Tiểu luận: Phụ nữ và nghèo đói những nguyên nhân khiến cho phụ nữ chiếm đa số trong những người nghèo đói, vai trò của phụ nữ trong tấn công nghèo đói, - Pdf 14

1 Tiểu luận

PHỤ NỮ VÀ NGHÈO ĐÓI
2
3.1. Nghèo đói mang gương mặt phụ nữ.
3.1.1. Nghèo đói phân theo giới.
3.1.2. Phụ nữ nghèo đói phân theo khu vực.
3.1.3. Phụ nữ nghèo đói phân theo trình độ học vấn.
3.1.4. Phụ nữ nghèo đói phân theo nghề nghiệp.

3.2. Những nguyên nhân khiến cho phụ nữ chiếm đa số trong những
người nghèo đói.
3.2.1. Do những quan điểm đánh giá trong xã hội và do sự bất bình đẳng
giới.
3.2.2. Do phụ nữ có trình độ văn hóa thấp.
3.2.3. Do thu nhập của phụ nữ còn thấp.
3.2.4. Do sức khỏe phụ nữ kém đã ảnh hưởng nhiều đến công việc và đời
sống của họ.
3.2.5. Do phụ nữ bị bất bình đẳng trong sở hữu tài sản.

3.4.4.5. Phụ nữ ngày nay đã được tự do kinh doanh theo ý thích, ít bị phân
biệt đối xử → thu nhập gia đình tăng lên → giảm nghèo đói.

4

3.1. Nghèo đói mang gương mặt phụ nữ.
3.1.1. Nghèo đói phân theo giới.
Đói nghèo là một vấn đề mang tinh cất toàn cầu. Nó không chỉ là môt thực
tế đang diễn ra ở nước ta mà còn là một tồn tại phổ biến trong khu vực và
trên toàn thế giới. Ngay cả những nước phát triển cao vẫn còn một bộ phận
dân cư sống ở mức nghèo khổ.
Phát biểu tại Diễn đàn “Bình đẳng giới và giảm nghèo bền vững”, Chủ
nhiệm Uỷ ban Các vấn đề xã hội Trương Thị Mai ngoài việc điểm lại những
thành tích, nỗ lực trong công cuộc xoá đói giảm nghèo cũng như bình đẳng
giới cũng đã cho rằng: “Phụ nữ thường phải gánh chịu ảnh hưởng của nghèo
đói nhiều hơn nam giới và chính họ là những người nghèo nhất trong số
những người nghèo" (Ngày 2/6/2008, Diễn đàn Bình đẳng giới và Giảm
nghèo bền vững tại Hà Nội, Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội). Và đặc
biệt trong nhóm nghèo đó phụ nữ lại chính là những người chiếm đa số 70%
trong số 1,3 tỷ người nghèo trên thế giới là phụ nữ.
(Trích trong bài báo: “Khi người nghèo là phụ nữ, của báo Phụ nữ Đà
Nẵng, ra ngày Thứ sáu, 2 - 12 - 2011).

Theo các nhà nghiên cứu xã hội thì phụ nữ thường phải gánh chịu những
ảnh hưởng của nghèo đói nhiều hơn so với nam giới, và dường như hình ảnh
phụ nữ đa phần được gắn liền với nghèo đói bởi đa phần những thế hệ phụ
nữ nông thôn đều có cùng một điểm chung: ít học, lấy chồng sớm, đẻ nhều,
sức khỏe kém, công việc bấp bênh, thu nhập thấp, không có tiếng nói trong
gia đình và xã hội.


