiện các quyền và tự gánh chịu trách nhiệm về hành vi của mình nên pháp luật
không công nhận sự bình đẳng về năng lực hành vi. Năng lực hành vi của cá nhân phụ
thuộc vào độ tuổi khả năng nhận thức, khả năng làm chủ hành vi.
3.Vị trí, vai trò trong năng lực chủ thể
- Năng lực pháp luật dân sự là điều kiện "cần" để cá nhân tham gia vào các quan hệ dân
sự. Năng lực hành vi dân sự là điều kiện đủ.
- Năng lực pháp luật dân sự mới là khả năng hưởng quyền còn năng lực hành vi dân sự là
"cầu nối" giữa năng lực pháp luật dân sự và quyền dân sự hiện thực hoá các nội dung của
năng lực pháp luật dân sự.
Câu 15: Anh (chị) hãy phân tích các hình thức sở hữu đang tồn tại ở nước ta hiện
nay. Cho biết tài sản của các Công ty cổ phần, tài sản chuyên của vợ chồng, tài sản
của hộ kinh tế cá thể thuộc hình thức sở hữu nào? tại sao?
Các hình thức sở hữu đang tồn tại ở nước ta theo quy định của BLDS :
- Sở hữu toàn dân
- Sở hữu của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội
- Sở hữu tập thể
- Sở hữu tư nhân
- Sở hữu của tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp.
- Sở hữu hỗn hợp
- Sở hữu chung
1.Sở hữu toàn dân là hình thức sở hữu mà trong đó Nhà nước CHXHCN Việt
Nam thực hiện quyền, chủ sở hữu đối với tài sản thuộc sở hữu toàn dân Chính phủ thống
nhất quản lý và bảo đảm sử dụng đúng mục đích, hiệu quả và tiết kiệm tài sản thuộc sở
Sở hữu tư nhân không bị hạn chế về số lượng và giá trị.
5.Sở hữu của tổ chức xã hội - tổ chức xã hội nghề nghiệp.
Việc quản lý, khai thác công dụng và định đoạt tài sản thuộc sở hữu của tổ chức
chính trị, tổ chức chính trị - xã hội phải tuân theo pháp luật và phù hợp với mục đích hoạt
động được quy định trong điều lệ.
6.Sở hữu hỗn hợp là sở hữu đối với tài sản do các chủ sở hữu thuộc các thành
phần kinh tế khác nhau góp vốn để sản xuất kinh doanh trên lợi nhuận.
7.Sở hữu chung là sở hữu của nhiều chủ sở hữu đối với tài sản. Việc chiếm hữu,
sử dụng định đoạt tài sản thuộc sở hữu chung phụ thuộc vào ý chí tất cả các chủ sở hữu
chung trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
Xét về phạm vi quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu chung Luật Dân sự phân biệt
sở hữu chung theo phần và sở hữu chung hợp nhất.
Sở hữu chung theo phần là sở hữu chung mà trong đó quyền sở hữu của mỗi chủ
sở hữu được xác định đối với tài sản chung.
Sở hữu chuyên gia hợp nhất là sở hữu chung mà trong đó phần quyền sở hữu của
mỗi chủ sở hữu không được xác định đối với tài sản chung.
Sở hữu chung hợp nhất bao gồm sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia và sở
hữu chung hợp nhất không thể phân chia.
Tài sản của Công ty cổ phần thuộc hình thức sở hữu hỗn hợp vì chủ sở hữu tài sản
của các Công ty cổ phần có thể thuộc các thành phần kinh tế khác nhau. Nhà nước, tập
thể, tư nhân trong nước, ngoài nước.
Tài sản chung của vợ chồng là thuộc hình thức sở hữu chung hợp nhất có thể phân
chia. Vợ chồng có quyền sở hữu ngang nhau đối với tài sản chung. Tài sản chung đó có
thể phân chia theo thoả thuận hoặc quyết định của toà án.
Tài sản của hộ kinh tế cá thể thuộc hình thức sở hữu tư nhân. Một hộ kinh tế cá
thể luôn có một chủ hộ kinh doanh, đăng ký kinh doanh với cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền, quản lý toàn bộ tài sản.
