Nghiên cứu áp dụng sản xuất sạch hơn tại Trung Tâm Nghiên Cứu và Huấn Luyện Chăn Nuôi
Bình Thắng - Viện Khoa Học Nông Nghiệp Miền Nam
SVTH: Trònh Thò Ngọc Linh
Chương 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề:
Việt Nam đang trên con đường công nghiệp hoá hiện đại hóa đất nước với
tốc độ phát triển nhanh chóng, do đó các cơ sở sản xuất đóng vai trò quan trọng
trong nền kinh tế. Các trung tâm kinh tế, nhà máy, xí nghiệp, khu công nghiệp,
nông nghiệp, chăn nuôi,…được xây dựng và mở rộng nhằm cải thiện đời sống đáp
ứng nhu cầu của con người. Nhưng chính quá trình sản xuất đã gây ra các vấn đề
về môi trường và sức khoẻ con người, làm cho môi trường suy thoái do chất thải
sản xuất không được quan tâm và xử lí đúng mức.
Trong đó, ngành chăn nuôi đã và đang phát triển ở mức độ hàng hoá với qui
mô ngày càng lớn, nhằm cung cấp một lượng lớn thực phẩm động vật cho nhu cầu sử
dụng ngày càng cao của con người. Bên cạnh sự phát triển về qui mô, chúng ta còn
phải đương đầu với những khó khăn về kỹ thuật như: việc cung cấp thức ăn và chăm
sóc sức khoẻ cho gia súc, chọn, tạo giống chấât lượng cao, quản lí cơ sở chăn nuôi lớn,
…Trung tâm nghiên cứu và huấn luyện chăn nuôi Bình thắng-viện khoa học Nông
Nghiệp Miền Nam là một trong những trung tâm ra đời phục vụ cho việc nghiên cứu
các ứng dụng của kỹ thuật hiện đại nhằm giải quyết những khó khăn trên.
Ngày nay đời sống con người ngày càng được nâng cao, nhu cầu về thực
phẩm cũng tăng lên nên ngành chăn nuôi cũng phát triển để đáp ứng cho con
người. Song, ngoài việc mang lại lợi ích về kinh tế, thoả mãn nhu cầu đời sống
con người, thì vấn đề ô nhiễm môi trường do chăn nuôi gây ra cần được quan tâm.
Trong đó, đặc biệt là sự ô nhiễm đất, không khí và nguồn nước ngầm do các chất
thải chăn nuôi đã làm ảnh hưởng đáng kể tới hệ sinh thái và sức khoẻ con người.
1
Nghiên cứu áp dụng sản xuất sạch hơn tại Trung Tâm Nghiên Cứu và Huấn Luyện Chăn Nuôi
Bình Thắng - Viện Khoa Học Nông Nghiệp Miền Nam
SVTH: Trònh Thò Ngọc Linh
1.2. Mục tiêu nghiên cứu:
− Khảo sát và đánh giá hiện trạng ô nhiễm môi trường do chăn nuôi gây ra.
− Đánh giá nguồn thải.
− Xây dựng các giải pháp quản lý và kỹ thuật nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi
trường do chăn nuôi gây ra.
− Nghiên cứu đề xuất áp dụng công nghệ sản xuất sạch hơn vào trong ngành
chăn nuôi.
− Góp phần phát triển ngành chăn nuôi theo hướng sản xuất sạch.
3
Nghiên cứu áp dụng sản xuất sạch hơn tại Trung Tâm Nghiên Cứu và Huấn Luyện Chăn Nuôi
Bình Thắng - Viện Khoa Học Nông Nghiệp Miền Nam
SVTH: Trònh Thò Ngọc Linh
Chương 2
SẢN XUẤT CHĂN NUÔI VÀ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG
CỦA NGÀNH CHĂN NUÔI
2.1. Tổng quan về ngành chăn nuôi
2.1.1. Sự phân bố đàn vật nuôi
Số lượng gia súc, gia cầm của cả nước phân bố tuỳ theo qui mô chăn nuôi.
