tiểu luận chuyên đề kinh tế viết báo kinh tế - Pdf 14

Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Khoa Phát thanh – Truyền hình
  
TIỂU LUẬN CHUYÊN ĐỀ
VIẾT BÁO KINH TẾ
Người thực hiện: Phi Thị Thu Khuyên
Hà Nội, tháng 12 năm 2008
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Nhu cầu về thông tin kinh tế của công chúng ngày càng lớn. Nhu cầu này
của họ phần lớn được đáp ứng là từ việc nghe, xem và đọc các sản phẩm truyền
thông. Độc giả, thính giả, khán giả và cả những “cư dân mạng” luôn tìm được
những thông tin bổ ích cho công việc, cuộc sống thường ngày từ các con số, sự
2
việc, thống kê, báo cáo về đời sống kinh tế và cả những cuộc tranh luận về tác
động của các hoạt động kinh doanh trong xã hội, ví dụ tới môi trường, tới cơ cấu
xã hội.
Trên thế giới, báo chí kinh tế đã phân hóa mạnh mẽ. Lĩnh vực bao quát
của các nhà báo kinh tế ngày càng mở rộng và sâu sát.
Ở Cộng hòa Liên bang Đức, phương tiện truyền thông in ấn có trọng tâm
là chủ đề kinh tế là ba tờ báo kinh tế phát hành từ thứ hai đến thứ sáu: tờ
Thương mại, tờ Quan sát kinh tế và tờ Kho bạc. Các tuần báo khu vực bắt đầu
chú trọng đến chủ điểm kinh tế là tờ Thời đại, Báo chủ nhật Toàn cảnh nước
Đức, tờ Chúa Jê-su và thế giới. Những tạp chí chuyên sâu về kinh tế cũng nở rộ
với các tờ Tiền vốn, DM, Nhịp độ, Người quản lý, Khoa học quản lý, Tuần kinh
tế, Kiểm tra, Kiểm tra tài chính…
Đề tài kinh tế trên truyền hình cũng đang gia tăng mạnh mẽ như chuơng
trình “Cộng trừ” (đài ARD), “Wiso” (đài ZDF) – đề cập những vấn đề từ các
doanh nghiệp và nền kinh tế quốc dân, chương trình Tiêu điểm, Sự kiện, Giám
sát (đài ARD), chương trình Đối mặt hoặc Wiso đặc biệt của đài ZDF hoặc
Chuyện trong tòa cao ốc của đài SAT1, Fox Business News (của tập đoàn truyền

nói Việt Nam cũng để một thời lượng không nhỏ cho các chương trình kinh tế
như Thời sự kinh tế (7h05 – 7h15), Kinh tế vĩ mô (8h05 – 8h15), Doanh nghiệp
và doanh nhân, Hội nhập kinh tế quốc tế, Diễn đàn kinh tế… Cùng với đó là các
phiên bản điện tử của các tờ báo in, các chương trình truyền hình về kinh tế và
các trang tin điện tử về kinh tế nổi tiếng như CafeF.vn liên tiếp xuất hiện.
Một số tờ báo lớn bắt đầu quy hoạch lại trang để tăng diện tích cho mảng
thông tin này. Ngay những tờ báo tưởng như không liên quan gì đến chứng
khoán cũng không thể đứng ngoài cuộc. Tuy nhiên, một số báo vốn đã có sự
chuẩn bị sẵn một đội ngũ phóng viên kinh tế vững vàng có thể yên tâm hơn để
mở trang, ra sản phẩm mới, đáp ứng nhu cầu thông tin kinh tế gia tăng nhanh
chóng của độc giả. Còn ngược lại, nếu thiếu sự chủ động đào tạo và bổ sung lực
lượng thì sự hẫng hụt có thể nhìn thấy rõ.
4
Tiểu luận không nhằm mang lại tri thức đầy đủ và toàn diện về kinh tế để
nâng cao chất lượng đội ngũ nhà báo kinh tế nhưng cũng muốn làm rõ hơn cho
độc giả vai trò của báo chí kinh tế để có sự đánh giá đúng tầm quan trọng, cải
thiện diện tích và chất lượng của mảng này trên mặt báo. Đồng thời tiểu luận
cũng cung cấp những kiến thức cần trang bị cho phóng viên kinh tế ngày nay.