Câu 16: Phân biệt sở hữu hỗn hợp và sở hữu chung.
Nêu khái niệm sở hữu hỗn hợp, sở hữu chung
*Khái niệm Sở hữu hỗn hợp
*Chủ sở hữu
- Sở hữu của nhiều chủ sở hữu đối với tài sản
*Tính chất cùng chung sở hữu
- Mỗi một đồng chủ sở hữu trong SHC có vị trí độc lập và tham gia vào quan hệ
pháp luật dân sự với t cách là một chủ sở hữu độc lập
*Giá trị tài sản
-Tài sản có giá trị lớn đa dạng phong phú về các hht tồn tại
*Mục đích
- Mục đích sản xuất kinh doanh thu lợi nhuận
*Hình thức tồn tại
- Các đơn vị đợc tổ chức dới các hình thức do luật định
*Cơ sở hình thành
- Quan hệ hợp tác bình đẳng thoả thuận
Câu 17: Thế nào là thừa kế - thế vị trong trường hợp bố và ông nội cùng chết trong
một tai nạn máy bay thì cháu có được thay cha nhận thừa kế của ông để lại không?
Thế vị là việc con (hoặc cháu) được thay vào vị trí của bố mẹ (hoặc ông bà) để hưởng di
sản của ông, bà (hoặc cụ) trong trường hợp bố (mẹ) chết trước ông (bà) hoặc ông (bà)
chết trước cụ.
Những người thừa kế thế vị được hưởng phần di sản mà bố, mẹ mình (hoặc ông,
bà mình) đáng lẽ được hưởng nếu còn sống, được chia đều di sản với những người thừa
kế khác.
"Trong trường hợp ông (bà và bố (mẹ) chết cùng thời điểm thì cháu vẫn được
thừa kế của ông (bà) bởi nếu bố (mẹ) của cháu còn sống sẽ được hưởng phần thừa kế"
Như vậy, trường hợp ông và bố cùng chết trong một tai nạn máy bay thì cháu
được thay cha nhận thừa kế của ông để lại.
Câu 18: BLDS quy định như thế nào về chuyển quyền sử dụng đất và đối tượng
được chuyển quyền sử dụng đất.
Chuyển quyền sử dụng đất là một quan hệ pháp luật dân sự nhằm làm phát sinh,
thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của cá nhân, hộ gia đình và tổ chức trong quá trình
thực hiện quyền sử dụng đất.
đơn phương.
Điều130 - BLDS quy định: Giao dịch dân sự là hành vi pháp lý đơn phương hoặc
hợp đồng dân sự là hành vi pháp lý đơn phương hoặc hợp đồng của cá nhân, pháp nhân
và các chủ thể khác nhằm phát sinh thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.
Hành vi pháp lý đơn phương là giao dịch trong đó thể hiện ý chí của một bên
nhằm là phát sinh, thay đổi hay chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự.
Hợp đồng dân sự là giao dịch dân sự trong đó thể hiện ý chí của hai hay nhiều bên
nhằm là phát sinh thay đổi hay chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự.
Phân biệt hành vi pháp lý đơn phương và hợp đồng dân sự trên một số tiêu chí cơ bản sau
đây:
1.Ý chí chỉ tiêu.
- Giao hành vi pháp lý đơn phương là sự thể hiện ý chí của một bên.
- Hợp đồng dân sự bao giờb cũng là sự thể hiện ý chí và thống nhất ý chí của ít
nhất hai bên.
2. Điều hiện có hiệu lực.
- Hành vi pháp lý đơn phương có hiệu lực hay không có hiệu lực nhiều khi còn
phụ thuộc vào sự tiếp nhận ý chí của một bên khác theo những yêu cầu, điều kiện thực
hiện mà một bên đưa ra.
- Một hợp đồng dân sự hợp pháp có hiệu lực thực hiện đối với tất cả các bên tham
gia hợp đồng.
3.Các biện pháp bảo đảm thực hiện.
- Hành vi pháp lý đơn phương không có biện pháp bảo đảm thực hiện.
- Hợp đồng dân sự có biện pháp bảo đảm được quy định trong hợp đồng.
4.Hình thức.