đói.
Vì thế mà từ xưa đến nay, phụ nữ nông thôn luôn bị gắn với hình ảnh
nghèo đói, cực khổ.
3.1.3. Phụ nữ nghèo đói phân theo trình độ học vấn.
Phụ nữ thường ít được đến trường học hơn so với nam giới cho nên trình
độ học vấn của họ thấp, họ không biết là mình có thể làm được việc gì khác
không ngoài nông nghiệp. Vì vậy mà những phụ nữ nghèo thường chủ yếu là
những người có trình độ học vấn thấp, ít được học hành và không có sự hiểu
biết rộng.
Theo PGS.TS Nguyễn Bích Hà, tỷ lệ lao động nữ có trình độ cao trong
tương quan so với nam giới hiện nay là thấp.
Phân tích về vấn đề nữ quyền và giáo dục, PGS.TS Trần Lê Bảo - Trường
ĐH Sư phạm Hà Nội cho biết: “Trong 20 năm qua cho dù khoảng cách giữa
nam và nữ có giảm đi một nửa, song những bất bình đẳng vẫn tồn tại dai
dẳng như một thách thức nhân loại, trong 880 triệu người mù chữ trên thế
giới có gần 2/3 là phụ nữ; trong số 130 triệu trẻ em không được đến trường
tiểu học có 60% là em gái. Phần lớn phụ nữ và em gái này sống ở nông thôn.
Trong chương trình giáo dục cũng như sách giáo khoa ở nhiều nước vẫn còn
những quan niệm thành kiến với phụ nữ, không đề cập đến những thành tựu
của phụ nữ hay những vấn đề đặt ra hàng ngày đối với phụ nữ. Thậm chí
người ta cho rằng “nghèo khổ mang gương mặt phụ nữ - thầm lặng”.
(Trích trong bài “Giáo dục là một phương tiện hữu hiệu để giải phóng phụ
nữ” của báo Dantri.com.vn, ra ngày Thứ Hai, 09/05/2011).
3.1.4. Phụ nữ nghèo đói phân theo nghề nghiệp.
7

- Những người phụ nữ nghèo ở các vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu
vùng xa chủ yếu là làm trong các ngành nông nghiệp như trồng trọt, chăn
nuôi, làm nghề thủ công…
- Những người phụ nữ nghèo ở các khu đô thị thì chủ yếu là họ làm nghề

đói, chậm phát triển. Một trong những nguyên nhân của nó là tình trạng bất
bình đẳng giới phổ biến. Một nửa dân số đất nước là phụ nữ bị kìm hãm,
sống trong nghèo đói và thất học, bị hạn chế không được đóng góp trực tiếp
vào sự phát triển. Họ không phải là nguồn nhân lực có chất lượng cao và sự
tồn tại của họ gắn với các nhãn mác: ngu dốt và rẻ mạt. Không có nhà khoa
học nổi tiếng nào là phụ nữ. Nữ trí thức nếu có chỉ dừng ở mức là học sinh
trung học và hầu như không có sinh viên đại học.
Định kiến giới, phong tục tập quán đã làm hạn chế tỷ lệ và chất lượng làm
việc của phụ nữ trí thức. Chẳng hạn, ngược với sự tự tin của nam giới, phụ
nữ thường hay tự ti, cứ nghĩ rằng chắc là mình không làm được việc. Phụ nữ
trí thức còn gặp cản trở, sự ganh ghét từ phía nam đồng nghiệp và từ chính
phụ nữ đồng nghiệp. Trong khi đó, người lãnh đạo nhiều khi cũng lại có ý
nghĩ rằng, việc này thì nam giới làm sẽ tốt hơn phụ nữ. Trong nhiều trường
hợp, nếu được đặt đúng vị trí thì phụ nữ cũng phát huy như nam giới, thậm
chí tốt hơn do phụ nữ chu đáo và có tinh thần trách nhiệm cao.
→ Nghèo khổ thường đi đôi với phân biệt đối xử và cũng là nguyên nhân
dẫn đến hàng triệu cái chết cho phụ nữ và em gái trên thế giới.
9