I. BÁO CHÍ KINH TẾ
1. Vai trò
Để hiểu được vai trò của báo chí kinh tế thì trước tiên ta phải hiểu được
cái nó phản ánh, bình luận và phân tích: thông tin kinh tế.
5
Hầu hết ai cũng hiểu rõ thông tin có vai trò quan trọng như thế nào đối với
con người. Thông tin là sự phản ánh tri thức và hiểu biết. Không có thông tin thì
con người không có sự dẫn dắt cho các hoạt động của mình và hoàn toàn bất
định trong môi trường đó.
Tương tự như vậy, thông tin kinh tế (những dữ liệu phản ánh lĩnh vực
hoạt động kinh tế của xã hội được thu thập, xử lý và cung cấp cho các chủ thế
trong các quá trình quản lý và thực hiện các hoạt động kinh tế của họ) có thể coi

trường để đưa ra các quyết định kinh tế tối ưu.
Quản lý và thực hiện các hoạt động kinh tế của các chủ thể này thực chất
là quá trình đề ra và thực hiện các quyết định đó. Thông tin luôn gắn liền với các
hoạt động này. Nó chính là “nguyên liệu” có ảnh hưởng lớn đến chất lượng của
hoạt động quản lý. Sản phẩm của hoạt động quản lý là các quyết định cũng
chính là các thông tin. Thông tin là công cụ truyền đất các ý đồ của chủ thể quản
lý tới các đối tượng quản lý. Đồng thời, thông tin kinh tế dưới dạng các thông lệ,
quy tắc ứng xử, các quy luật kinh tế được tổng kết,… góp phần tạo và làm tăng
thêm năng lực, kỹ năng của những người ra quyết định ở các doanh nghiệp, gia
đình cũng như các cơ quan của Chính phủ. Đó chính là tiền đề để các nhà quản
lý tránh được chủ quan, cảm tính, xa lạ với thực tế khi ra các quyết định.
Thông tin kinh tế còn giữ vai trò là tài sản quan trọng, tạo nên sức mạnh
của mỗi tổ chức, của mỗi quốc gia. Thông tin kinh tế nói riêng và thông tin nói
chung là sản phẩm của lao động trí tuệ của con người. Nó được tạo ra, được lưu
trữ và sử dụng nhằm làm tăng năng lực tạo ra của cải vật chất cả con người. Vì
vậy, trong nền kinh tế thị trường hiện đại, nền kinh tế hậu công nghiệp, thông tin
không chỉ là một lực lượng sản xuất trực tiếp của xã hội mà nó còn giữ vai trò
động lực chính của mỗi quá trình sản xuất và của nền kinh tế.
Trong điều kiện hữu hạn của các tài nguyên thiên nhiên kể cả là lực lượng
lao động, con đường tăng trưởng của kinh tế ngày nay là sử dụng công nghệ mới
trong các quá trình sản xuất. Các thông tin về tình hình thị trường, về khách
hàng, về cạnh tranh, về các môi trường tự nhiên, chính trị, xã hội bên trong và
bên ngoài quốc gia còn giúp cho mỗi doanh nghiệp, mỗi quốc gia tìm kiếm lợi
7
thế cạnh tranh của họ. Vì vậy thông tin được xem như một tài sản quan trọng
của mỗi tổ chức trong nền kinh tế thị trường, như bất kỳ tài sản nào khác (tài
nguyên thiên nhiên, vốn kỹ thuật, vốn bằng tiền, lao động).
Thông tin là tài sản vô hình tồn tại trong các vật mang tin hữu hình. Đó là
những dấu hiệu (từ ngữ, hình ảnh hay bất kỳ ký hiệu nào khác) được lưu trữ trên
các phương tiện khác nhau như đĩa, băng, giấy tờ văn bản, bộ não của con

người sở hữu và sử dụng chúng, của mỗi quốc gia. Trong nền kinh tế thị trường
ngày nay, sức mạnh không chỉ thể hiện ở những nguồn nhân lực hữu hình mà cả
các nguồn lực vô hình, trong đó có thông tin nói chung và thông tin kinh tế nói
riêng. Các quốc gia, các tổ chức kinh tế mạnh do có mạng lưới thông tin hoàn
chỉnh, chủ động nắm bắt các thời cơ để thực hiện thành công các ý đồ phát triển
kinh tế của mình. Ngày nay người ta thấy rằng các cường quốc thông tin (Mỹ,
Tây Âu, Nhật Bản,…) đồng thời là các cường quốc kinh tế.