Nhưng sự phân bố này không đồng đều ở các đòa phương, sự phân bố lượng vật
nuôi phụ thuộc vào nhiều yếu tố như vò trí đòa lý, vốn đầu tư, diện tích đất, điều
kiện cung cấp thức ăn,…Hiện nay ngành chăn nuôi đang chuyển dòch cơ cấu phát
triển theo hướng tăng cường chất lượng đàn giống và nâng cao năng suất, chuyển
dần phương thức chăn nuôi nhỏ thành chăn nuôi tập trung, thâm canh có trình độ
chuyên môn hoá cao. Nhưng nhìn chung, ngành chăn nuôi nước ta phân bố rãi
khắp từ Bắc vào Nam, tại các tỉnh Đông Nam Bộ (Đồng Nai, Bình Dương, Bà
Ròa…). Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho ngành chăn nuôi phát triển mạnh.
Tuy nhiên, mặt trái của nó là dòch bệnh dễ dàng lan tràn, chất thải chăn nuôi lan
truyền, phát tán gây ô nhiễm trên diện rộng, khó kiểm soát.
2.1.2. Qui mô chăn nuôi
Hiện nay ngành chăn nuôi nước ta phát triển theo 3 loại qui mô đó là qui mô
lớn (trong giai đoạn 1995-2000) nên nhiều hộ chăn nuôi đầu tư vào chủng loại này.
Đặc biệt từ năm 2002-2005 do dòch cúm gia cầm nên số lượng đàn gia cầm bò giảm.
2.1.3. Năng suất sản phẩm chăn nuôi
Cùng với tốc độ tăng đàn gia súc, gia cầm, năng suất sản phẩm chăn nuôi
cũng tăng qua các năm đáp ứng ngày càng cao nhu cầu của con người. Tuy nhiên
5
Nghiên cứu áp dụng sản xuất sạch hơn tại Trung Tâm Nghiên Cứu và Huấn Luyện Chăn Nuôi
Bình Thắng - Viện Khoa Học Nông Nghiệp Miền Nam
SVTH: Trònh Thò Ngọc Linh
trong quá trình giết mổ vật nuôi, chất thải sinh ra chưa được xử lý hoặc chưa được
xử lý triệt để gây lan truyền dòch bệnh và gây ô nhiễm môi trường .
Theo thống kê của Lê Hồng Mận, năm 2001 tổng đàn lợn cả nước đạt đến
21.1 triệu con, lợn nái 2.8 triệu con (13.20% tổng đàn), sản lượng thòt lợn 544.6
nghìn tấn, chiếm 70-80% tổng sản lượng thòt các loại, có số lượng lớn phân hữu cơ
cho đồng ruộng. Song song đó, ngành chăn nuôi gia cầm nước ta đã có những
thành tựu phát triển khá, với tốc độ tăng trưởng đầu con hàng năm 5.66%, sản
lượng thòt 5.7%, đặc biệt sản lượng trứng tăng nhanh hơn đến 3.8 tỷ quả, bình
quân xấp xỉ 50 quả/người, trong đó chủ yếu là trứng gà.
2.1.4. Cơ sở vật chất
Nước ta có nền nông nghiệp lâu đời đã tạo cho ngành chăn nuôi cơ sở vật
chất có tiềm năng lớn, nhiều giống loài có ưu thế riêng, hệ thống chuồng trại đa
dạng, công việc thu gom xử lý thủ công theo kinh nghiệm của các nông hộ. Bên
cạnh đó, cơ sở vật chất của ngành chăn nuôi luôn được củng cố và phát triển với
quy mô ngày càng lớn, đáp ứng phần nào xu thế phát triển chăn nuôi hiện nay.
Chăn nuôi phát triển giải quyết số lượng lớn công lao động nhà nông, tăng
nguồn thu nhập quan trọng trong gia đình.Vì vậy nhiều vùng chăn nuôi gia đình
đã chuyển dần phương thức chăn nuôi truyền thống, tự cung, tự cấp sang chăn
nuôi sản xuất hàng hoá nhất là các vùng chăn nuôi trọng điểm.
