GVHD: Th.S Đinh Anh Tuấn
SVTH: Trần Thị Thuỳ Trang Trang:
1
Luận văn Tác động của chương trình 135 đối với đời sống người dân xã Vĩnh
Thuận- huyện Vĩnh Thạnh- tỉnh Bình Định (giai đoạn 2006-2010)
GVHD: Th.S Đinh Anh Tuấn
SVTH: Trần Thị Thuỳ Trang Trang:
2
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Vấn đề nghèo đói hiện nay không chỉ là mối quan tâm của bất kỳ một quốc gia
nào trên thế giới, mà nó là một vấn đề mang tính toàn cầu. Nó diễn ra ở hầu hết các
quốc gia trên thế giới, ở cả những nước phát triển và đang phát triển.
Vấn đề này đã thu hút sự quan tâm của tất cả các quốc gia trên thế giới vì những
hậu quả mà nó mang lại đối với sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của từng quốc
gia. Do vậy, vấn đề này không thể giải quyết trong một sớm, một chiều, không chỉ là
những giải pháp mang tính chất riêng lẻ, đơn thuần của từng quốc gia. Nó đòi hỏi phải
có sự liên kết, tương trợ lẫn nhau giữa các quốc gia cũng như các tổ chức trên toàn thế
giới mới mong đem lại hiệu quả như mong muốn.
Nhận thấy được tầm quan trọng của vấn đề này đối với sự phát triển của nhân loại.
Liên Hợp Quốc đã đề ra mục tiêu phát triển thiên niên kỷ, một trong những nội dung
hưởng CT 135 ngay từ những năm đầu tiên của giai đoạn I . Kết thúc giai đoạn I, toàn
huyện đã có 2 xã hoàn thành mục tiêu và đã tự nguyện ra khỏi CT là xã Vĩnh Hảo và
xã Vĩnh Thịnh. Với những kết quả đạt được, Chính phủ đã quyết định cho huyện tiếp
tục được thụ hưởng CT và Vĩnh Thuận là xã đã được bổ sung vào danh sách các xã
được thụ hưởng chương trình 135 trong giai đoạn 2006-2010
Với đặc điểm là một xã mới được thành lập, dân số chủ yếu là đồng bào DTTS, lại
ở vị trí cách xa trung tâm huyện nên đời sống bà con gặp rất nhiều khó khăn, cơ sở vật
chất còn hạn chế nên khi CT được triển khai tại xã đã nhận được sự đồng tình ủng hộ
của bà con trong xã.
Sau 5 năm triển khai, CT đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, đời sống của
bà con đã dần được cải thiện, bộ mặt của xã bước đầu đã có những chuyển biến rõ rệt.
Với những lý do trên, tác giả đã chọn đề tài nghiên cứu của khoá luận “Tác
động của chương trình 135 đối với đời sống người dân xã Vĩnh Thuận- huyện Vĩnh
Thạnh- tỉnh Bình Định (giai đoạn 2006-2010)” nhằm đánh giá những tác động mà CT
đã mang lại đối với đời sống của người dân cũng như những mong muốn của bà con
đối với CT.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Chương trình 135 là một trong những chương trình đã thu hút sự quan tâm của
toàn cả cộng đồng và toàn xã hội. Với nguồn ngân sách khổng lồ mà Trung ương cũng
như ngân sách của từng địa phương dành cho chương trình, tổng kinh phí giai đoạn I
(1998-2005) ước tính 1870 tỷ đồng, và giai đoạn II (2006-2010) trên 14.000 tỷ đồng
GVHD: Th.S Đinh Anh Tuấn
SVTH: Trần Thị Thuỳ Trang Trang:
4
đã làm thay đổi đáng kể bộ mặt của các thôn, xã được thụ hưởng chương trình với
1715 xã được thụ hưởng chương trình trong giai đoạn I và 1779 xã, 3149 thôn, bản đặc
biệt khó khăn thuộc 47 tỉnh được thụ hưởng chương trình. Đời sống người dân dần dần
được cải thiện với thu nhập bình quân đầu người ở các xã trong CT đạt 4,2 triệu
đồng/người/năm(so với mục tiêu của CT đến hết năm 2010 đạt trên 70% số hộ có thu
Mục đích nghiên cứu
- Đề tài nhằm mục đích tìm hiểu và đánh giá tác động của CT 135 giai đoạn II
đối với đời sống người dân vã Vĩnh Thuận, đặc biệt là đời sống của đồng bào DTTS
nơi đây, những khó khăn mà người dân gặp phải trưong quá trình tiếp nhận những hỗ
trợ từ CT.