- Hành vi pháp lý đơn phương khi được thể hiện dưới hình thức văn bản là những
quyền nghĩa đã được xác lập theo ý chí của một bên.
- Hợp đồng dân sự thể hiện dưới hình thức các điều khoản cam kết thoả thuận về
quyền và nghĩa vụ.
Câu 20. Việc ký kết hợp đồng dân sự cần bảo đảm những yêu cầu gì, nội dung cụ
thể của những yêu cầu đó.
quan tâm ngay đến vấn đề sở hữu, ra sắc lệnh bãi bỏ các hình thức sở hữu của chế độ
thực dân phong kiến. Từ đó đến nay chế định về sở hữu không ngừng được hoàn thiện và
phát triển.
- Chế định quyền sở hữu chi phối mạnh mẽ các chế định khác của Luật Dân sự.
Quyền thừa kế là chế định có cơ sở từ quyền sở hữu. Vấn đề sở hữu quyết định đến việc
thực hiện các quan hệ pháp luật dân sự, đến việc tham gia vào các hợp đồng dân sự, thực
hiện nghĩa vụ dân sự.
Quyền sở hữu được xác lập dựa trên các căn cứ sau đây:
1.Quyền sở hữu được xác lập dựa trên căn cứ hợp đồng dân sự hoặc giao dịch một
bên. Hợp đồng dân sự là thoả thuận giữa các bên theo đó làm dịch chuyển quyền sở hữu
đối với tài sản từ chủ thể này sang chủ thể khác. Ví dụ: A bán cho B một căn nhà kể từ
thời điểm hợp đồng mua bán có hiệu lực căn nhà trên thuộc quyền sở hữu của B.
Quyền sở hữu cũng được xác lập đối với tài sản chủ thể nhận từ tài sản thừa kế
theo di chúc. Tài sản trong hứa thưởng, các cuộc thi giải cũng là căn cứ xác lập quyền sở
hữu.
2.Quyền sở hữu xác lập trên căn cứ pháp luật.
- Di sản thừa kế theo pháp luật. Ví dụ: A được chia di sản thừa kế theo hàng thừa
kế thứ nhất thì di sản được chia cho A thuộc quyền sở hữu của A.
- Quyền sở hữu xác lập đối thu nhập hợp pháp có được do hoạt động sản xuất,
kinh doanh hợp pháp kể từ thời điểm có thu nhập đó. Ví dụ: A bán toàn bộ cá trong vụ cá
được 100 triệu đồng từ thời điểm nhận tiền thanh toán A có quyền sở hữu số tiền đó.
- Xác lập quyền sở hữu do các sự kiện sáp nhập trộn lẫn, chế biến tạo nên sự hợp
nhất tài sản của nhiều chủ sở hữu. Ví dụ: A và B cùng góp mỗi người 50 triệu đồng để
mua một ô tô tải. A và B là đồng chủ sở hữu đối với ô tô này.
- Xác lập quyền sở hữu do sự kiện không xác định được chủ sở hữu hoặc do bị
chôn giấu, đánh rơi, bỏ quên.
- Xác lập quyền sở hữu do sự kiện gia súc, gia cầm bị thất lạc vật nuôi dưới nước
bị thất lạc. Ví dụ: A bắt được một con bò lạc, sau sáu tháng kể từ ngày bắt được A có
quyền sở hữu nếu như đã thông báo công khai chiếm hữu liên tục.
3.Quyền sở hữu tài sản được xác lập theo những căn cứ khác.
trường hợp thừa kế theo di chúc không áp dụng được
Điều 672 - BLDS quy định "Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản
bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu như di sản chia theo
pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho di sản hoặc chỉ cho
hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó, trừ khi họ là những người từ chối hưởng di
sản hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại điều 645
hoặc khoản 1 điều 646 của Bộ Luật này.
1.Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng.
2.Con đã thành niên mà không có khả năng lao động".
Pháp luật quy định những trường hợp trên được hưởng thừa kế không phụ thuộc
vào di chúc vì rõ ràng đây là những người thân thiết nhất của người chết cần được bảo vệ
quyền lợi ích hợp pháp và pháp luật không cho phép người để lại di sản trốn tránh trách
nhiệm của mình đối với người đó.