2.2. Ô nhiễm môi trường do ngành chăn nuôi
2.2.1. Nguồn phát thải ô nhiễm
heo có dấu hiệu bò bệnh sắp chết hoặc mới chết là đem bán heo thòt với giá cực
7
Nghiên cứu áp dụng sản xuất sạch hơn tại Trung Tâm Nghiên Cứu và Huấn Luyện Chăn Nuôi
Bình Thắng - Viện Khoa Học Nông Nghiệp Miền Nam
SVTH: Trònh Thò Ngọc Linh
rẻ. Điều này rất có hại cho sức khoẻ người dùng phải thòt đó nên rất cần có bộ
phận kiểm soát chất lượng thòt ra thò trường.
Thức ăn thừa, ổ lót chuồng và các chất thải khác
Trong những trường hợp chăn nuôi dùng ổ lót như rơm rạ, vải,…sau một
thời gian sử dụng thì phải thải bỏ, những chất thải này có thể mang theo phân,
nước tiểu và vi sinh vật gây bệnh nên cần phải xử lý không được để ngoài môi
trường.
Thức ăn thừa, thức ăn bò rơi vãi từ chăn nuôi cũng góp phần gây ô nhiễm
môi trường. Thành phần của chúng hầu hết là các chất hữu cơ dễ phân huỷ như
cám, ngũ cốc, bột cá, tôm, vỏ sò, khoáng chất,… Trong tự nhiên chất thải này bò
phân huỷ sinh ra mùi khó chòu, ảnh hưởng đến môi trường xung. nh hưởng đến
sự sinh trưởng phát triển của gia súc và sức khoẻ con người.
Phân
Bảng 2.2:Thành phần hoá học của phân heo 70-100kg
Chỉ tiêu Đơn vò Hàm lượng
pH 6.47-6.95
Vật chất khô g/kg 213-342
NH
4
+
g/kg 0.66-0.76
N
tổng
g/kg 7.99-9.32
Tro g/kg 32.5-93.3
nguy hại.
2.2.1.2 Thành phần chất thải lỏng
Nước tiểu
Thành phần nước tiểu chủ yếu là nước (chiếm trên 90% tổng khối lượng
nước tiểu). Ngoài ra, nước tiểu còn chứa một lượng lớn nitơ (phần lớn dưới dạng
urê) và phốtpho. Urê trong nước tiểu dễ phân huỷ trong điều kiện có oxy tạo
thành khí ammoniac. Do đó, khi động vật bài tiết ra bên ngoài chúng dễ dàng
phân huỷ tạo thành amoniac gây mùi hôi. Nhưng nếu sử dụng bón cho cây trồng
9
Nghiên cứu áp dụng sản xuất sạch hơn tại Trung Tâm Nghiên Cứu và Huấn Luyện Chăn Nuôi
Bình Thắng - Viện Khoa Học Nông Nghiệp Miền Nam
SVTH: Trònh Thò Ngọc Linh
thì đây là nguồn phân bón giàu nitơ, phốt pho và kali. Thành phần nước tiểu thay
đổi tuỳ thuộc loại gia súc, gia cầm, tuổi, chế độ dinh dưỡng và điều kiện khí hậu.
Bảng 2.3: Thành phần hoá học của nước tiểu heo có trọng lượng từ 70-100kg
Chỉ tiêu Đơn vò Nồng độ
pH 6.77-8.19
Vật chất khô g/kg 30.35-35.9
NH
4
+
g/kg 0.13-0.40
N
tổng
g/kg 4.90-6.63
Tro g/kg 8.5-16.3
Urê g/kg 123-196
Cacbonat g/kg 0.11-0.19
(Nguồn: Trương Thanh Cảnh & Ctv, 1997, 1998).