- Từ đó, đưa ra các giải pháp nhằm giúp CT phát huy được những hiệu quả tích
cực của nó, qua đó góp phần vào việc thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững mà
UBND huyện đã đề ra.
Nhiệm vụ nghiên cứu
+ Hệ thống hoá một số vấn đề cơ sở lý luận về phát triển cộng đồng và vấn đề
nghèo.
+ Đánh giá những chuyển biến về đời sống vật chất và đời sống tinh thần mà CT
mang lại đối với bà con nơi đây.
+ Tìm hiểu những khó khăn cũng như những mong muốn, nguyện vọng của bà con
đối với CT.
+ Đề ra các giải pháp cũng như những kiến nghị để CT phát huy hiệu quả trong
công tác giảm nghèo trên địa bàn xã.
4. Đối tượng, khách thể nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Tác động của chương trình 135 đối với đời sống người dân xã Vĩnh Thuận-
huyện Vĩnh Thạnh- tỉnh Bình Định (giai đoạn 2006-2010).
Khách thể nghiên cứu
Khoá luận được tiến hành nghiên cứu trên số khách thể là 100 hộ dân thuộc
diện hộ nghèo tại xã Vĩnh Thuận được thụ hưởng CT.
Phạm vi nghiên cứu
Khoá luận được thực hiện tại xã Vĩnh Thuận, huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình
Định.
5. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn
Ý nghĩa lý luận
GVHD: Th.S Đinh Anh Tuấn
Sau đó, ghi chép và bổ sung thêm thông tin phục vụ cho vấn đề đang nghiên cứu. GVHD: Th.S Đinh Anh Tuấn
SVTH: Trần Thị Thuỳ Trang Trang:
7
6.4 Phương pháp thống kê toán học
Dựa trên những câu trả lời đã phát từ phiếu trưng cầu ý kiến thu thập được từ
người dân, tác giả tiến hành thống kê số lượng các phương án trong từng câu hỏi, tính
tỷ lệ %, từ đó xét mối tương quan giữa các câu hỏi nhằm mục đích lấy thông tin phục
vụ cho việc nghiên cứu .
6.5 Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Nghiên cứu các báo cáo về tình hình phát triển kinh tế xã hội của xã Vĩnh
Thuận, báo cáo tổng kết CT 135 giai đoạn II của huyện Vĩnh Thạnh và của xã Vĩnh
Thuận.
Các tài liệu về lý luận PTCĐ, vấn đề nghèo, dự án PTCĐ, và TV PTCĐ.
Bên cạnh đó, kết hợp với các nguồn thông tin thu thập từ các sách báo,
internet…kết hợp với kết quả đã điều tra thực tế để đánh giá tác động của CT 135 đối
với người dân trong xã.
7. Giả thiết nghiên cứu
- Vĩnh Thuận là một xã miền núi của huyện vùng cao Vĩnh Thạnh, là xã có tỷ lệ
đồng bào DTTS đông nhất huyện, bà con trong xã gặp rất nhiều khó khăn trong sản
xuất và đời sống, nên rất cần nhận được sự hỗ trợ của Đảng và Nhà nước để cải thiện
đời sống của mình.
- CT 135 giai đoạn II được triển khai trên địa bàn xã nhằm mục đích nâng cao
đời sống của bà con trong xã, cũng như tạo điều kiện thuận lợi để xã phát triển kinh tế
xã hội, nên đã nhận được sự ủng hộ của chính quyền và người dân địa phương.
- Sau khi CT được triển khai, những khó khăn mà người dân gặp phải không
được giải quyết một cách triệt để. Do vậy, đời sống của người dân trong xã vẫn chưa
- Định nghĩa của Trường Công Tác Xã Hội và Phát Triển Cộng Đồng Philippin:
“ PTCĐ là một tiến trình giải quyết vấn đề, qua đó cộng đồng được tăng cường sức
mạnh bởi các kiến thức và kỹ năng phát hiện nhu cầu, phát hiện vấn đề, ưu tiên hóa
chúng, huy động tài nguyên để giải quyết và hành động chung. PTCĐ không phải là
một cứu cánh mà là một kỹ thuật. Nó nhằm vào sự tăng sức mạnh cho các cộng đồng ,
để tự quyết định về sự phát triển của cộng đồng mình và sự định hình của lai cộng
đồng mình. Mục đích cuối cùng của PTCĐ là sự tham gia chủ động với tư cách tập thể
của người dân vào sự phát triển.”
