Tiểu luận: Xã hội học y tế trình bày vai trò của dân số và y tế, tác động của dân số đến y tế - Pdf 14

Xã hội học dân số
1

Tiểu luận
Xã hội học y tế
Xã hội học dân số
27.2.
DÂN SỐ VÀ Y TẾ
Sức khỏe con người là một trong những mối quan tâm ưu tiên hàng đầu của tất cả
các quốc gia trên thế giới. Tuyên ngôn của Hội nghị quốc tế về chăm sóc sức khỏe ban
đầu tại Alma Ata (năm 1978) Chương trình hành động của Hội nghị quốc tế về Dân số
và phát triển tại Cairo (năm 1994), đã nhấn mạnh tầm quan trọng của công tác chăm sóc
sức khỏe đối với việc phát triển chất lượng dân số và ổn định quy mô, cơ cấu dân số
[2,107]. Ở Việt Nam, trong Chiến lược dân số Việt Nam 2001- 2010 đã khẳng định:
“Dân số là một phận quan trọng của chiến lược phát triển đất nước, là một trong những
yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình và toàn
xã hội, góp phần quyết định để thực hiện công cuộc CNH- HĐH đất nước”. Chiến lược
về dân số là một bộ phận quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, là nền
tảng trong chiến lược phát triển con người của Đảng và Nhà nước ta. Để thực hiện chiến

khóa VII về chính sách DS- KHHGĐ. Kết quả đạt được của chương trình DS- KHHGĐ
Việt Nam đã góp phần đáng kể vào việc đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói
giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống và tăng thu nhập bình quân đầu người
(GDP) hàng năm trong thập kỷ qua.
Mặc dù mức sinh giảm nhanh, nhưng quy mô dân số Việt Nam vẫn ngày một lớn
do số dân tăng thêm trung bình mỗi năm còn ở mức cao. Trung bình mỗi năm dân số
Việt Nam tăng thêm khoảng 1 triệu đến 1,1 triệu người. Như vậy, vấn đề dân số bao
gồm cả quy mô, cơ cấu, chất lượng dân số và phân bố dân cư, là những thách thức lớn
đối với sự phát triển bền vững đất nước và nâng cao chất lượng cuộc sống nhân dân cả
hiện tại và trong tương lai.

Xã hội học dân số
4

Bảng 1: Tình hình dân số trung bình hàng năm ở nước ta
năm 1999- 2008.
(Đơn vị: 1000 người)
Năm Tổng số Nam Nữ
1999 76.596,70

37.662,1

38.934,6

2000 77.635,40

38.166,4


42.260,1

2006 84.136,80

41.354,9

42.781,9

2007 85.171,70

41.868,0

43.303,7

2008 86.210,80

42.384,5

43.826,3(Nguồn: Niên giám thống kê năm 2008)
Tính đến năm 2008, dân số Việt Nam đã ở mức 86,2 triệu người, đứng thứ 13 trên
thế giới. Nếu duy trì được mức sinh thay thế thì đến giữa thế kỷ, dân số mới ổn định ở
mức 115-120 triệu người. Trong khi đó, chỉ số phát triển con người và chất lượng dân số
lại thấp, xếp thứ 108/177 nước. Tuổi thọ trung bình tuy đã đạt đến 71,3 nhưng theo đánh
giá của Tổ chức Y tế Thế giới, tuổi thọ khỏe mạnh chỉ đạt 58,2 tuổi, xếp 116/174 nước.
Xã hội học dân số
5

Hàng năm, Việt Nam có khoảng 15% phụ nữ có thai sẽ gặp phải các biến chứng
không thể phòng ngừa hay dự đoán trước. Tuy nhiên, có tới 80% trường hợp tử vong có
nguyên nhân trực tiếp là một trong 5 tai biến sản khoa như: băng huyết sau sinh, nhiễm
trùng hậu sản, uốn ván rốn, ngộ độc thai và vỡ tử cung. Nguy cơ tử vong khi sinh của
phụ nữ miền núi cao gấp 10 lần so với phụ nữ đồng bằng. Giảm tỷ suất tử vong mẹ, đặc
biệt là ở khu vực miền núi, vùng sâu và vùng xa là một trong những vấn đề ưu tiên hàng
đầu của Việt Nam. Mục tiêu của ngành y tế năm 2010 là giảm tỷ suất tử vong mẹ trung
bình trên toàn quốc là 130/100.000 ca. (Giảm tỷ lệ tử vong của mẹ ở vùng sâu, vùng xa,
05/02/2009, vietnamplus.vn)
* Gia tăng dân số ảnh hưởng chăm sóc sức khỏe sinh sản
Bảng 2:Chăm sóc sức khỏe sinh sản năm 2007- 2008
(Đơn vị : Người)
STT