Cũng không ai có thể phủ nhận một điều, phương tiện thông tin đại chúng
(báo chí) là hệ thống hữu hiệu truyền tải các thông tin kinh tế bên trong và bên
ngoài quốc gia. Là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng, báo chí kinh tế giống
như tấm gương phản ánh đời sống kinh tế với cả ưu điểm và hạn chế, đi lên và
thăng trầm, cả mặt sáng và mặt tối. Song có một điều không thể phủ nhận trong
mối “duyên nợ” này là kinh tế có phát triển vững thì báo chí kinh tế mới mạnh.
Ngược lại, báo chí kinh tế mạnh sẽ là kênh thông tin, là cầu nối, là chất xúc tác
cho các quan hệ kinh tế trong đời sống kinh tế phát triển. Những khu vực có hệ
thống PTTTĐC kinh tế mạnh cũng chính là các cường quốc về kinh tế trên thế
giới như Mỹ, Tây Âu, Nhật Bản…
2. Liên hệ thực tiễn Việt Nam
Thời hội nhập kinh tế toàn cầu đã đem lại cơ hội phát triển chưa từng có
cho giới doanh nhân. Đời sống báo chí kinh tế cũng vì nhu cầu cấp thiết về
thông tin kinh tế mà thực sự trở nên sôi động. Quan hệ tương hỗ giữa báo chí
9
kinh tế và doanh nghiệp cũng ngày càng phát triển trong nền kinh tế thị trường
xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang xây dựng.
Qua điều tra 300 doanh nghiệp cho thấy: 203 doanh nghiệp thu thập thông
tin từ các phương tiện thông tin đại chúng để đưa ra các quyết định kinh tế; 171
doanh nghiệp sử dụng thông tin từ tạp chí và các ấn phẩm khác; 90 doanh
nghiệp sử dụng dịch vụ môi giới; 46 doanh nghiệp thu thập thông tin từ các
trung tâm tư liệu; 72 doanh nghiệp sử dụng mạng máy tính để thu thập thông tin
(trích kết quả điều tra trong luận án TS Kinh tế năm 2000: Thông tin kinh tế

dưới sự lãnh đạo của Đảng cùng vai trò tuyên truyền tích cực của báo chí kinh tế
đã ngày càng làm thay đổi cách nhìn của xã hội đối với giới doanh nhân, doanh
nghiệp. Cách đây hơn 10 năm, người viết bài này có dịp làm một đề tài khoa học
về chuyên mục Chuyện làm ăn của nhà báo Hữu Thọ, nguyên Trợ lý Tổng Bí
thư, Tổng biên tập báo Nhân dân. Quá trình nghiên cứu và trao đổi trực tiếp với
ông cho thấy: trên con đường đổi mới đầy chông gai, Đảng, Nhà nước trăn trở
với chủ trương, chính sách đổi mới kinh tế bao nhiêu thì những người làm báo
kinh tế cũng trăn trở, đau đáu gấp bội với việc đưa đường lối của Đảng vào cuộc
sống, với những câu hỏi nóng bỏng từ thực tiễn làm ăn của các doanh nghiệp.
Có tới 1001 vấn đề nhạy cảm là những “câu hỏi lớn” từ thực tiễn lao động sản
xuất đã được báo chí chuyển tải đến các nhà lãnh đạo cùng với sự phân tích,
luận giải, dự báo. Nếu không có sự ủng hộ đầy nhiệt thành, dũng cảm của giới
báo chí với giới kinh doanh thì khó mà có được những quyết sách kinh tế kịp
thời Giờ đây, doanh nhân đã trở thành một lực lượng có vai trò quan trọng
trong sự nghiệp xây dựng đất nước giàu mạnh, được tôn vinh. Giới doanh nhân
đã có ngày 13-10 – ngày Bác Hồ gửi thư cho giới công thương Việt Nam năm
1946 là ngày truyền thống của mình. Nhưng để có được ngày này, cùng với sự
quan tâm của Đảng, Nhà nước, sự nỗ lực của Phòng Thương mại Công nghiệp
Việt Nam, phải kể đến vai trò của báo chí trong việc tôn vinh giới doanh nhân,
đưa họ từ chỗ làm nghề ít được coi trọng bước lên vị trí của một trong những
nghề cao quí của xã hội. Không chỉ góp phần làm thay đổi nhận thức của xã hội,
vai trò của báo chí kinh tế trong xây dựng văn hoá doanh nhân, doanh nghiệp
còn thể hiện trên hàng loạt vấn đề quan trọng khác như: tuyên truyền, phổ biến
11
đường lối, chính sách, pháp luật kinh tế; giúp giới doanh nhân, doanh nghiệp
nắm vững thông tin kinh tế, thông tin thị trường, xây dựng thói quen, phong
cách làm ăn chuyên nghiệp trong “sân chơi” lớn, hình thành văn hoá kinh doanh.