3.2.2. Do phụ nữ có trình độ văn hóa thấp.
Cho đến tận nửa đầu thế kỷ 20, phụ nữ nhiều nước vẫn bị cấm đoán trong
lĩnh vực khoa học. Phụ nữ không được học hành đầy đủ như nam giới, vì lẽ
đó những danh nhân khoa học là phụ nữ trên thế giới chỉ là một thiểu số rất
nhỏ so với nam giới. Trong các thế kỷ được gọi là “Đêm trường trung cổ” có
những phụ nữ hàn lâm, có kiến thức và trí tuệ bị bài bác, thậm chí bị lên án,
bị bỏ tù. Thế kỷ 17 có trên 4000 phụ nữ trong đó hầu hết là nhà khoa học bị
nhà thờ Thiên Chúa giáo buộc tội là phù thuỷ và bị đàn áp. (Tạp chí Khoa
học & Phụ nữ , 1990).
Nhìn chung, sự phát triển của nữ trí thức không thể thiếu sự ủng hộ từ
nhiều phía: gia đình, cơ quan, cộng đồng. Tuy nhiên, quá trình hoàn thiện

có quá trình đào tạo liên tục. Tình trạng này đã ảnh hưởng lớn đến sự phát
triển trí tuệ, thể lực và khả năng sáng tạo của nữ trí thức. Thậm chí có một số
nữ thanh niên do tích cực học đến khi đạt được bằng cấp cao thì lại vướng
phải một khó khăn là khó lấy chồng do quan niệm của hầu hết nam giới là
không muốn lấy vợ có học thức cao hơn mình.
Tính cách và phẩm chất giới (kiên nhẫn, khiêm tốn, vị tha) là những thuận
lợi cho sự hình thành và biểu lộ tri thức của phụ nữ. Tham gia vào khoa học
vừa là dịp thử thách năng lực, phẩm chất của phụ nữ, vừa là cơ hội tốt cho
sự phát triển và tiến bộ của phụ nữ. Tuy nhiên, tư duy khái quát, hệ thống,
tính duy lý, sự kiên nhẫn tìm tòi trong khoa học ở phụ nữ thường mâu thuẫn
với xúc cảm, sự lo lắng, quan tâm đến các việc nhỏ nhặt, phân tán. So với
11

nam giới, phụ nữ thường ít tính quyết đoán mạnh mẽ trong một số trường
hợp. Điều này cũng cản trở phụ nữ trong công việc.
Phụ nữ ít điều kiện giao tiếp như nam giới. Điều này làm hạn chế họ trong
việc thu thập những thông tin cần thiết cho công tác nghiên cứu, giảng dạy,
quản lý và ứng xử.
→ Cũng do trình độ văn hóa còn thấp mà có yếu tố chi phối công việc của
phụ nữ, kéo theo đó là mức thu nhập của họ cũng không cao.
3.2.3. Do thu nhập của phụ nữ còn thấp.
Nguồn thu nhập chính của người phụ nữ chủ yếu là từ canh tác nuôi trồng
nông, lâm, thủy sản, chiếm 55,5% tổng thu nhập, tiền lương tiền công chiếm
23,8% tổng thu nhập.
Thu nhập ít ỏi, nên phải dành ưu tiên chi tiêu cho những nhu cầu tối thiểu
để duy trì sự sống như mua lương thực thực phẩm, chất đốt luôn chiếm tỷ
lệ cao nhất, tới 65,1%. Còn chi cho những nhu cầu phục vụ chất lượng sống
như nhà ở, điện, nước, vệ sinh, y tế, giáo dục, giải trí chỉ chiếm 34,9%
Do đó, khi giá cả tăng cao, người nghèo sẽ phải dồn khoản tiền kiếm được
chỉ để duy trì cuộc sống, như phải tăng thêm 0,5% tiền để mua thực phẩm,