Ch
ỉ ti
êu

Đơn v
ị tính

2007

2008

1 Số người nạo thai Người 115.510

98.948

2 Số hút điều hòa kinh nguyệt Lần 256.992


Vùng

Hút đi
ều h
òa kinh nguy
ệt

N
ạo thai

1 Tổng số 233.206

98.948

2 Tuyến TƯ và các ngành 10.322

5.377

3 Đồng bằng sông Hồng 40.894

7.398

4 Đông Bắc 27.555

10.910

5 Tây Bắc 6.736

2.088

Trong đó
:

các bi
ện pháp

hiện đại
1998

2003

2005

2007

1998

2003

2005

2007

Toàn qu
ốc

71,9

75,3


đối.[4; 40].
c/ Gia tăng dân số ảnh hưởng đến sức khỏe trẻ em
Việt Nam là nước đầu tiên ở châu Á và là nước thứ hai trên thế giới phê chuẩn
Công ước quyền trẻ em (ngày 20/02/1990). Từ khi phê chuẩn Công ước quốc tế quyền
trẻ em, tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh và trẻ dưới 5 tuổi giảm một nửa; tỷ lệ tiêm chủng luôn
đạt mức cao đã giúp nước ta thanh toán bệnh bại liệt vào năm 2000 và uốn ván bà mẹ và
trẻ sơ sinh vào năm 2005. Trẻ em nước ta ngày càng được hưởng nền giáo dục tốt hơn
với 95% trẻ trong độ tuổi đi học được đến trường. Các cơ hội tăng cường sự tham gia
của trẻ em ngày càng được mở rộng. Việt Nam ngày càng quan tâm đến việc xây dựng
môi trường an toàn và lành mạnh cho mọi trẻ em cũng như ngăn ngừa và đẩy lùi nguy
cơ xâm hại trẻ em. Tuy nhiên, vấn đề gia tăng dân số có ảnh hưởng không nhỏ đối với
sức khỏe của trẻ.
Theo con số thống kê của UNICEF, trung bình mỗi giờ trôi qua lại có 3 trẻ em
Việt Nam bị tử vong. Ước tính mỗi năm có hơn 26.000 trẻ em tử vong trước khi tròn 5
tuổi. Các nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng đó là: nguyên nhân sơ sinh (36%), viêm
phổi (19%), tiêu chảy (15%), sốt rét (8%), sởi (4%) và AIDS (4%). Tỷ lệ tử vong ở trẻ
Xã hội học dân số
9
em miền núi, nông thôn và các gia đình nghèo vẫn cao hơn 3- 4 lần so với miền xuôi,
thành thị và các gia đình khá giả. Vấn đề tử vong ở trẻ liên quan đến việc chăm sóc trẻ
sơ sinh cũng như nuôi con bằng sữa mẹ. Tỷ lệ trẻ em được bú sữa mẹ hiện còn thấp, chỉ
khoảng 58% trẻ sơ sinh được bú sữa mẹ trong giờ đầu tiên sau khi sinh và 17% được bú
sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu tiên. (Việt Nam mỗi giờ có 3 trẻ tử vong,
www.tin247.com)
Theo Viện Dinh dưỡng Quốc gia, mặc dù tình trạng dinh dưỡng của dân số Việt
Nam đã được cải thiện đáng kể trong 20 năm qua, nhưng vẫn còn xấp xỉ 14% tổng dân
số trong tình trạng suy dinh dưỡng.
Tỷ lệ suy dinh dưỡng bà mẹ, trẻ em tại Việt Nam vẫn ở mức cao. Năm 2007 có
1,6 triệu trẻ em (dưới 5tuổi) suy dinh dưỡng nhẹ cân (chiếm 21,2%) và khoảng 2,6 triệu
trẻ em bị suy dinh dưỡng thấp còi (33,9%). SDD trẻ em làm ảnh hưởng lâu dài và