GVHD: Th.S Đinh Anh Tuấn
SVTH: Trần Thị Thuỳ Trang Trang:
9
1.1.2.2 Các giá trị của PTCĐ
- An sinh của người dân: các thành viên trong cộng đồng được phát triển, có công
ăn việc làm, được đảm bảo một cuộc sống đầy đủ về mặt vật chất, tinh thần, có giá trị,
được tôn trọng và bảo vệ.
- Công bằng xã hội: các thành viên trong cộng đồng được có quyền có cơ hội như
nhau để thoả mãn những nhu cầu cơ bản và giữ gìn giá trị nhân phẩm của mình, có
quyền được tham gia vào việc ra quyết định trong cuộc sống.
- Tinh thần cộng đồng và trách nhiệm xã hội : chúng ta tin rằng con người với tư
cách là một thành tố của cộng đồng và xã hội không chỉ quan tâm đến cá nhân mình
mà còn có trách nhiệm với đồng loại, và cùng nhau giải quyết những nhu cầu và vấn
đề chung.
1.1.2.3 Mục đích của PTCĐ
- Tạo ra được những chuyển biến xã hội để đạt được sự cải thiện về điều kiện sống,
về vật chất và tinh thần.
- Xây dựng và củng cố các nhóm, các tổ chức trong cộng đồng.
đủ để phát huy tiềm năng trong quá trình phát triển.
- Quy trình “hành động- suy ngẫm rút kinh nghiệm- hành động mới” cần được áp
dụng thường xuyên trong tiến trình PTCĐ.
- Đối tượng được ưu tiên của PTCĐ là người nghèo và người thiệt thòi. Vì vậy khi
tiến hành các chương trình, các dự án phát triển cần phải bảo đảm họ là đối tượng
chính được thụ hưởng các kết quả từ các dự án phát triển.
- Các hoạt động của PTCĐ là các hoạt động mang tính nhân quả. Vì vây, để đạt
được kết quả mong muốn, cần phải tiến hành một hệ thống các hoạt động hỗ trợ lẫn
nhau.
GVHD: Th.S Đinh Anh Tuấn
SVTH: Trần Thị Thuỳ Trang Trang:
11
1.1.2.5 Tiến trình phát triển cộng đồng: Tiến trình PTCĐ trải qua các bước:
- Cộng đồng thức tỉnh: thông thường những cộng đồng yếu kém không ý thức
đầy đủ về thực trạng của cộng đồng mình, cần phải thức tỉnh cộng đồng bao gồm:
+ Giúp cho cộng đồng ý thức đầy đủ các vấn đề của mình: những khó khăn, trở
cường
động
lực tự
nguyện
Hành động chung có lượng giá từ
thấp đến cao
CĐ th
ức
tỉnh
CĐ tăng
năng lực
CĐ tự lực CĐ yếu kém
GVHD: Th.S Đinh Anh Tuấn
SVTH: Trần Thị Thuỳ Trang Trang:
12
- Cộng đồng tự lực: thông qua việc tăng cường năng lực của cộng đồng, giúp cho
cộng đồng tự mình giải quyết các vấn đề của cộng đồng, đồng thời giúp cho cộng đồng
có khả năng tự mình phát triển vấn đề, huy động tài nguyên, tổ chức thực hiện nhằm
giải quyết những vấn đề khó khăn có thể xảy ra trong tương lai.
1.2 Lý luận vấn đề nghèo
1.2.1 Định nghĩa nghèo
* Theo Chales Booth và Selbom:
Nghèo diễn tả sự thiếu cơ hội để có thể sống một cuộc sống tương ứng với các
chuẩn đối tượng nhất định.
Thước đo của các chuẩn này là các nguyên nhân nghèo thay đổi theo từng địa
phương theo mốc thời gian khác nhau.
* Theo Tổ chức Y Tế Thế Giới (WHO):
Định nghĩa nghèo theo thu nhập, theo đó một người được gọi là nghèo khi thu nhập
hàng năm ít hơn một nửa mức thu nhập bình quân đầu người của toàn xã hội .