Phụ nữ xưa nay vẫn xem là phái yếu trong xã hội, họ không có sức khỏe
như nam giới nên những công việc họ đảm nhiệm thường là những việc đơn
giản, nhẹ nhàng. Chính vì vậy mà phụ nữ thường mang hình ảnh người tề
13

gia nội trợ, chăm sóc chồng con. Xét về thu nhập thì họ là những người có
thu nhập thấp hơn, trong khi đó mọi khoản chi đều do họ nắm trả.
Người phụ nữ có nguy cơ mắc phải các bệnh thông thường cao như ốm
đau, các bệnh về đường giao tiếp, tình trạng sức khoẻ phụ nữ thường có sức
chịu đựng thấp hơn so với nam giới. Điều này đã làm ảnh hưởng đến sức
khoẻ của họ, giảm sức khoẻ cũng như hạn chế cơ hội tham gia công việc của
họ. Cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến tỉ lệ nghèo đói chiếm đa
số ở phụ nữ.
3.2.5. Do phụ nữ bị bất bình đẳng trong sở hữu tài sản.
- Nam giới có cơ hội lớn hơn so với nữ giới trong “tiền tệ hóa” tài sản.
Một trong những cách chính để tiền tệ hóa tài sản là sử dụng đất để thế
chấp vay vốn. Tuy nhiên, một nghiên cứu gần đây cho thấy trong số những
phụ nữ bị từ chối không được vay vốn, 20% nói rằng lý do là vì họ không có
vật thế chấp (Quỹ phát triển khu vực tư nhân Mêkông 2006). Mặc dù phong
tục truyền thống của Việt Nam thừa nhận cả phụ nữ và nam giới đều được
thừa kế đất đai nhưng trên thực tế, ít phụ nữ được đứng tên chủ sử dụng đất.
Mặc dù đất đai đã được cấp cho các hộ gia đình nông thôn từ năm 1988
nhưng đa số giấy CNQSDĐ đều do nam giới đứng tên. Bản sửa đổi Luật đất
đai năm 2003 quy định tất cả giấy CNQSDĐ mới phải bao gồm tên của cả
hai vợ chồng. Cho dù đây là một bước đi đúng hướng và sẽ đảm bảo rằng rất
nhiều phụ nữ tiếp cận được với đất đai và vốn tín dụng nhưng Luật lại không
yêu cầu sửa đổi các giấy CNQSDĐ được cấp từ trước. Có 81% các hộ gia
đình trong. Điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam 2004 có giấy CNQSDĐ
cho một phần đất đai của họ. Bảng 1 dưới đây phân chia các loại giấy
CNQSDĐ theo người đứng tên chủ sử dụng đất.

làm chủ hộ vẫn ít có điều kiện tiếp cận vốn tín dụng chính thức hơn so với
các hộ do nam giới làm chủ hộ. Cần tiếp tục nghiên cứu để hiểu rõ hơn
những ràng buộc hạn chế việc tiếp cận tín dụng chính thức của phụ nữ cũng
như vai trò của giấy CNQSDĐ trong việc giải quyết tình trạng này.
15

Bảng 2. Hộ gia đình có giấy CNQSDĐ có cơ hội tiếp cận các nguồn tín
dụng chính thức tốt hơn

Ngu
ồn tín dụng

Chính
thức
Bán
chính
thức

nhân
Tổng
Tổng số 56 10 35 100
Giấy CN QSDĐ cho mọi loại
đất
Nam gi
ới l
à ch
ủ hộ

người có đủ phương tiện sản xuất nó cũng làm giảm thu nhập của họ. Do
không có những tài sản giá trị để bảo đảm nên người nghèo cũng có rất ít
khả năng tiếp cận với các tổ chức cho vay vốn, do thu nhập thấp nên người
phụ nữ cũng không có khả năng tiết kiệm nhiều. Đó chính là thiếu hụt tài sản
tài chính. Còn tài sản xã hội, như các mối quan hệ và trách nhiệm đối với
nhau để khi cần có thể nhờ cậy và ảnh hưởng chính trị đối với các nguồn
lực, đối với người phụ nữ điều này cũng rất hạn chế, do thu nhập thấp, lúc
nào cũng phải lo chạy ăn đủ bữa nên người phụ nữ không quan tâm hoặc
không có khả năng tham gia nhiều vào các mối quan hệ xã hội. Một điều cản
trở nữa là, hầu hết khi tham gia vào các nhóm, tổ chức nào đó cũng cần có
thời gian, trong khi Phụ nữ phải gánh vác công việc của mình như nam giới
thì họ còn gánh vác thêm công việc nhà, chăm sóc dạy dỗ con cái. Điều này
đã làm cho người người phụ nữ khó tham gia vào các hoạt động, các tổ chức
các câu lạc bộ để góp phần nâng cao đời sống của chính mình.
3.2.6. Do phụ nữ có nguy cơ dễ bị tổn thương hơn nam giới.
Ở những người phụ nữ, nguy cơ dễ bị tổn thương là nhân tố luôn đi kèm
với sự khốn cùng về vật chất và con người.
Vậy nguy cơ dễ bị tổn thương là gì?
17