dân số đã bị nhiễm khuẩn lao, tỷ lệ tử vong do lao là 26/100.000 người dân. Trung bình
mỗi ngày trên cả nước có 400 trường hợp mắc lao và 55ca tử vong vì căn bệnh này. Đặc
biệt tỷ lệ kháng thuốc ở nước ta khá cao so với nước trong khu vực, chiếm 32,5%. (Theo
www.baodatviet.vn)
* Gia tăng dân số làm tăng nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS
Tháng 12/1990, chỉ phát hiện 1 người nhiễm HIV, nhưng cho đến tháng 11/2000
đã phát hiện 27.290 người nhiễm. Số người nhiễm HIV/AIDS tỷ lệ thuận theo thời gian.
Tính đến cuối năm 2004, tổng số các trường hợp nhiễm HIV/AIDS ở Việt Nam được
báo cáo là 90.400 người, trong đó có 14.400 trường hợp đã chuyển thành AIDS và 8.400
người đã tử vong. Riêng năm 2004, trên cả nước đã phát hiện 14.200 trường hợp HIV
mới, trong đó có 2.800 trường hợp đã chuyển thành AIDS và 1.850 trường hợp bị tử
vong. Tính đến tháng 11/2008, Việt Nam đã có 14.931 bệnh nhân AIDS và số bệnh nhân
tử vong chiếm quá nửa số lượng ca nhiễm. Số người nhiễm HIV/AIDS và nghiện ma túy
tượng trưng như một tảng băng, trong đó số người được thống kê như trên chỉ là phần
nổi của tảng băng, còn phần chìm - một con số khá lớn thì chưa thể thống kê được.

Xã hội học dân số
11
Bảng 5: Tình hình nhiễm HIV và AIDS qua các năm
(Đơn vị: người)
Năm
HIV

AIDS


9.817

53.339

30.548

2007 19.047

156.210

8.806

62.145

34.476

2008 20.260

179.735

8.974

71.119

41.544(Nguồn: Niên giám thống kê năm 2008)
Qua bảng số liệu trên cho thấy, tình hình nhiễm HIV và AIDS ở nước ta càng


2007

31/12/2008

<13 0,82

1,90

2,02

1,73

1,80

13-19 8,45

2,85

2,53

4,52

4,41

20-29 55,23

54,45

53,08


1,73

1,76

Không xác định 1,74

1,14

1,82

0,82

0,80(Nguồn: Niên giám thống kê năm 2008)
Tác động của HIV/AIDS với mỗi đối tượng khác nhau là khác nhau. Việt Nam là
nước có dân số trẻ, những người nhiễm HIV/AIDS đã tập trung nhiều nhất ở nhóm tuổi
thanh niên từ 20- 29, chiếm 55,23% (2004) và có xu hướng giảm qua các năm nhưng
vẫn ở mức độ cao, ngày 31/12/2008 là 52,11%. Đứng sau nhóm tuổi này là nhóm tuổi
30- 39 với 31,37%. Điều này đã tác động đến chất lượng lao động nói riêng và chất
lượng dân số Việt Nam trong tương lai nói chung.
Số lượng trẻ nhiễm HIV/AIDS tại Việt Nam có nguyên nhân từ bố mẹ chúng hoặc
do nguyên nhân khác, làm tăng gánh nặng đối với gia đình và xã hội.
Bảng 7: Tích lũy các trường hợp nhiễm HIV, AIDS và tử vong cho AIDS giai đoạn
2003- 2010
(Đơn vị: người)
Năm