Nước thải
5
mg/l 3500-8900
COD mg/l 5000-12000
SS mg/l 680-1200
P
tổng
mg/l 36-72
N
tổng
mg/l 220-460
Dầu mỡ mg/l 5-58
(Nguồn: Trương Thanh Cảnh, 1997-1998)
2.2.1.3 Thành phần chất thải khí
Theo Trương Thanh Cảnh (1999), quá trình phân giải chất khí thải gia súc,
gia cầm do vi sinh vật như sau:
NH
3
Indol, Schatol, Phenol
Protêin
H
2
S
Axit hữu cơ mạch ngắn
Sơ đồ 2.1: Các sản phẩm từ quá trình phân huỷ kỵ khí các chất thải chăn nuôi
11
Lipit
H
2
S
Kết quả phân tích (mg/l) 0.45-0.58 1.3-1.55 0.045-0.06
TCVN5937-5938/1995 0.3 0.2 0.008
(Nguồn :Viện khoa học Nông Nghiệp Miền nam )
Các sản phẩm khí như NH
3
, H
2
S, Indol, Phenol, Schatole,…sinh ra có thể
gây kích thích mạnh hệ hô hấp và ô nhiễm môi trường. Theo tác giả Trương
Thanh Cảnh (1999), các khí sinh ra từ chăn nuôi được chia ra các nhóm sau :
Nhóm 1: Các khí kích thích
Những khí này có tác dụng gây tổn thương đường hô hấp và phổi, đặc biệt
là gây tổn thương niêm mạc của đường hô hấp. Nhất là NH
3
gây nên hiện tượng
kích thích thò giác, làm giảm thò lực.
Nhóm 2 : Các khí gây ngạt
Các chất khí gây ngạt đơn giản (CO
2
và CH
4
): những khí này trơ về mặt
sinh lý. Đối với thực vật, CO
2
có ảnh hưởng tốt, tăng cường khả năng quang hợp.
Nồng độ CH
4
thấm vào mạch nước ngầm gây ô nhiễm trầm trọng .
Ảnh hưởng của một số chất ô nhiễm chính đến môi trường nước
Chất hữu cơ: Trong thức ăn, một số chất chưa được đồng hóa và hấp
thụ bài tiết ra ngoài theo phân, nước tiểu cùng các sản phẩm trao đổi chất. Ngoài
13
Nghiên cứu áp dụng sản xuất sạch hơn tại Trung Tâm Nghiên Cứu và Huấn Luyện Chăn Nuôi
Bình Thắng - Viện Khoa Học Nông Nghiệp Miền Nam
SVTH: Trònh Thò Ngọc Linh
ra, các chất hữu cơ từ nguồn khác như thức ăn thừa, ổ lót, xác chết gia súc không
được xử lý. Sự phân huỷ này trải qua nhiều giai đoạn, tạo ra các hợp chất như
axitamin, axit béo, các khí gây mùi hôi khó chòu và độc hại.
Ngoài ra, sự phân huỷ các chất béo trong nước còn làm thay đổi pH của
nước, gây điều kiện bất lợi cho hoạt động phân huỷ các chất ô nhiễm.
Một số hợp chất cacbohydrat, chất béo trong nước thải có phân tử lớn nên
không thể thấm qua màng vi sinh vật. Để chuyển hóa các phân tử này, trước tiên
phải có quá trình thuỷ phân các chất phức tạp thành các chất đơn giản (đường
đơn, axit amin, axit béo mạch ngắn). Quá trình này tạo các sản phẩm trung gian
gây độc cho thuỷ sinh vật.
Nitơ, Phosphor
Khả năng hấp thụ nitơ, phosphor của gia súc tương đối thấp nên phần lớn
bài tiết ra ngoài. Do đó, hàm lượng nitơ, phosphor trong chất thải chăn nuôi tương
đối cao, nếu không xử lý sẽ gây hiện tượng phú dưỡng hóa nguồn nước, ảnh
hưởng đến hệ sinh thái nước, tuỳ theo thời gian và sự có mặt của oxy mà nitơ
trong nước tồn tại ở các dạng khác nhau : NH
4
+
, NO
2
-
, NO
Giếng lấy mẫu E.Coli (Mpn/100ml)
Feacal Coliform
(Mpn/100ml)
Sâu 13m, cách chuồng trại 5m 1200 150
Sâu 3m, cách chuồng trại 4m 43000 900
Sâu 20m, cách chuồng trại 6m 1300 230
TCVN 5944-1995 <=3 Không
2.2.2.2 Môi trường không khí
Môi trường không khí xung quanh khu vực chăn nuôi heo có đặc trưng là
mùi hôi thối của phân và nước tiểu phát tán nhanh, rộng theo gió. Vấn đề ô
nhiễm môi trường không khí gây khó khăn không kém gì ô nhiễm môi trường
nước, bởi khả năng tác động đến sức khoẻ con người và vật nuôi một cách nhanh
chóng nhất, dễ dàng nhất. Các chất khí thường gặp trong chăn nuôi là CO
2
, CH
4
,
H
2
S, NH
3
,…Những khí này có tính chất gây mùi và ảnh hưởng đến sự sinh trưởng,
kháng bệnh của cơ thể. Những khí này có thể được tạo ra với số lượng tương đối
15
Nghiên cứu áp dụng sản xuất sạch hơn tại Trung Tâm Nghiên Cứu và Huấn Luyện Chăn Nuôi
Bình Thắng - Viện Khoa Học Nông Nghiệp Miền Nam
SVTH: Trònh Thò Ngọc Linh
lớn và có độc hại đặc biệt là ở những cơ sở chuồng trại kín hoặc là thiếu thông
thoáng.