đầu người của họ được xác định dưới chuẩn được xác định. Chuẩn này khác nhau giữa
thành thị, nông thôn, miền núi.
Ở nước ta, Chính phủ đã 4 lần nâng mức chuẩn nghèo từ năm 1993-2005. Cụ thể:
* Giai đoạn 1993-2005:
Khu vực miền núi và hải đảo: những hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu
người dưới 40.000/tháng/người tương đương 480.000/năm/người trở xuống là hộ
nghèo.
Khu vực nông thôn: những hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người dưới
60.000/tháng/người tương đương 720.000 /năm/người trở xuống là hộ nghèo.
Khu vực thành thị: những hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người dưới
80.000 /tháng /người tương đương: 920.000 /năm/người trở xuống là hộ nghèo.
* Theo mục tiêu của chương trình “Chương trình mục tiêu quốc gia về xoá đói
giảm nghèo giai đoạn 2001-2005”.
Khu vực nông thôn, miền núi - hải đảo: những hộ gia đình có thu nhập bình
quân đầu người dưới 80.000/ tháng/người tương đương 960.000 /năm/người trở xuống
là hộ nghèo.
Khu vực nông thôn- đồng bằng: những hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu
người dưới 100.000/tháng/người tương đương 1.200.000 /năm/người trở xuống là hộ
nghèo.
GVHD: Th.S Đinh Anh Tuấn
SVTH: Trần Thị Thuỳ Trang Trang:
14
Khu vực thành thị: những hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người dưới
150.000/tháng/người tương đương: 1.800.000 /năm/người trở xuống là hộ nghèo.
* Theo
Quyết
định số 170/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày
8/7/2005
SVTH: Trần Thị Thuỳ Trang Trang:
15
1.2.5.5 Lấy chỉ báo xã hội làm cơ sở:
Tỷ lệ hộ gia đình có con bỏ học; có mẹ hoặc con suy dinh dưỡng trầm trọng; nợ
nần nhiều; không có bảo hiểm y tế.
1.2.6 Sự hình thành và phát triển chương trình xóa đói giảm nghèo ở Việt
Nam
Chương trình xóa đói giảm nghèo (XĐGN) bắt đầu từ những năm 90, từ sáng kiến
của địa phương và nỗ lực của các bộ ngành TW. Nhưng chương trình mới chỉ chính
thức thành lập vào 1998, do có những trở ngại trong việc xác định cơ cấu thể chế.
Chương trình XĐGN tạo một khuôn khổ trên phạm vi toàn quốc để phối hợp và lồng
ghép nỗ lực của các ngành, các cấp khác nhau.
Năm 1989, Việt Nam chuyển sang kinh tế thị trường trong sản xuất nông nghiệp
thực hiện giao khoán đến hộ đã nhảy vọt từ nước đang thiếu lương thực vươn lên
thành nước xuất khẩu gạo, và giữ vị trí trong ba nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới
từ đó đến nay, an ninh lương thực đã vững vàng. Tuy nhiên, đến nay vẫn còn tỷ lệ đói
nghèo (bao gồm cả thiếu lương thực) mà đa số phân bố ở các xã thuộc Chương trình
135 (xã nghèo).
Đầu thập niên 1990, VN chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa, nguy cơ đói nghèo đã được nhận rõ, mà trước hết là số liệu trẻ em suy dinh
dưỡng đã ở mức báo động (gần 50%). Ngay đầu năm 1991, vấn đề xoá đói giảm nghèo
đã đề ra trong các diễn đàn, các nghiên cứu, và triển khai thành phong trào xoá đói
giảm nghèo.
Trong năm 1991, chuyên đề xoá đói giảm nghèo đã được đề ra rất nhiều trong các
diễn đàn, các hội nghị, các cuộc nghiên cứu và được triển khai thành “Phong trào xoá
đói giảm nghèo”.
Nghị quyết Quốc hội Việt Nam về nhiệm vụ năm 1993 đã đánh giá cao tinh thần
cộng đồng, tương thân tương ái "trong nhân dân đã phát triển nhiều hoạt động từ thiện
giúp đỡ nhau và phong trào xoá đói giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa " Sáng kiến của
định số 133/1998/QĐ-TTg ngày 23-7-1998 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê
duyệt chương trình mục tiêu quốc gia xoá đói giảm nghèo trong giai đoạn 1998-2000
+ Chương trình phủ xanh đất trống đồi núi trọc theo quyết định số 327 của Thủ
tướng Chính phủ.