Nó chính là nguy cơ mà người nghèo phải đối mặt với nhiều loại rủi ro như
bị ngược đãi, đánh đập, thiên tai, bị thôi việc, phải nghỉ học Nói cách khác,
những rủi ro mà người phụ nữ phải đối mặt chính là nguyên nhân khiến họ
rất dễ bị tổn thương.
Những người phụ nữ do tài sản ít, thu nhập thấp, họ chỉ có thể trang trải
hạn chế, tối thiểu các nhu cầu thiết yếu nhất của cuộc sống. Vì vậy, khi rủi
ro xảy ra họ rất dễ bị tổn thương và rất khó vượt qua được các cú sốc có hại,
những cú sốc mang tính tạm thời mà những người có nhiều tài sản hơn dễ
dàng vượt qua được. Do thu nhập thấp, người phụ nữ có rất ít khả năng tiếp
cận với các cơ hội tăng trưởng kinh tế, vì thế họ thường phải bỏ thêm các chi

khi cuộc sống vật chất và tinh thần của người phụ nữ được cải thiện thì đó sẽ
là “nền tảng vàng” để gia đình, con cái họ phát triển, bởi người phụ nữ luôn
luôn hướng đến hạnh phúc gia đình bằng những suy nghĩ và việc làm rất cụ
thể.
3.3. Quan hệ giới và sự thiếu quyền quyết định.
3.3.1. Mối quan hệ giới.
Ngày nay, khi xã hội ngày càng phát triển thì vấn đề giới càng trở thành
vấn đề được quan tâm, chú ý hơn cả. Cụ thể hơn cho mối quan hệ giới đó
chính là vấn đề bất bình đẳng giới. Bất bình đẳng giới diễn ra trên nhiều lĩnh
vực khác nhau của cuộc sống.
- Đầu tiên, bất bình đẳng giới được thể hiện ngay trong tỷ lệ giới tính khi
sinh. Tỷ số giới bình thường là khi có 105 đến 108 bé gái sinh ra so với 100
bé trai. Ở Việt Nam, từ những năm 2000, số liệu thống kê qua các nghiên
19

cứu cho thấy có xu hướng mất cân bằng giới tính khi sinh, thể hiện qua số
trẻ em trai sinh ra đang ngày càng tăng lên so với trẻ em gái. Theo kết quả
của cuộc Tổng Điều tra Dân số do Tổng cục Thống kê Việt Nam phối hợp
cùng Quỹ Dân số Liên Hiệp Quốc (UNFPA) thực hiện vào năm 2009, tỷ số
giới tính khi sinh của Việt Nam đã tăng đột biến lên đến mức 110.6 vào năm
2009. Đặc biệt là điều này chỉ xảy ra gần đây, từ năm 2003.
- Một lĩnh vực khác mà bất bình đẳng giới thể hiện đó trong lĩnh vực chính
trị.
Tỷ lệ phụ nữ tham gia hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 1999-2004 so
với nam giới như sau: Cấp tỉnh/ thành phố: nam chiếm 76,67% trong khi đó
nữ chỉ chiếm 22,33%; cấp quận/ huyện: nữ 20,12% còn cấp xã/ phường nữ
chiếm tỷ lệ thấp hơn: 16,56%.
- Phụ nữ tập trung quá nhiều trong một số lĩnh vực và nghề nghiệp trong
khi đó nam giới lại tập trung trong một số lĩnh vực và nghề nghiệp khác.
Gần một nửa số lao động nữ chủ yếu tự làm sản xuất nông nghiệp, tỷ lệ