Ảnh hưởng của các chất ô nhiễm không khí
hiện thần kinh không bình thường.
200 ppm Có thể sinh chứng thuỷ thủng ở phổi nên khó
thở và có thể trở nên bất tỉnh, chết.
(Nguồn : Barker và cộng tác viên,1996)
Theo đường hô hấp vào máu, H
2
S được giải phóng lên não gây phù hoặc
phá hoại các tế bào thần kinh, làm tê liệt trung khu hô hấp, trung khu vận mạch,
tác động đến vùng cảm giác, vùng sinh phản xạ của các thần kinh, làm suy sụp
hệ thần kinh trung ương. Ngoài ra nó còn rối loạn hoạt động một số men vận
chuyển điện tử trong chuỗi hô hấp mô bào gây rối loạn hô hấp mô bào. H
2
S còn
16
Nghiên cứu áp dụng sản xuất sạch hơn tại Trung Tâm Nghiên Cứu và Huấn Luyện Chăn Nuôi
Bình Thắng - Viện Khoa Học Nông Nghiệp Miền Nam
SVTH: Trònh Thò Ngọc Linh
chuyển hoá Hemoglobin làm mất khả năng vận chuyển oxy của nó. Tiếp xúc với
H
2
S ở nồng độ 500 ppm trong khoảng 15-20 phút sẽ sinh bệnh tiêu chảy và viêm
cuống phổi.
Ảnh hưởng của CH
4
Khí metan cũng là sản phẩm của quá trình phân huỷ chất hữu cơ trong quá
trình phân huỷ sinh học. Có ảnh hưởng không nhỏ đến sức khoẻ con người và vật
nuôi. Nồng độ khí CH
4
trong không khí từ 45% trở lên gây ngạt thở do thiếu oxy.
Khi hít phải khí này có thể gặp những triệu chứng nhiễm độc như say, co giật,
oxy đến các cơ quan của hồng cầu và gây bệnh xanh xao ở trẻ nhỏ, trường hợp
nặng có thể gây thiếu oxy ở não dẫn đến nhứt đầu, mệt mỏi, hôn mê thậm chí có
thể gây tử vong .
Bảng 2.7: Ảnh hưởng của NH
3
lên người và heo
17
Nghiên cứu áp dụng sản xuất sạch hơn tại Trung Tâm Nghiên Cứu và Huấn Luyện Chăn Nuôi
Bình Thắng - Viện Khoa Học Nông Nghiệp Miền Nam
SVTH: Trònh Thò Ngọc Linh
Đối
Tượng
Nồng Độ Tiếp Xúc Tác Hại Hay Triệu Chứng
Với
người
6ppm đến 20 ppm trở lên Ngứa mắt, khó chòu ở đường hô hấp.
100 ppm trong 1 giờ Ngứa ở bề mặt niêm mạc.
400 ppm trong 1 giờ Ngứa ở mặt, mũi và cổ họng.
1720 ppm (dưới 30 phút) Ho, co giật dẫn đến tử vong.
700 ppm (dưới 60 phút) Lập tức ngứa ở mắt, mũi và cổ họng.