Báo chí kinh tế với vũ khí phê phán sắc bén cũng là nơi phản ánh kịp thời những
khuyết tật của nền kinh tế thị trường, tệ tham nhũng, quan liêu, buôn gian bán
lận giúp cho doanh nhân, doanh nghiệp nhận thức, điều chỉnh hành vi và hoạt

“vấn đề chờ cơ quan chức năng”, “ý kiến doanh nghiệp”, “nhà quản lý trả lời”
để doanh nhân, doanh nghiệp bày tỏ, phản ánh những hiện tượng nhũng nhiễu,
vi phạm pháp luật, gây khó cho doanh nghiệp. Các tờ báo cũng nên thường
xuyên làm cầu nối tổ chức gặp gỡ, trao đổi giữa doanh nghiệp và các cơ quan
Nhà nước về việc thực hiện cơ chế, chính sách, qua đó doanh nghiệp hiểu thêm
nội dung các cơ chế chính sách còn Nhà nước nắm thêm thực tế, giúp cho việc
hoạch định chính sách được sát thực hơn.
Để xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi, báo chí kinh tế cần xung
kích hơn nữa trên mặt trận chống tiêu cực, cải cách thủ tục hành chính hiện nay.
Cần đi sâu luận giải, phân tích, kiến nghị để tiếp tục đẩy mạnh cuộc cải cách
hành chính theo hướng dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp và hiện
đại hoá; giúp cho các cơ quan Nhà nước cần tạo thói quen làm việc với các hiệp
hội doanh nghiệp, tôn trọng các quyền của hiệp hội, lắng nghe và giải quyết
đúng pháp luật những kiến nghị của hiệp hội; giúp các doanh nghiệp, doanh
nhân tham quan, khảo sát, tiếp cận thị trường thế giới, đồng thời tiếp xúc, giao
lưu văn hoá và học tập tinh hoa văn hoá kinh doanh của các doanh nghiệp trên
thế giới. Có thể nêu vụ việc cấm container HC 40 feet trên Quốc lộ 5 đã buộc
các doanh nghiệp vận tải container phải “chi ngoài luồng” rất lớn để được chạy
xe diễn ra gần đây là một ví dụ. Nhờ nhiều tờ báo lên tiếng, cơ quan chức năng
đã thấy quy định cấm này vốn đã không hợp lý, lại không được thực hiện triệt
để, khiến doanh nghiệp muốn chạy xe phải “biết chi”. Rõ ràng, quy định cấm chỉ
làm phát sinh thêm những tiêu cực trên đường, mà doanh nghiệp trong trường
hợp này là đối tượng bị động, bị lôi vào cuộc phạm luật. Nhờ báo chí phản ánh
kịp thời mà hiện tượng này được chấm dứt, bảo vệ quyền lợi chính đáng của
doanh nghiệp.
13
2.2 Báo chí kinh tế với việc đấu tranh chống những khuyết tật của
nền kinh tế thị trường, xây dựng văn hoá doanh nhân, doanh nghiệp.