của phụ nữ, hiệu quả của công việc, phát triển kinh tế, dẫn đến nghèo đói.
Phụ nữ nghèo một phần do các lý do chủ quan như: sức khỏe, năng lực…
thì việc không được tiếp cận với những cơ hội trong cuộc sống một cách
công bằng nên hình ảnh người phụ nữ thường gắn với nghèo đói.
Vì vậy, việc xóa bỏ thói quen ngàn đời đó thực sự là một “cuộc cách
mạng” khó, đòi hỏi thời gian lâu dài.
Thời gian gần đây, Đảng và Nhà nước ta ngày càng có nhiều chính sách
thể hiện sự quan tâm đến vấn đề bình đẳng giới, bênh vực quyền lợi cho nữ
giới, quy định các biện pháp thực hiện nhằm xoá bỏ dần những phong tục,
tập quán lạc hậu không có lợi cho những người phụ nữ…
21

Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng
sản Việt Nam đã khẳng định: "Đối với phụ nữ, thực hiện tốt luật pháp và
chính sách bình đẳng giới, bồi dưỡng, đào tạo nghề nghiệp, nâng cao học
vấn; có cơ chế chính sách để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào các cơ
quan lãnh đạo và quản lý ở các cấp, các ngành; chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ
bà mẹ và trẻ em; tạo điều kiện để phụ nữ thực hiện tốt thiên chức người mẹ;
xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc".
Nhà nước và nhân dân Việt Nam lên án sự phân biệt đối xử trên cơ sở giới
và đang nỗ lực loại trừ sự phân biệt đối xử với phụ nữ bằng nhiều biện pháp.
Tuy nhiên, trong đời sống xã hội, vẫn còn các hành vi đối xử bất công với
phụ nữ, đặc biệt là ở các công ty, xí nghiệp tư nhân, liên doanh nước ngoài
v.v… Các cơ quan chức năng của Nhà nước sẽ thực hiện các biện pháp triệt
để hơn nữa nhằm bảo đảm cho phụ nữ quyền bình đẳng, không bị phân biệt
đối xử như pháp luật đã quy định. Các tổ chức công đoàn, nữ công và hội
phụ nữ cơ sở chủ động, tích cực trong vai trò người giám sát việc thực thi
pháp luật và bảo vệ quyền lợi chính đáng, hợp pháp của lao động nữ.
Công tác tuyên truyền giáo dục sẽ tiếp tục được đẩy mạnh để mọi người
dân, đặc biệt là phụ nữ có thể hiểu rõ và tự bảo vệ các quyền và lợi ích

Bình Dương (27% từ 2002) (TCTK-Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ
nữ, 2005). Việt Nam cũng tự hào là một trong những quốc gia có tỷ lệ tham
gia kinh tế cao nhất trên thế giới: 85% nam giới và 83% nữ giới trong độ
tuổi 15 đến 60 tham gia vào lực lượng lao động trong năm 2002.
(Báo cáo phát triển Việt Nam, 2004).
3.3.2. Phụ nữ và sự thiếu quyền quyết định.
23