+ Chương trình xoá đói giảm nghèo và tạo việc làm cho 4 năm (1998-2002)
theo quyết định số 143 của Thủ tướng Chính phủ.
GVHD: Th.S Đinh Anh Tuấn
SVTH: Trần Thị Thuỳ Trang Trang:
17
+ Chương trình 135 - chương trình phát triển kinh tế xã hội ở các xã đặc biệt
khó khăn, miền núi và vùng sâu, vùng xa theo Quyết định số 135/1998/QĐ-TTg ngày
31 tháng 7 năm 1998 của Thủ tướng chính phủ
+ Chương trình hỗ trợ việc khám, chữa bệnh cho người nghèo theo quyết định
số 139/2002/QĐ-TTg ngày 15/10/2002 của thủ tướng chính phủ về việc khám, chữa
bệnh cho người nghèo
+ Chương trình hỗ trợ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng theo quyết định số
257/2003/QĐ-TTg ngày 03/12/2003 của thủ tướng chính phủ về việc hỗ trợ đầu tư xây
dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải
đảo.
+ Chương trình hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở, nước sinh hoạt cho hộ đồng
bào DTTS nghèo, đời sống khó khăn theo quyết định số 134/2004/QĐ-TTg ngày 20
tháng 7 năm 2004
+ Chương trình hỗ trợ xoá nhà tạm cho người nghèo theo quyết định số
167/2008/QĐ-TTg ngày 12/12/2008 của thủ tướng chính phủ về chính sách hỗ trợ hộ
nghèo về nhà ở.
+ Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo
theo nghị quyết số 30a/200/ NQ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2008.
1.3 Dự án phát triển cộng đồng
1.3.1 Khái niệm
hiện….)
+
có thể đo lường được hay không?
- Đánh giá nguồn lực
+ Nguồn lực có sẵn ở CĐ
* nguồn lực vật chất: đất đai, nguồn nước, tài nguyên khoáng
sản, điện, đường, trường, trạm….
*
khả năng tài chính, khả năng lãnh đạo và tham gia của các tổ
chức trong CĐ.
* các thiết chế xã hội (chính quyền, đoàn thể, hội…)
* các giá trị tinh thần truyền thống, phong tục tập quán, các giá
trị đoàn kết trong CĐ.
+ Nguồn lực bên ngoài: có sự hỗ trợ từ cá nhân, các tổ chức xã hội nhằm
hỗ trợ để các nguồn lực bên trong có điều kiện phát huy hiệu quả.
- Xác định những thuận lợi, khó khăn, trở ngại có thể chi phối dự án.
GVHD: Th.S Đinh Anh Tuấn
SVTH: Trần Thị Thuỳ Trang Trang:
19
-
Hoạch định các nội dung và kế hoạch hoạt động bao gồm:
+ dự kiến kinh phí.
+ huy động việc sử dụng và phân bổ các nguồn lực.
+ thời gian, tiến độ thực hiện các hành động.
+ phân công trách nhiệm cho các thành viên trong hoạt động của dự án.
Chu trình dự án phát triển cộng đồng
Xác định thuận lợi, khó khăn
Đánh giá nguồn lực
Mục tiêu chung, mục tiêu cụ thể
Đánh giá nhu cầu
Tìm hiểu cộng đồng
Phối hợp
Lập kế hoạch cho các hoạt động của dự án
Thực hiện
Kinh phí
Quản lý Quan sát
Đánh giá
Phương tiện Kế hoạch Trách nhiệm Tham gia
GVHD: Th.S Đinh Anh Tuấn
SVTH: Trần Thị Thuỳ Trang Trang:
21
Giai đoạn2 : Triển khai dự án
Giai đoạn này giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong chu trình PTCĐ, cần chú trọng
sự tham gia của CĐ. Vì vậy, quá trình triển khai dự án là quá trình hợp tác, học hỏi lẫn
nhau, hiểu biết và tôn trọng giữa những người tổ chức dự án và CĐ
Quá trình triển khai dự án bao gồm các hoạt động chính sau:
* Phối hợp
Phối hợp giữa các lực lượng để đảm bảo sự tham gia của các thành viên trong CĐ
vào quá trình thực hiện dự án.nhằm giúp cho:
- Giúp cho dự án khi triển khai không bị chồng chéo, trùng lặp. Qua đó, nâng cao
đạt được những mục tiêu của dự án.