Câu 23. Phân tích các khái niệm hợp đồng Dân sự, nghĩa vụ Dân sự, trách nhiệm
Dân sự, mối quan hệ giữa các khái niệm, cho ví dụ minh hoạ.
Nghĩa vụ Dân sự là việc mà theo quy định của pháp luật thì một hoặc nhiều chủ
thể (gọi là người có nghĩa vụ) phải làm một công việc hoặc không được làm một việc vì
lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (gọi là người có quyền).
Nghĩa vụ Dân sự là một quan hệ pháp luật dân sự. Nó có đầy đủ cả 3 yếu tố: Chủ
thể, khách thể, và nội dung quan hệ.
- Chủ thể của nghĩa vụ dân sự là những người mà giữa họ tồn tại một quan hệ
nghĩa vụ. Các chủ thể của nghĩa vụ dân sự bao gồm: Cá nhân, Pháp nhân, Hộ gia đình,
Tổ hợp tác, Nhà nước CHXHCNVN.
+ Trong quan hệ nghĩa vụ dân sự có thể có nhiều người tham gia nhưng phải có ít
nhất là 2 người chia làm 2 bên chủ thể có quyền lợi đối lập.
+ Quan hệ nghĩa vụ là quan hệ đối nhân.
- Khách thể của nghĩa vụ dân sự là hành vi mà quyền yêu cầu của chủ thể quyền
và nghĩa vụ của chủ thể nghĩa vụ nhằm vào.
Trong khách thể của nghĩa vụ dân sự thì đối tượng là quan trọng. Đối tượng của
nghĩa vụ dân sự là tài sản, công việc phải làm hoặc không được làm.
đã thoả thuận cho B; B có nghĩa vụ thanh toán tiền.
- Nghĩa vụ dân sự là cơ sở để tồn tại hợp đồng dân sự. Hợp đồng dân sự là sự thoả
thuận giữa các bên nhằm làm phát sinh thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự.
Nội dung của hợp đồng dân sự là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ của các bên. Như vậy
nghĩa vụ là thành tố để cấu thành nên hợp đồng.
- Trách nhiệm dân sự đóng vai trò như một phương tiện bảo đảm bằng pháp luật,
bằng Nhà nước cho việc thực hiện đúng nghĩa vụ dân sự và hợp đồng dân sự. Nó sẽ xuất
hiện khi có sự vi phạm nghĩa vụ, vi phạm hợp đồng dân sự.
Câu 24. Nêu khái niệm hợp đồng dân sự. Phân biệt hợp đồng dân sự với hợp đồng
kinh tế.
Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên nhằm làm phát sinh, thay đổi hoặc
chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự.
Để phân biệt hợp đồng dân sự với hợp đồng kinh tế chúng ta phải xác định nội
hàm của khái niệm.
Hợp đồng kinh tế là sự thoả thuận bằng văn bản, tài liệu giao dịch giữa các bên ký
kết về việc thực hiện công việc sản xuất, trao đổi hàng hoá, dịch vụ, nghiên cứu ứng dụng
tiến bộ khoa học kỹ thuật và các thoả thuận khác có mục đích kinh doanh với sự quy định
rõ ràng quyền và nghĩa vụ mỗi bên để xây dựng và thực hiện kế hoạch của mình. Hợp
đồng kinh tế được ký kết nhằm mục đích kinh doanh kiếm lời.
Chúng ta có thể phân biệt hợp đồng dân sự với hợp đồng kinh tế trên một số tiêu
chí cơ bản.
1.Chủ thể hợp đồng.
- Chủ thể của hợp đồng dân sự là các chủ thể của Luật Dân sự: Cá nhân, pháp
nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác.
- Chủ thể của hợp đồng kinh tế chủ yếu là các pháp nhân. Trong mối quan hệ hợp
đồng kinh tế có ít nhất một bên phải là pháp nhân còn bên kia có thể là pháp nhân, cá
nhân có đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật. Quan điểm nhiều Luật gia cho
rằng cơ sở để phân biệt hợp đồng dân sự và hợp đồng kinh tế mà chủ thể tham gia. Nếu
một hợp đồng chủ thể là 2 doanh nghiệp thì hợp đồng đó là hợp đồng kinh tế.