Trên trận tuyến chống tham nhũng, lãng phí, chống những hiện tượng
buôn gian, bán lận thời gian qua, báo chí kinh tế đã thực sự chứng minh vai trò

cho xã hội, bảo vệ công lý đồng thời giúp giới doanh nhân, doanh nghiệp phát
triển. Tất nhiên ở đây, cần nhận thức một thực tế là tình hình thực tiễn kinh
doanh của các doanh nghiệp ở nước ta hiện nay rất sôi động nhưng cũng rất
phức tạp. Bên cạnh số doanh nghiệp làm ăn nghiêm chỉnh, góp phần dựng xây
đất nước hiện tượng “doanh nghiệp ma”, buôn lậu, trốn thuế khá phổ biến báo
chí kinh tế khi xác định “xây đi đôi với chống” không có nghĩa là “thoả hiệp”,
“hiền lành” thái quá sẽ vô hình trung tiếp tay cho những “doanh nghiệp ma”
này. Báo chí kinh tế, khi phê phán những vấn đề vĩ mô cũng cần chú ý hơn nữa
trong xây dựng văn hoá doanh nhân, phê phán những hạn chế từ “văn minh lúa
nước” vẫn tàn dư trong một số doanh nhân Việt Nam mà cụ Lương Văn Can đã
mô tả cách đây gần cả trăm năm: “không có thương phẩm- không có kiên tâm –
không có nghị lực – không biết trọng nghề - không có thương học – kém đường
giao thiệp – không biết tiết kiệm – khinh nội hoá”. Hay thói quen xấu đút lót,
chạy chọt, tiếp tay cho tham nhũng; thói nhậu nhẹt, thích ra oai
Ở đây, bên cạnh “chống” phải chú ý hơn đến “xây”. Các tờ báo kinh tế
cũng cần chú ý cân đối giữa thông tin đấu tranh chống tiêu cực và thông tin
khác, có khen, có chê theo một tỷ lệ phù hợp. Chính Thủ tướng Chính phủ cũng
đã nhiều lần nhắc nhở: Đi ra nước ngoài thấy họ đánh giá rất cao công cuộc đổi
mới. Nhưng nhiều tờ báo quá sa đà vào “vụ việc”, chê nhiều hơn khen, đọc lên
chỉ toàn thông tin tiêu cực, vụ án nọ kia khiến người ta có cảm giác xã hội đen
tối quá! Vì vậy, các phương tiện thông tin đại chúng, các sáng tác văn học nghệ
thuật cũng cần quảng bá và giảng dạy mạnh mẽ, sâu sắc hơn nữa về các doanh
nghiệp và doanh nhân văn hoá, cổ vũ cái đúng, cái tốt, cái đẹp trong văn hoá
kinh doanh.
2.3 Vấn đề quảng cáo trên báo chí hiện nay
Quảng cáo trên báo chí, như chúng ta đã biết, là một kênh truyền thông
cực kỳ hữu hiệu trong việc giới thiệu hình ảnh doanh nghiệp, giúp trực tiếp tăng
15
lợi nhuận của quá trình sản xuất kinh doanh. Những doanh nghiệp lớn đều coi
quảng cáo trên báo chí là một vấn đề nằm trong chiến lược phát triển của mình.

Để cải thiện vấn đề này, một số tờ báo lớn, đủ “sống” nhờ phát hành đã
dám “nói không” với quảng cáo trên báo hằng ngày (như báo Công an nhân dân
là một ví dụ). Nhưng thiết nghĩ với báo chí nói chung thì không thể làm điều
này. Vấn đề quan trọng là phải quản lý hoạt động quảng cáo như thế nào. Mỗi
cơ quan báo chí không nên thả lỏng hay “thương mại hoá quảng cáo” mà cần
nâng cao chất lượng, hiệu quả quảng cáo theo hướng phục vụ doanh nghiệp,
phục vụ bạn đọc. Trên thực tế thì những tờ quảng cáo khô khan trong thời buổi
công nghiệp đang là sự “tra tấn” bạn đọc. Nhiều chuyên gia và bạn đọc cho rằng
nên thay hình thức quảng cáo truyền thống hiện nay bằng những bài viết, phụ
san dạng như: hướng dẫn tiêu dùng, thông tin tuyên truyền về doanh nghiệp.