Sự bất bình đẳng trong quyền quyết định của người phụ nữ là một quan
điểm vốn tồn tại từ xa xưa cho đến nay trở thành một thói quen, một nếp
nghĩ ăn sâu vào trong đời sống của mỗi người và vẫn tiếp diễn cho đến nay.
Có nhiều vấn đề trong sự bất bình đẳng đối với nữ trong mối quan hệ giới
từ trước đến nay thể hiện như: việc cung cấp cơ hội giáo dục cho trẻ em gái
và phụ nữ dân tộc thiểu số; việc tiếp tục tồn tại các định kiến giới trong các
tài liệu giáo dục và sách giáo khoa…
Tuy nhiên, để giải quyết các vấn đề trên thì trước tiên chúng ta cần phải tác
động trực tiếp để làm sao mà nữ giới có được quyền quyết định cho riêng
mình.
Theo báo cáo của Ngân hàng chính sách xã hội, tính đến tháng 12/2002,
số hộ nghèo do nữ làm chủ hộ được vay vốn tín dụng chiếm khoảng 60%
(tăng 20% so với thời điểm báo cáo lần 3 và 4). Như vậy, từ việc người
phụ nữ được vay vốn tín dụng nên họ có thể tự quyết định về kinh tế trong
gia đình cũng như công việc của mình.
Trước hết với tư cách là người lao động sản xuất. Phần lớn phụ nữ nước ta
làm nghề nông. Số liệu cho biết, cứ 100 lao động nữ thì có 46 người làm
nông, con số này ở nam là 39. Trong đó, tỷ lệ nữ sản xuất ở hộ gia đình cũng
cao hơn so với nam (63% so với 53% - Viện Khoa học xã hội Việt Nam,
2007. Báo cáo phân tích số liệu điều tra về bình đẳng giới). Điều này cho
thấy khi nước ta thực hiện cắt giảm thuế nhập khẩu, hạn chế các khoản chi
hỗ trợ trực tiếp cho nông dân theo cam kết với WTO, đồng thời khi thị

thì người phụ nữ cũng không được quyết định trong mối quan hệ hôn nhân
của mình, mà phụ thuộc vào cha mẹ, nếu chống lại thì được cho là vi phạm
chuẩn mực đạo đức, bất hiếu với cha mẹ. Rồi khi đã đi lấy chồng thì quyền
quyết định chủ yếu trong mọi công việc gia đình cũng phụ thuộc chủ yếu
25

vào người chồng và có thể là con trai trong gia đình nếu không may người
chồng mất đi. Và quan niệm đó cho đến ngày nay vẫn tồn tại tuy không còn
nhiều. Những năm trở lại đây hầu như người phụ nữ không còn chấp nhận
những cuộc hôn nhân dựa trên nền quan niệm ấy nữa. Họ không chấp nhận,
không phải chỉ vì những người phụ nữ đòi quyền bình đẳng, mà còn vì đàn
ông cũng không muốn hoặc không thể gánh vác vai trò “trụ cột gia đình”.
Phụ nữ ngày nay, có gia đình rồi vẫn được tự do với các mối quan hệ xã hội
bên ngoài, tự do tìm kiếm hay đón nhận cơ hội nghề nghiệp, tự do quyết
định các vấn đề tài chính.
Tuy nhiên, phụ nữ làm kinh tế gia đình được hưởng các quyền lợi như nam
giới theo quy định chung, ngoài ra không có quy định riêng nào khác.
Trong những năm gần đây, Chính phủ Việt Nam đã thực hiện nhiều biện
pháp nhằm phát triển kinh tế hộ gia đình, đặc biệt phát triển mạnh ở khu
vực nông thôn, coi mỗi hộ gia đình là một đơn vị kinh tế, tạo việc làm
cho chính các thành viên trong gia đình, thu hút lao động tại chỗ, góp phần
xoá đói giảm nghèo và nâng cao đời sống nhân dân. Các mô hình cho vay tín
dụng nhỏ từ các chương trình việc làm, xoá đói giảm nghèo, kinh tế trang
trại, đã giúp phụ nữ vừa có việc làm, vừa tăng thu nhập cho gia đình.
Ngoài ra, phụ nữ còn được sự quan tâm của các tổ chức đoàn thể. Đặc biệt
các cấp Hội phụ nữ được Chính phủ cho phép đứng ra làm tín chấp để tổ
chức cho hội viên vay vốn làm kinh tế gia đình. Hàng năm, có khoảng 30%
trong tổng số dự án nhỏ do các cấp Hội phụ nữ đứng ra tổ chức cho phụ nữ
vay. Mức thu nhập bình quân của người làm kinh tế gia đình bằng khoảng
40% - 60% và khoản thu nhập này đã đóng góp vào tăng thu nhập cho bản


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status