2.Mục đích xác lập, thực hiện hợp đồng.
- Thực hiện công việc không có uỷ quyền.
- Trách nhiệm dân sự luôn phát sinh trên cơ sở hành vi vi phạm pháp luật, vi
phạm hợp đồng.
* Tính chất:
- Nghĩa vụ dân sự thực chất là quan hệ giữa chủ thể quyền và chủ thể nghĩa vụ.
- Trách nhiệm dân sự liên quan đến mật thiết đến nghĩa vụ sự cưỡng chế Nhà
nước là sự thực hiện chế tài của Nhà nước đối với hành vi vi phạm pháp luật thông qua
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
Trách nhiệm dân sự là quan hệ đặc biệt giữa Nhà nước và chủ thể vi phạm pháp
luật.
* Cơ sở :
- Chủ thể tham gia quan hệ dân sự đương nhiên phát sinh quyền và nghĩa vụ dân
sự.
- Cơ sở để truy cứu trách nhiệm dân sự là quyết định có hiệu lực của cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền.
Tóm lại có thể thấy điểm khác nhau cơ bản nhất giữa trách nhiệm dân sự và nghĩa
vụ dân sự là sự hiện diện của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong trách nhiệm dân sự
nhưng ở nghĩa vụ dân sự chỉ có chủ thể quyền và nghĩa vụ.
Câu 26. Phân biệt trách nhiệm dân sự trong quan hệ nghĩa vụ và trách nhiệm dân
sự ngoài hợp đồng.
1. Chủ thể quyền và chủ thể nghĩa vụ.
- Trách nhiệm dân sự trong quan hệ nghĩa vụ phát sinh trong trường hợp giữa hai
bên có quan hệ nghĩa vụ, một bên do không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy
đủ nghĩa vụ mà ảnh hưởng đến quyền lợi ích hợp pháp của bên kia.
- Trách nhiệm dân sự ngoại hợp đồng người chịu trách nhiệm dân sự là người có
hành vi vi phạm pháp luật không có quan hệ nghĩa vụ, quan hệ hợp đồng đã được xác
định trước.
2. Cơ sở phát sinh.
- Trách nhiệm dân sự trong quan hệ nghĩa vụ phát sinh trên cơ sở vi phạm nghĩa
vụ hợp đồng.
thể (gọi là người có nghịa vụ ) phải làm một công việc hoặc không được làm một công
việc vì lợi ích của một hoặc nhiêù chủ thể gọi khác (gọi là người có quyền)
Theo luật dân sự thì đối tượng của nghĩa vụ dân sự có thể là tài sản (gồm vật có
thực, tiền, các giấy tờ trị giá được bằng tiền và các quyền tài sản); công việc phải làm và
công việc không phải làm
Đối tượng của nghĩa vụ phải được chỉ định đích xác
Đối tượng phải là những tài sản có thể đem giao dịch được hay những công việc
có thể thể hiện được mà pháp luật không cấm, không trái đạo đức xã hội.
Nghĩa vụ dân sự phát sinh dựa trên những căn cứ ( Điều 286)
1.Hợp đồng dân sự:
2.Hành vi đơn phương: là hành vi thể hiện ý chí của một bên chủ thể với mục đích
là đổi lấy một hành vi hay một công việc cụ thể mà không cần bên kia phải cam kết, nếu
sự thể hiện ý chí đó có kèm theo một số điều kiện nhất định, thì chỉ khi nào những người
khác thực hiện đúng các điều kiện đó mới làm phát sinh nghĩa vụ giữa các bên.
3.Chiếm hữu sử dụng, được lợi về tài sản không căn cứ pháp luật.
Loại nghĩa vụ hình thực từ căn cứ này xuất hiện khi có sự vắng mặt việc thoả thuận ý chí
của cả hai bên, cả bên có quyền lẫn bên có nghĩa vụ đều không thể hiện ý chí và không có
cơ sở pháp lý cho bên có nghĩa vụ hưởng thụ các lợi ích mà bên có nghĩa vụ có được ( Ví
dụ: mua nhầm tài sản do kẻ trộm bán lại) nghĩa vụ hoàn trả do được lợi về tài sản không
có căn cứ pháp luật phát sinh kể từ khi người được lợi có khoản lợi đó trong tay. Từ thời
điểm đó biết hoặc biét việc được lợi, thì phải hoàn trả khoản lợi mà mình thu được.