Công tác quản lý hoạt động quảng cáo, đặc biệt là quản lý về giá cả quảng cáo,
định mức quảng cáo nếu được xiết chặt cũng sẽ giúp tránh tình trạng lộn xộn
như hiện nay. Cũng có thể thay thế hình thức quảng cáo truyền thống bằng việc
doanh nghiệp phối hợp với các cơ quan báo chí tổ chức các hoạt động văn hoá –
xã hội, thông tin tuyên truyền, tài trợ các chuyên mục để thông qua đó gián
tiếp quảng bá hình ảnh của mình. Việc các doanh nghiệp tài trợ cho các cuộc thi
báo chí, các hội thảo khoa học như hiện nay là một hướng đi tốt, vừa giúp nâng
cao chất lượng nghiệp vụ của cơ quan báo chí, vừa giúp doanh nghiệp quảng bá
hình ảnh của mình, hai bên cùng có lợi. Thiết nghĩ, trong tương lai, doanh
nghiệp, hoặc một số doanh nghiệp có thể liên kết, phối hợp với một hay nhiều
cơ quan báo chí để phản ánh, điều tra về chính những vấn đề khó khăn, vướng
mắc của mình; mở những diễn đàn để kiến nghị về cơ chế chính sách liên quan
đến chính doanh nghiệp, qua đó thúc đẩy doanh nghiệp phát triển. Tới đây, Bộ
Văn hoá thông tin khi nghiên cứu và đề xuất việc xác lập rõ trách nhiệm của các
ban ngành chức năng trong định hướng và quản lý hoạt động báo chí; tham mưu
việc sửa đổi, bổ sung Luật Báo chí cho phù hợp với tình hình mới cần chú ý hơn
nữa tới tăng cường quản lý hoạt động quảng cáo.
17
Sân chơi WTO - cuộc chơi lớn đầy cơ hội nhưng cũng đầy thách thức đã
đến gần. Hơn 200 nghìn doanh nghiệp Việt Nam đang đứng trước nhiều câu hỏi

Hiệp hội phát triển quốc tế (IDA): được thành lập từ năm 1960, đến năm
2006 có khoảng 160 thành viên với số vốn pháp định khoảng 60 tỷ USD. Mục
tiêu của IDA là giúp các nước nghèo nhất thế giới phát triển kinh tế. (các nước
có GDP < 600 USD/người/năm) và mọi hoạt động đều do IRBD thực hiện.
Nguyên tắc của IDA là chỉ cho các Chính phủ các nước vay chứ không cho
doanh nghiệp (hoặc thực thể nào đó) của các nước thành viên vay. Các khoản
cho vay của IDA khá ưu đãi với thời hạn dài từ 30 – 45 năm, ân hạn 10 năm và
hầu như không tính lãi suất cho vay mà chỉ tính phí giao dịch.
Công ty tài chính quốc tế (IFC): được thành lập từ năm 1956 như là một
chi nhánh của IRBD, song lại là một pháp nhân riêng biệt để huy động vốn từ
IRBD và các nguồn khác trên thị trường vốn quốc tế. Hiện nay, IFC có khoảng
180 thành viên tham gia. Mục tiêu của IFC là hỗ trợ phát triển kinh tế cho các
thành viên đang phát triển thông qua sự giúp đỡ phát triển khu vực kinh tế tư
nhân và giúp đỡ huy động các nguồn vốn trong và ngoài nước vào mục đích này
bằng cách mua cổ phần hoặc cho vay mà không cần đến sự bảo lãnh của Chính
phủ. Các khoản cho vay của IFC có thời hạn từ 7 – 12 năm với lãi suất phụ
thuộc vào lãi suất huy động của các nguồn trên thị trường.
Công ty đảm bảo đầu tư đa biên (MIGA): thành lập năm 1988, hiện nay
có khoảng 160 thành viên tham gia. Mục đích của MIGA là khuyến khích đầu tư
vào các nước đang phát triển thông qua đầu tư mua cổ phiếu và đầu tư trực tiếp
giảm bớt các trở ngại phi thương mại đối với các hoạt động đầu tư, bảo lãnh đầu
tư…
Ngoài ra Trung tâm giải quyết các tranh chấp liên quan đến đầu tư
(ICSID) thành lập năm 1966 với 140 thành viên, cũng nằm trong 5 định chế của
Ngân hàng Thế giới. Ra đời với mục tiêu khuyến khích đầu tư vào các nước
đang phát triển thông qua hình thức cung cấp cơ sở vật chất, giải quyết tranh
1
Thời gian ân hạn là khoảng thời gian bổ sung mà bên cho vay cho phép bên vay trả nợ mà không bị phạt (Nếu
vượt quá thời gian này sẽ bị phạt)
19

Trong những năm 1950 và 1960, Ngân hàng Thế giới chú trọng cho vay
đầu tư vào cơ sở hạ tầng. Sau đó, các khoản cho vay dành cho lĩnh vực sản xuất
có phần tăng lên trong các cam kết trong những năm 1970.