5000 ppm-10 000 ppm
(vài phút)
Gây khó thở và mau chóng ngẹt thở.
Co thắt do phản xạ họng, xuất huyết
phổi, ngất do ngạt, có thể tử vong.
10 000 ppm trở lên Tử vong
Với heo
50 ppm Năng suất và sức khoẻ giảm, nếu hít
thở lâu sẽ sinh ra chứng viêm phổi
và các bệnh khác về đường hô hấp.
indol, Schatole và phenol. Các chất khí này thường là sản phẩm của quá trình
phân huỷ kỵ khí phân, đã qua phân huỷ bởi vi sinh vật không sử dụng oxy. Cho
nên chúng ảnh hưởng rất mạnh đến khứu giác của con người. Những người dân đã
sống xung quanh có khả năng mắc các chứng bệnh về đường hô hấp rất cao.
Ảnh hưởng của bụi
Bụi từ thức ăn, lông thú hay phân là những hạt mang vi sinh vật gây bệnh,
hấp phụ các khí độc, các chất hoá học đi vào đường hô hấp và gây dò ứng, gây
xáo trộn hô hấp.
2.2.2.3 Môi trường đất
Trong chất thải gia súc, gia cầm có rất nhiều chất dinh dưỡng nếu bón vào
đất sẽ làm tăng độ phì nhiêu cho đất. Tuy nhiên do chứa nhiều chất hữu cơ, hợp
chất nitơ, phosphor. Nếu thải vào đất không hợp lý hoặc sử dụng phân tươi để bón
cho cây trồng, cây sử dụng không hết sẽ có tác dụng ngược lại. Lượng lớn nito,
phospho sẽ gây hiện tượng phú dưỡng hoá thành nitrat làm cho cây trồng. Lượng
vi sinh vật chuyển hoá nito và phosphor sẽ làm hạn chế số chủng loại vi sinh vật
khác trong đất, gây mất cân bằng hệ sinh thái đất hiện tại trong trung tâm. Thêm
vào đó, trong đất có nitrat cao khi trời mưa xuống sẽ thấm theo mạch nước ngầm
gây ô nhiễm nước ngầm.
2.3. Các giải pháp chung nhằm quản lí ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi
Khả năng sử dụng kinh tế chất thải chăn nuôi
19
Nghiên cứu áp dụng sản xuất sạch hơn tại Trung Tâm Nghiên Cứu và Huấn Luyện Chăn Nuôi
Bình Thắng - Viện Khoa Học Nông Nghiệp Miền Nam
SVTH: Trònh Thò Ngọc Linh
Bio gas
Phân và nước thải Phân bón và thức ăn cho cá
Sơ đồ 2.2 : Các sản phẩm thu được từ khí biogas
Chất thải chăn nuôi luôn giàu hữu cơ làm khả năng gây ô nhiễm càng cao.
Bên cạnh đó, những kỹ nghệ tận dụng chế phẩm chứa chất hữu cơ sẽ làm chất
thải chăn nuôi có hiệu quả kinh tế cao. Thực tế từ hệ thống xử lý phân và nước
xuất công nghiệp, sản phẩm và dòch vụ để giảm sử dụng tài nguyên thiên nhiên,
để phòng ngừa tại nguồn ô nhiễm không khí, nước và đất, và giảm phát sinh chất
thải tại nguồn, giảm thiểu rủi ro cho con người và môi trường".
Theo UNEP/UNIDO, Sản xuất sạch hơn là:
“ Sản xuất sạch hơn là quá trình áp dụng liên tục chiến lược phòng ngừa
tổng hợp về môi trường trong các quá trình sản xuất , sản phẩm và dòch vụ nhằm
nâng cao hiệu quả sinh thái và giảm thiểu rủi ro đến con người và môi trường.”
Đối với quá trình sản xuất: sản xuất sạch hơn bao gồm bảo toàn
nguyên liệu và năng lượng, loại trừ các nguyên liệu độc hại và giảm lượng và
tính độc hại của tất cả các chất thải ngay tại nguồn thải.
Đối với sản phẩm: sản xuất sạch hơn bao gồm việc giảm các ảnh
hưởng tiêu cực trong suốt chu kỳ sống của sản phẩm, từ khâu thiết kế đểán thải bỏ.