4.Gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật: loại nghĩa vụ phát sinh từ căn cứ này còn
gọi là trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng bởi vì nó xuất hiện có sự vắng mặt
ý chí của cả hai bên và hành vi làm phát sinh thiệt hại phải là hành vi trái pháp luật (Ví
dụ: Bồi thường thiệt hại tai nạn giao thông do lái xe phóng nhanh vượt ẩu)
5.Thực hiện công việc không có uỷ quyền: có thể nói thực hiên công việc không
có uỷ quyền là một dạng cụ thể của hành vi pháp lý đơn phương đó là việc một người
không có nghĩa vụ thực hiện công việc, nhưng đã tự nguyện thực hiện công việc đó vì lợi
ích của người khác khi người có công việc được thực hiện không biết hoặc biết mà không
phản đối
- Trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng phát sinh trên cơ sở vi phạm pháp luật.
3.Lỗi.
- Trách nhiệm dân sự trong quan hệ nghĩa vụ lỗi là yếu tố để quy trách nhiệm.
- Trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng lỗi là yếu tố để xác định mức độ trách
nhiệm.
4.Chế tài:
- Chế tài trách nhiệm dân sự trong quan hệ nghĩa vụ đã được ấn định, xác định
trước trong các hợp đồng dân sự (dự liệu trước).
- Chế tài trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng là sự thoả thuận chưa có sự dự liệu
trước.
*Trong một số trờng hợp, trách nhiệm dân sự không áp dụng trực tiếp đối với vi
phạm
+ Trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ
- Tiếp tục thực hiện nghĩa vụ
- Bồi thờng thiệt hại
+có hành vi trái pháp luật chỉ phát sinh khi có hành vi trái pháp luật và chỉ áp
dụng đối với ngời thực hiện hành vi đó, cụ thể là khi bên có nghĩa vụ không thực hiện,
không đúng, không đầy đủ thì phải bồi thờng thiệt hại vì đó là những công việc phải làm
mà các bên đã cam kết với nhau hoặcdo pháp luật xác định và bảo vệ.
+ Có thiệt hại xảy ra trong thực tế: Đây là yếu tố bắt buộc để xem xét trách nhiệm
bồi thờng .Thiệt hại xảy ra do vi phạm nghĩa vụ dân sự trên thực tế bao gồm:
- Tài sản bị h hỏng mất mát.
- Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại thực tế.
- Hành vi vi phạm là nguyên nhân trực tiếp của thiệt hại thực tế xảy ra và chỉ khi
thiệt hại xảy ra là hậu quả tất yếu của hành vi vi phạm thì ngời vi phạm mới phải gánh
chịu trách nhiệm bình thờng.
+ Lỗi của người vi phạm: là một trong những căn cứ cơ bản để xem xét trách
nhiệm dân sự. Lỗi được hiểu là việc một người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, tức là
có khả năng hiều và làm chủ hành vi mà vẫn thực hiện hành vi vi phạm pháp luật thì đ-
ược coi là có lỗi ( Lỗi cố ý và lỗi vô ý) + Trách nhiệm bình thường thiệt hại ngoài hợp
- Người đã thành niên, không măc bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác mà không
thể nhận thức hoặc làm chủ đựơc hành vi của mình
- Người đủ 15 đến dưới 18 tuổi có thể lập di chúc nếu được cha mẹ hoặc người
giám hộ đồng ý. Việc đồng ý này là cần thiết nhưng việc đồng ý chỉ trong việc lập di
chúc chứ không phải nội dung di chúc vì họ có quyền định đoạt tài sản riêng của họ,
nhưng việc định đoạt đó không được trái pháp luật và đặc điểm xã hộin.