Sau khi bắt đầu khủng hoảng vay nợ tại các nước đang phát triển (năm
1982), Ngân hàng Thế giới cung cấp càng nhiều các khoản cho vay nhưng
không phải cho các dự án kinh tế vi mô như trước nữa, mà để cải cách thay đổi
cơ cấu kinh tế dài hạn có điều kiện (làm chủ các chi tiêu công, tự do hóa thương
mại, tư nhân hóa). Như vậy, Ngân hàng Thế giới đã xích lại gần với IMF và
cùng với thiết chế này chia sẻ nhiệm vụ.
Các khoản cho vay phục vụ cải cách cơ cấu – SAL (chiếm 15% các khoản
cho vay năm 1987) liên tục tăng (hiện nay chiếm 30%), làm giảm phần đầu tư
vào lĩnh vực sản xuất. Các khoản đầu tư này ngày càng được tài trợ trong khuôn
khổ phối hợp với các nhà đầu tư công hoặc tư khác. Đa phần các khoản tín dụng
cơ cấu được đầu tư vào các lĩnh vực nhạy cảm (như bảo hộ xã hội và môi
trường).
Tính tổng cộng Ngân hàng Thế giới (IRBD và IDA) đã cho vay 22 tỷ
USD năm 1999, một con số không nhỏ so với tổng lưu chuyển tài chính về các
nước đang phát triển (230 tỷ USD) và vốn ODA (50 tỷ USD).
Trong năm tài chính 2004, Ngân hàng Thế giới cho vay tập trung vào 3
lĩnh vực chính: Luật, tư pháp và quản trị công; giao thông vận tải; các dịch vụ y
tế và xã hội.
Mới đây, Ngân hàng Thế giới buộc phải xem xét chủ trương về cho vay
có điều kiện vì hai lý do. Thứ nhất, các cuộc cải cách cơ cấu kinh tế có những
hiệu ứng trái ngược nhau, và các cuộc khủng hoảng tài chính cuối những năm
1990 buộc thiết chế tài chính này phải quan tâm hơn nữa đến tác động của cải
cách đến những tầng lớp dân cư dễ bị tổn thương nhất. Thứ hai, có rất nhiều
trùng hợp giữa các điều kiện và chính sách cải cách cơ cấu kinh tế do Ngân hàng
Thế giới và Quỹ tiền tệ quốc tế đưa ra đã khuyến khích hai thiết chế này phối
hợp tích cực hơn nữa với nhau, đây là hai lý do khiến Ngân hàng Thế giới xác
định lại các ưu tiên của mình.

triển này là trọng tâm hoạt động của WB tại Việt Nam. Theo đó, WB sẽ cung
22
cấp các dịch vụ cho vay ưu đãi đối với các dự án phát triển đặc biệt là về hạ tầng
cơ sở kinh tế và xã hội như giao thông, năng lượng, phát triển nông nghiệp và
nông thôn, giáo dục, y tế,… Đồng thời WB cũng cung cấp hỗ trở kỹ thuật, thông
tin, và kinh nghiệm quốc tế đối với các vấn đề phát triển.
WB đã xây dựng Chiến lược hỗ trợ Việt Nam với mục tiêu hỗ trợ Việt
Nam thực hiện Chương trình xóa đói giảm nghèo và tăng trưởng công bằng
thông qua các chương trình/ dự án, các dịch vụ tư vấn và hỗ trợ kỹ thuật.
Chương trình hỗ trợ Việt Nam giai đoạn 2004 – 2006 được xây dựng trên cơ sở
Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo của Chính phủ
(CPRGS).