Đối với dòch vụ: sản xuất sạch hơn dưa các yếu tố về môi trường vào
trong thiết kế và phát triển các dòch vụ.
Mục tiêu của UNEP là đưa tiếp cận SXSH vào hoạt động hàng ngày ở
tất cả các loại doanh nghiệp khác, đáp ứng mong muốn của chúng ta “bảo tồn tài
nguyên và giảm thiểu chất thải”.
21
Nghiên cứu áp dụng sản xuất sạch hơn tại Trung Tâm Nghiên Cứu và Huấn Luyện Chăn Nuôi
Bình Thắng - Viện Khoa Học Nông Nghiệp Miền Nam
SVTH: Trònh Thò Ngọc Linh
SXSH yêu cầu chủ yếu là áp dụng bí quyết, thay đổi thái độ, cải tiến công
nghệ hiện có và hướng tới ứng dụng các công nghệ mới, tốt hơn và sạch hơn.
Điều quan trọng là phải giới thiệu chiến lược SXSH theo hướng ưu tiên và trật tự
này.
Ngày nay, khái niệm SXSH ngày càng được sử dụng rộng rãi trên thế giới
và thay dần các thuật ngữ giảm thiểu chất thải, phòng ngừa ô nhiễm, Trong
Chương trình Nghò sự 21, Hội nghò Môi trường và Phát triển của Liên hợp quốc
(UNCED) đã dành một sự ưu tiên lớn cho việc giới thiệu các phương pháp SXSH,
các công nghệ tuần hoàn chất thải và phòng ngừa ô nhiễm để đạt sự phát triển
trình sản xuất, chấp hành các chính sách môi trường.
Thay đổ thái độ: Tìm một cách tiếp cận mới cho các mối quan hệ giữa
công ty với môi trường bên trong và bên ngoài, đơn giản là nghó lại đầu vào
(nguyên liệu, nước, năng lượng,…) và đầu ra (sản phẩm và chất thải). Kết quả có
thể đạt được mà không cần phải cải tiến hoặc đưa vào công nghệ mới.
Cải tiến công nghệ thông qua một số cách sau:
Sơ đồ 3.2: Tam giác sản xuất sạch
• Thay đổi vật liệu độc hại;
• Thay đổi nguyên liệu;
• Thay đổi qui trình hay công nghệ sản xuất;
• Cải tiến sản phẩm;
23
Kinh tếMôi trường
Sản
Xuất
Sạch
Công nghệ
Nghiên cứu áp dụng sản xuất sạch hơn tại Trung Tâm Nghiên Cứu và Huấn Luyện Chăn Nuôi
Bình Thắng - Viện Khoa Học Nông Nghiệp Miền Nam
SVTH: Trònh Thò Ngọc Linh
• Thay đổi sản phẩm cuối cùng;
• Hoàn lưu nước và giảm lượng nước tiêu thụ;
• Tối ưu hóa các thông số công nghệ;
• Tiết kiệm năng lượng;
• Sử dụng lại chất thải trong nhà máy
• Hiệu chỉnh qui trình;
• Sử dụng công nghệ sản xuất mới.
3.2. Các lợi ích của sản xuất sạch hơn:
Kinh nghiệm thực tế đã chỉ ra rằng sản xuất sạch hơn không chỉ mang lại
lợi ích kinh tế mà còn cả lợi ích về mặt môi trường. Các lợi ích này có thể tóm tắt
• Tăng lợi thế cạnh tranh trên thò trường.
• Hình tượng của công ty ngày càng tốt hơn….
3.2.1. Giảm nguyên liệu và năng lượng sử dụng :
Do giá thành ngày một tăng của các nguyên liệu sử dụng cũng như hiện
trạng ngày càng khan hiếm nước, không một doanh nghiệp nào có thể chấp nhận
việc thải bỏ các tài nguyên này dưới dạng chất thải. Nước và năng lượng là đặc
biệt quan trọng, đặc biệt với các doanh nghiệp sử dụng với khối lượng lớn.
3.2.2. Tiếp cận tài chính dễ dàng hơn:
25