70.941

83.516

97.175

112.227

T

vong
27.135 35.047 44.102 54.132 65.171 77.228 90.346 104.701

Xã hội học dân số
13
(Nguồn: Niên giám thống kê năm 2008)
Số lượng người nhiễm HIV/AIDS tăng trong tình trạng ngành y tế còn tồn tại
nhiều khó khăn như: thiếu thuốc, thiếu giường bệnh, thiếu cơ sở chăm sóc trẻ nhiễm
HIV/AIDS… Điều đó đã ảnh hưởng trực tiếp đến việc chăm sóc sức khỏe của ngành y
tế và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và tương lai của thanh niên. Mặc dù đã có nhiều
cố gắng, nỗ lực của ngành y tế để tìm ra phương thuốc ngăn ngừa và điều trị bệnh này,
thế nhưng cho đến nay HIV/AIDS vẫn được coi là vô phương cứu chữa. Do đó, nhận
thức chưa đầy đủ của người dân về HIV/AIDS trở thành mối lo ngại và thách thức
không chỉ đối với ngành y tế, nhất là trong bối cảnh mức độ gia tăng dân số nước ta còn
cao.[1;104]
7.2.1.2. Tác động của dân số tới nhu cầu khám, chữa bệnh
Trong tình hình hiện nay, dân số ngày càng tăng với quy mô số dân ngày càng lớn
trong khi nhiều bệnh dịch xuất hiện và nguy cơ lây lan nhanh đã gây nên sức ép lớn đối
với ngành y tế nước ta. Hiện nay, các trang thiết bị đang được sử dụng vẫn chưa đủ về
số lượng, thiếu đồng bộ, lại không được kiểm tra, bảo dưỡng và sửa chữa đúng định kỳ.

tinh chỉ chiếm 12% doanh số. Giá thuốc, đặc biệt là các thuốc mới phát minh ngày càng
cao vượt quá sức chịu đựng của các nước đang phát triển. Các thuốc mới phát minh chủ
yếu hướng đến phục vụ mô hình bệnh tật của các nước giàu.
Thiếu thuốc để chữa trị bệnh cho các nước nghèo đang là một vấn nạn của 75%
nhân loại, tình trạng này cũng đã là một thách thức lớn ở Việt Nam. Những chỉ số về chi
phí sử dụng thuốc cho thấy nước ta đang ở vào nhóm các nước có mức hưởng thụ thuốc
bình quân thấp nhất thế giới.
Hiện nay, tình trạng thiếu thuốc đã dẫn đến nạn nhập lậu thuốc, làm thuốc giả
hoặc các loại thuốc đã hết hạn dùng được tung ra bày bán trên thị trường. Điều này ảnh
hưởng rất nghiêm trọng đến sức khỏe của bệnh nhân.
 Thiếu cán bộ y tế
Song song với tình trạng thiếu thuốc chữa bệnh, vấn đề thiếu cán bộ y tế cũng
đang là vấn đề rất đáng quan tâm.[2; 113]
Xã hội học dân số
15
Thực tế ở Việt Nam, từ năm 1995- 2007, số lượng bác sĩ, y sĩ, y tá và nữ hộ sinh
đều tăng. Tuy nhiên, theo số liệu mới nhất, Việt Nam mới chỉ có 6,4 bác sĩ. Con số này
quá bé nhỏ so với nhu cầu khám chữa bệnh của người dân, đặc biệt là người dân ở vùng
sâu, vùng xa. Vì vậy, mục tiêu Việt Nan cho đến năm 2010 sẽ đạt 7 bác sĩ và 9 y tá trên
10.000 dân.
Bảng 8: Đề xuất chỉ số bác sĩ và y tá đến năm 2010
Chỉ số được đề xuất Chỉ tiêu đến năm 2010 Số liệu mới nhất Nguồn
Số bác sĩ/ 10.000 7,0 5,88 Bộ Y tế
Số y tá/ 10.000 9,0 6,04 Bộ Y tế
Tỷ lệ y tá/ bác sĩ 1,3 1,03 Bộ Y tế

(Nguồn: MDGs trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006- 2010)
7.2.2. Tác động của y tế đến dân số
Tổ chức thế giới (WHO) xác định: “Sức khỏe là một trạng thái của một con người
thoải mái về thể chất, trí tuệ và xã hội”. Định nghĩa này không thể bó hẹp trong nghĩa là

và tăng dần trở lại qua các năm.[1; 106]
Bảng tỷ lệ sử dụng biện pháp tránh thai của Việt Nam (1998- 2007)
CPR
Chia ra
-