Tính đến nay Việt Nam đã vay WB trên 40 khoản tín dụng với tổng số
vốn vay khoảng 4 tỷ USD. Nguồn vốn hỗ trợ của WB được dành để thực hiện
một số dự án mà đến nay đã bắt đầu phát huy hiệu quả như các dự án Phục hồi
và phát triển ngành điện, nâng cấp Quốc lộ 1, đoạn Hà Nội – Vinh, thành phố
Hồ Chí Minh – Cần Thơ, dự án Dân số và sức khỏe gia đình, dự án Giáo dục
tiểu học, dự án Giáo dục đại học, dự án Phục hồi thủy lợi miền Trung… Các
khoản giải ngân nhanh như SAC-1, Tài chính nông thôn, Hiện đại hóc hệ thống
thanh toán ngân hàng, Tín dụng hỗ trợ giảm nghèo, Giảm nợ và dịch vụ giảm nợ
đã hỗ trợ Chính phủ cân đối ngân sách hoặc hỗ trợ vốn cho ngân sách thực hiện
các chương trình ưu tiên của Chính phủ, hỗ trợ và tăng vốn tín dụng cho khu
vực nông thôn…
Ngoài các dự án tín dụng, WB đã cung cấp cho Việt Nam trên 40 dự án
hỗ trợ kỹ thuật với tổng giá trị trên 25 triệu USD. Các khoản hỗ trợ kỹ thuật này
(chủ yếu bằng viện trợ không hoàn lại) do WB tài trợ hoặc do WB huy động từ
các nguồn đồng tài trợ giúp Việt Nam tiến hành chuẩn bị các dự án đầu tư và hỗ
trợ tăng cường thể chế.
2. Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF)
Quỹ tiền tệ quốc tế (tiếng Anh: International Monetary Fund, viết tắt

Từ cuối đại chiến thế giới thứ 2 cho đến cuối năm 1972, thế giới tư bản đã
đạt được sự tăng trưởng thu nhập thực tế nhanh chưa từng thấy. (Sau đó sự hội
nhập của Trung Quốc vào hệ thống tư bản chủ nghĩa đã thúc đẩy đáng kể sự
tăng trưởng của cả hệ thống.) Trong hệ thống tư bản chủ nghĩa, lợi ích thu được
từ tăng trưởng đã không được chia đều cho tất cả, song hầu hết các nước tư bản
đều trở nên thịnh vượng hơn, trái ngược hoàn toàn với những điều kiện trong
khoảng thời gian trước của những nước tư bản trong thời kỳ giữa hai cuộc chiến
tranh thế giới.
Trong những thập kỷ sau chiến tranh thế giới hai, kinh tế thế giới và hệ
thống tiền tệ có thay đổi lớn làm tăng nhanh tầm quan trọng và thích hợp trong
việc đáp ứng mục tiêu của IMF, nhưng điều đó cũng có nghĩa là yêu cầu IMF
thích ứng và hoàn thiện cải tổ. Những tiến bộ nhanh chóng trong kỹ thuật công
nghệ và thông tin liên lạc đã góp phần làm tăng hội nhập quốc tế của các thị
trường, làm cho các nền kinh tế quốc dân gắn kết với nhau chặt chẽ hơn. Xu
hướng bây giờ mở rộng nhanh chóng hơn số quốc gia trong IMF.
Ảnh hưởng của IMF trong kinh tế toàn cầu được gia tăng nhờ sự tham gia
đông hơn của các quốc gia thành viên. Hiện IMF có 184 thành viên, nhiều hơn
bốn lần so với con số 44 thành viên khi nó được thành lập.
Nguồn vốn của IMF là do các nước đóng góp, các nước thành viên có cổ
phần lớn trong IMF là Mỹ (17,46%), Đức (6,11%), Nhật Bản (6,26%), Anh
(5,05%) và Pháp (5,05%).
Tổng vốn của IMF là 30 tỷ Dollar Mỹ (1999).
2.1 Nhiệm vụ và vai trò
Từ khi được thành lập IMF không ngừng thích ứng với những thay đổi
sâu sắc của hệ thống tiền tệ quốc tế. Tổ chức này đã đảm nhiệm nhiều nhiệm vụ
mới trong khuôn khổ một quy chế gần như không đổi.
Khi mới thành lập IMF đề ra mục tiêu rõ ràng là điều chỉnh hệ thống tỷ
giá cố định dựa trên hợp tác quốc tế.
Nhiệm vụ chính của tổ chức này, nhiệm vụ cho phép IMF tư vấn trong
lĩnh vực kinh tế vĩ mô, là giám sát chính sách kinh tế của các quốc gia thành


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status