- M uốn quản lý tốt thì những người thực hiện phải có cái nhìn tổng hợp khái
quát, nắm bắt mọi vấn đề và kịp thời giải quyết những vấn đề nảy sinh trong dự án.
- Quản lý dự án gồm có 4 giai đoạn:
+ khởi động dự án.
+ tổ chức các nguồn lực.
+ tiến hành những công việc cụ thể.
+ kiểm tra tiến độ thực hiện dự án.
- Để thực hiện tốt trong công tác quản lý cần:
+ xây dựng cơ chế quản lý, việc xây dựng hệ thống tổ chức từ cơ quan
đến lãnh đạo đến các bộ phận chuyên môn, hành chính. Xác định quyền hạn, trách
nhiệm của từng bộ phận, từng thành viên trong dự án.
+ xây dựng và triển khai kế hoạch, đây là những công việc cụ thể đòi hỏi
phải linh hoạt, có thể điều chỉnh thay đổi khi có tình huống phát sinh. Việc xây dựng
kế hoạch phải chú ý đến việc sử dụng các nguồn lực, tài nguyên trong CĐ, sắp xếp thứ
tự công việc.
+ tuyển chọn nhân lực, căn cứ vào mục đích của dự án, kế hoạch thực
hiện, ngân sách, cơ chế làm việc để tuyển chọn nhân lực nhằm triển khai dự án.
Trong tất cả các khâu của giai đoạn cần có sự tham gia của CĐ trong quá trình
quản lý dự án.
Giai đoạn 3: Đánh giá
Được tiến hành thường xuyên ở tất cả mọi giai đoạn của chu trình dự án PTCĐ.
Đánh giá có thể tiến hành theo từng giai đoạn khác nhau:
- Giai đoạn tiền dự án: đánh giá trước khi dự án bắt đầu (đánh giá sự cần thiết
của dự án, tính khả thi của dự án )
GVHD: Th.S Đinh Anh Tuấn
SVTH: Trần Thị Thuỳ Trang Trang:
23
- Đánh giá trong giai đoạn triển khai dự án.
24
TV PTCĐ đóng vai trò là chất xúc tác, hỗ trợ. Còn người thực hiện các hoạt
động chính là những người dân trong CĐ.
Vai trò này giúp cho CĐ có động lực để giải quyết những vấn đề tương tự trong
tương lai.
* Vai trò nhà nghiên cứu
TV PTCĐ phải tìm hiểu các khía cạnh khác nhau của CĐ, biết cách lập kế
hoạch một cách khoa học, cũng như biết cách thức tổ chức để huy động sức mạnh của
cộng đồng.
* Vai trò nhà huấn luyện
TV PTCĐ thông qua các buổi thảo luận cũng như tổ chức các lớp tập huấn để
qua đó giúp cho CĐ nâng cao nhận thức cũng như có những kỹ năng cần thiết để giải
quyết vấn đề.
TV PTCĐ phải có kỹ năng tổ chức các lớp tập huấn, sử dụng các phương pháp
thông tin, huấn luyện khác nhau như bằng lời nói, chữ viết, hình ảnh, sắm vai, diễn
kịch….
* Vạch kế hoạch
TV PTCĐ là người đóng vai trò lập kế hoạch, tham mưu để xây dựng một dự
án, chương trình PTCĐ. Kế hoạch đó phải xuất phát từ CĐ, đặc biệt phải xuất phát từ
nhu cầu cần giải quyết của CĐ. Khi lập kế hoạch, phải đề ra những mục tiêu mang tính
khả thi, cụ thể; những công việc cần làm theo từng đối tượng và thời gian.
* Người động viên, biện hộ
TV PTCĐ phải làm sao để người dân có khả năng nói lên được những vấn đề
của chính họ.
TV PTCĐ cần phải bảo vệ CĐ trước xã hội (các chính sách pháp luật mà CĐ
thiếu thông tin )
Tác viên sau khi làm xong nhiệm vụ ở 1 CĐ sẽ di chuyển đi nơi khác, tức là
chuyển dần từ sự chủ động sang bị động.
của TVCĐ.
- Kiên trì, nhẫn nại
Các TV mới vào nghề thường hay nóng vội, muốn thấy thành tích ngay nên hay áp
đặt ý kiến, sáng kiến của mình. Họ dễ ngã lòng khi dân không thực hiện điều mong
muốn của họ.