* Người lập di chức có quyền
1.chỉ định người thừa kế, truất quyền hưởng di sản thừa kế. Họ có quyền để lại
tài sản cho bất cứ cá nhân cơ quan tổ chức nào, ở diện trong hay ngoài diện thừa kế. Có
thể truất quyền hưởng di sản của những người thừa kế theo pháp luật mà không cần nêu
rõ lý do của việc truất quyền đó. Có thể chỉ rõ tên người bị truất quyền thừa kế hoặc in
lặng bỏ qua bằng cách định đoạt toàn bộ tài sản của mình cho người khác mà bỏ quên
người trong diện thừa kế.
2.phân định phần di sản cho từng người thừa kế. Có thể chỉ định người thừa kế và
tài sản cụ thể mà họ được hưởng, có thể chỉ định phần mà người thừa kế được hưởng
trong tổng số di sản. nếu họ chỉ định những người thừa kế mà không nói rõ phần họ được
hưởng thì các phần của những người thừa kế này được sang đoán lên bằng nhau.
3.Dành một phần tài sản trong khối di sản để đi tặng thờ cúng
4.giao nghĩa vụ cho ngưởi thừa kế trong phạm vi di sản. người thừa kế phải thực
hiện nghĩa vụ tài sản do người để lại di sản thừa kế đã giao trong phạm vi di sản đã nhận
5.chỉ định người di chúc, quản lý di sản, phân chia di sản
6.người lập di chúc có quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc
Câu 31: Để trở thành chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự cá nhân cần có những
điều kiện gì, nội dung những điều kiện đó đợc quy định nh thế nào trong BLDS
* Quan hệ pháp luật là quan hệ xã hội đợc các quy phạm pháp luật dân sự điều
chỉnh, trong đó các bên tham gia độc lập về tổ chức và tài sản, bình đẳng về địa vị pháp
lý, quyền và nghĩa vụ các bên đợc Nhà nớc bảo đảm thực hiện thông qua các biện pháp c-
ỡng chế mang tính chất tài sản.
* Cá nhân khi tham gia vào quan hệ pháp luận dân sự phải đảm bảo điều kiện:
1. năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân có quyền dân sự
việc chiếm hữu sử dụng không có căn cứ pháp luật do đó sẽ làm phát sinh một quan hệ
nghĩa vụ dân sự phải bồi thờng thiệt hại.
- Gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật.
- Thực hiện công việc không có uỷ quyền.
*Căn cứ chấm dứt:
- Nghĩa vụ đợc hoàn thành
- Theo thoả thuận của các bên
- Bên có quyềnm miễn cho bên có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ.
Các điều kiện để cá nhân trở thành chủ thể của luật dân sự.
* Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân:
- NL Pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân có các quyền và nghĩa
vụ dân sự. NL pháp luật dân sự có các đặc điểm:
+ Do nhà nớc quy định trong các văn bản pháp luật mà nội dung của nó phụ thuộc
vào hình thái kinh tế xã hội vào các điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội tại một thời điểm
nhất định HT Kinh tế Xã hội khác nhau dẫn đến nhân lực pháp luật dân sự khác nhau.
Cùng HT kinh tế xã hội nhng chế độ chính trị khác nhau, nhân lực pháp luật dân sự của
công dân cũng khác nhau. Một nớc nhng thời điểm khác nhau nhân lực pháp luật dân sự
khác nhau.
+ Mọi cá nhân đều bình đẳng về năng lực pháp luật. Nhân lực pháp luật dân sự
của cá nhân không hạn chế bởi bất cứ lý do nào.
+ Nhân lực pháp luật dân sự của cá nhân do nhà nớc quy định thì nhân lực pháp
luật dân sự của cá nhân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của pháp luật.
+ Tính bảo đảm của nhân lực pháp luật dân sự. Nhân lực pháp luật dân sự mới chỉ
là khả năng để cá nhân có quyền và nghĩa vụ dân sự để trở thành quyền và nghĩa vụ cụ
thể cần phải có điều kiện về chính trị kinh tế pháp lý.
- Thời điểm bắt đầu và chấm dứt năng lực pháp luật dân sự của cá nhân.
" Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân bắt đầu từ khi ngời đó sinh ra và chấm
dứt khi ngời đó chết".
- Nội dung Năng lực pháp luật dân sự.
+ Quyền nhân thân không gắn với tài sản và quyền nhân thân gắn với tài sản.