In which

Hiện Đại
Moderl method
Không hiện đại
Traditional method
1/4/1998 71,9 57,9 14,0
1/4/2001 73,9 61,1 12,8
1/4/2002 76,9 64,7 12,2
1/4/2003 75,3 63,5 11,8
1/4/2004 75,7 64,6 11,1
1/4/2005 76,9 65,8 11,1
1/4/2006 78,0 67,1 10,8
1/4/2007 79,0 68,2 10,8

Nguồn: [48,39]
Tuy nhiên, theo tổng cục Dân số, việc thực hiện các biện pháp tránh thai đang
giảm sút nghiêm trọng. Trong 6 tháng đầu năm, số ca đặt vòng giảm 10%, số ca triệt sản
giảm 28% so với cùng kỳ năm ngoái, trong khi số phụ nữ trong tuổi sinh đẻ tăng lên.
Xã hội học dân số
17
Riêng quý 1 năm 2008, số trẻ sinh tăng 7,2%, tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên tăng tới 17,3%
so với cùng kỳ năm 2007.( www.tin247.com)
Chính phủ Việt Nam rất quan tâm đến việc CSSK bà mẹ. Trong quá trình mang

(WHO) cho thấy vào năm 1990 cứ 100.000 trẻ em ra đời sống thì có 233 bà mẹ tử vong.
Vào năm 2005, tỷ lệ này đã giảm mạnh mẽ xuống còn 80/100.000. Đây được coi là 1 nỗ
lực và thành công lớn của Việt Nam trong việc đảm bảo an toàn, giảm tỷ lệ tử vong bà
mẹ khi sinh.
Ngoài ra, đến năm 2010, Việt Nam sẽ cố gắng để số phụ nữ có thai được theo dõi
thai nghén đạt tỷ lệ 95%, phụ nữ mang thai được khám thai ít nhất 3 lần đạt tỷ lệ 60%,
phụ nữ mang thai được tiêm phòng uốn ván đạt 95%, phụ nữ có thai được uống viên sắt
đạt 95%
* Giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi
Từ thập kỷ 1990 trở lại đây, công tác chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân, đặc biệt là
bà mẹ và trẻ em, đã bắt đầu được chú trọng hơn ở Việt Nam. Hệ thống y tế từ Trung
ương xuống huyện, xã đã bắt đầu được củng cố và tăng cường đầu tư để đáp ứng nhu
cầu chăm sóc sức khoẻ của nhân dân. Việt Nam đã đạt được những kết quả đáng khích
lệ trong việc thực hiện chỉ tiêu giảm tỷ lệ tử vong trẻ em dưới 5 tuổi. Từ năm 1990 đến
2006, tỷ lệ tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi đã giảm từ 53/1.000 trẻ xuống còn 17/1.000 trẻ,
trẻ dưới 1 tuổi, tỷ lệ này giảm từ 38/1.000 trẻ xuống còn 15/1.000 trẻ. Tuy nhiên , tiến
độ giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh hiện nay đang bị chậm lại, số trẻ sơ sinh đang chiếm
hơn 1 nửa trong tổng số trường hợp tử vong ở trẻ em.
c/ Y tế là nhân tố quan trọng giảm tỷ lệ SDD ở trẻ em
Trong hội nghị tổng kết đánh giá các hoạt động dinh dưỡng năm 2008 do bộ y tế
và Viện dinh dưỡng quốc gia tổ chức, có báo cáo cho thấy "tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi trên
cả nước SDD đã giảm từ 23,4% ( năm 2006) xuống còn 19.9% ( năm 2008). Tiêm chủng
mở rộng là chương trình thành công nhất trong các chương trình liên quan đến sức khoẻ
trẻ em với trên 90% trẻ dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ.
Xã hội học dân số
19
Tỷ lệ trẻ em duới 1tuổi được tiêm phòng sởi hàng năm đều đạt trên dưới 95%.
Nhờ vậy số trẻ em mắc sởi đã giảm từ 12.058 em vào năm 2001 xuống còn 6.755 em
năm 2002 và 2.297 em năm 2003.
Việt Nam đạt được những thành tựu đó là nhờ:

thôn ngày càng được cải thiện, song các bệnh tật liên quan đến nước vẫn là một vấn đề
lớn ở Việt Nam. Hiện nay 80% trường hợp bệnh tật ở Việt Nam, bệnh lỵ và tiêu chảy
vẫn còn rất phổ biến là do nguồn nước bị ô nhiễm gây ra, chủ yếu ở các địa phương
nghèo. Nhiều người, chủ yếu là trẻ em bị tử vong do sử dụng nước bẩn và ô nhiễm. Chỉ
trong vòng bốn năm gần đây đã có khoảng 6 triệu ca thuộc sáu loại bệnh liên quan đến
nước, chi phí trực tiếp cho việc khám chữa bệnh tả, thương hàn, lỵ và sốt rét khoảng 400
tỷ đồng.
Hiện tượng biến đổi khí hậu và nước biển dâng sẽ tác động rất lớn tới tài nguyên
nước nói chung và chất lượng nước nói riêng của Việt Nam - một thách thức mà Việt
Nam phải đối mặt trong tương lai. Báo cáo của Ngân hàng Thế giới mới đây chỉ rõ, Việt
Nam là một trong năm nước trên thế giới chịu ảnh hưởng nhiều nhất do nước biển dâng.
Để đối phó với thực trạng này, trong năm 2010, Việt Nam sẽ tập trung trao đổi kinh
nghiệm, đưa ra những cách thức hợp tác hiệu quả để có các biện pháp ứng phó với các
vấn đề về thiên tai, nước sạch và biến đổi khí hậu.
Xã hội học dân số
21
Do tác động của việc gia tăng phạm vi cấp nước sạch và vệ sinh môi trường từ 30%
lên 60%, và các hoạt động giáo dục về sức khỏe như Việt Nam đã đạt tiến bộ nhanh
chóng trong việc cải thiện tình hình cấp nước vào những thập kỷ qua. 52% dân cư nông
thôn có phương tiện vệ sinh môi trường nói chung, song chỉ có 18% trong số họ được sử
dụng nhà xí đạt tiêu chuẩn vệ sinh do Bộ Y tế ban hành theo Quyết định số 08/2005/QĐ-
BYT. Cuộc điều tra này còn cho thấy chỉ có 12% số trường học có phương tiện vệ sinh
đạt tiêu chuẩn. cung với đó ta thấy có sự can thiệp cũng như hỗ trợ của tổ chức phi chính
phủ UNICEF. Trong khuôn khổ Chương trình Hợp tác giữa Chính phủ Việt Nam và
UNICEF (2006- 2010), Chương trình Nước sạch, Môi trường và Vệ sinh môi trường đặc
biệt chú trọng vào các hoạt động sau đây: Thông tin, tuyên truyền và tham gia; Khuyến
khích vệ sinh môi trường và nếp sống vệ sinh; Xây dựng mô hình; Chất lượng nước và
giảm thiểu tình trạng nhiễm thạch tín; Theo dõi và đánh giá; Chuẩn bị sẵn sàng và đối
phó với thiên tai. Những hoạt động này đã góp phần nào cải thiện, và giảm ô nhiễm môi
trường.

- Không để dịch sốt rét lớn xảy ra.
- Giảm tỷ lệ mắc sốt rét xuống dưới 1,5/1.000 dân; giảm tỷ lệ chết do sốt rét xuống
dưới 0,03/100.000 dân.
d) Dự án phòng, chống bệnh ung thư
- Từng bước giảm tỷ lệ mắc và tỷ lệ chết do ung thư.
- Cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân ung thư.
đ) Dự án phòng, chống HIV/AIDS
- Khống chế tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS dưới 0,3% dân số vào năm 2010.
- Giảm tác hại của HIV/AIDS đối với sự phát triển kinh tế - xã hội.
Xã hội học dân số
23
e) Dự án phòng, chống suy dinh dưỡng trẻ em
- Giảm tỷ lệ SDD thể nhẹ cân xuống dưới 20% số trẻ em dưới 5 tuổi; giảm tỷ lệ suy
dinh dưỡng thể thấp, còi xuống dưới 25% số trẻ em dưới 5 tuổi.
- Tiếp tục tuyên truyền, vận động, kiểm tra và giám sát ăn muối iốt.
g) Dự án bảo vệ sức khỏe tâm thần cộng đồng
- 100% số tỉnh/thành phố triển khai dự án; 70% số xã/phường triển khai mô hình
lồng ghép nội dung chăm sóc sức khỏe tâm thần cộng đồng vào hoạt động của trạm y tế
cơ sở.
- Phát hiện và quản lý điều trị tại cộng đồng cho 50% số bệnh nhân tâm thần (tâm thần
phân liệt, trầm cảm, động kinh).
- Điều trị ổn định cho 70% số bệnh nhân tâm thần được phát hiện; hỗ trợ người
bệnh sống hòa nhập với gia đình và cộng đồng.
h) Dự án chăm sóc sức khỏe sinh sản
- Cải thiện sức khỏe bà mẹ và trẻ em.
- Giảm tỷ lệ tử vong mẹ xuống 70/100.000 trẻ sơ sinh sống; giảm tỷ lệ tử vong trẻ
dưới 1 tuổi xuống dưới 25‰ số trẻ sơ sinh sống.
i) Dự án tiêm chủng mở rộng
- Bảo vệ thành quả thanh toán bệnh bại liệt; loại trừ bệnh uốn ván sơ sinh.
- Trên 90% số trẻ em dưới 1 tuổi ở các quận, huyện được tiêm chủng đầy đủ 7 loại

Theo thống kê của Bộ Y tế, tổng kinh phí các tổ chức quốc tế hỗ trợ cho công tác
phòng chống HIV/ AIDS kể từ năm 1999 đến nay là 134,5 triệu USD. Các dự án do các
Xã hội học dân số
25
tổ chức quốc tế hỗ trợ đã giúp Việt Nam nâng cấp năng lực quản lý, hoạch định về chính
sách phòng chống HIV/ AIDS, cung cấp bao cao su, tư vấn xét nghiệm tự nguyện v.v
Tuy nhiên, với tổng các nguồn ngân sách trong và ngoài nước cho công tác phòng
chống HIV/ AIDS ở Việt Nam thì cũng chỉ đạt 40% nhu cầu mỗi năm cho hoạt động
này. Được biết, tổng nhu cầu kinh phí cho phòng chống HIV/AIDS trong giai đoạn
2006- 2010 là 594 triệu USD. Ngân sách Nhà nước và các nguồn hỗ trợ quốc tế đã cam
kết cho giai đoạn này khoảng gần 200 triệu USD. Tổng kính phí còn thiếu hụt là gần 400
USD. Đồng thời cũng đã ra quyết định ban hành chiến lược này hướng đến tầm nhìn
năm 2020.
Trong chiến lược này chính phủ đã đưa ra quan điểm:
a) HIV/AIDS là đại dịch nguy hiểm, là mối hiểm họa đối với sức khỏe, tính mạng
của con người và tương lai nòi giống của dân tộc. HIV/AIDS tác động trực tiếp đến phát
triển kinh tế, văn hóa, trật tự và an toàn xã hội của quốc gia. Do đó, phòng, chống
HIV/AIDS phải được coi là một nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách và lâu dài, cần phải tăng
cường phối hợp liên ngành và đẩy mạnh việc huy động toàn xã hội tham gia.
b) Đầu tư cho công tác phòng, chống HIV/AIDS là đầu tư góp phần tạo ra sự phát
triển bền vững của đất nước mang lại hiệu quả kinh tế, xã hội trực tiếp và gián tiếp. Nhà
nước bảo đảm việc huy động các nguồn lực đầu tư cho phòng, chống HIV/AIDS từ nay
đến năm 2010 và sau 2010 phù hợp với khả năng và điều kiện phát triển kinh tế - xã hội
của đất nước trong từng giai đoạn.
c) Chống kỳ thị, phân biệt đối xử với người bị nhiễm HIV/AIDS, tăng cường trách
nhiệm của gia đình, xã hội với người nhiễm HIV/AIDS và của người nhiễm HIV/AIDS
với gia đình, xã hội.d) Việt Nam cam kết thực hiện các Điều ước quốc tế về phòng,
chống HIV/AIDS đã ký kết hoặc gia nhập. Bảo đảm hệ thống pháp luật quốc gia về
phòng, chống HIV/AIDS phù hợp với các nguyên tắc của pháp luật quốc tế.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status