TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
KHOA CÔNG TÁC XÃ HỘI
Bài tiểu luận
MÔN
C ÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT
ĐỀ TÀI
VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI
TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CỦA NGƯỜI KHUYẾT TẬT Giảng viên : THs. Nguyễn Hiệp Thương
Sinh viên : Bùi Thị Huệ
Lớp : K58D - CTXH
HÀ NỘI – 2011
TRẠNG
NGƯỜI
KHUYẾT
TẬT
7
2.1. Trên thế giới 7
2.2. Ở Việt Nam 8
2.3. Một số vấn đề gặp phải của người khuyết tật trong cuộc sống 10
CHƯƠNG
III.
VAI
TRÒ
CỦA
CÔNG
TÁC
XÃ
những chủ trương chính sách phát triển xã hội thông qua các chính sách đảm bảo đời
sống an sinh xã hội của người dân cũng ngày càng được chú trọng. Có nhiều lĩnh vực
mà những chương trình chính sách an sinh xã hội hướng đến: Xoá đói giảm nghèo, các
vấn đề liên quan đến gia đình, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt Và một trong những lĩnh
vực mà ngành công tác xã hội rất cần được quan tâm là lĩnh vực khuyết tật, những
động thái tạo điều kiện cho sự hoà nhập, nâng cao năng lực cho người khuyết tật
(NKT). Pháp lệnh của Uỷ Ban Thường Vụ Quốc Hội số 06/1998/PL - UBTVQH10
ngày 30/07/1998 về Người Tàn Tật định nghĩa NKT không phân biệt nguồn gốc gây ra
khuyết tật là người bị khuyếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng
biểu hịên dưới những dạng tật khác nhau, làm suy giảm khả năng hoạt động từ 41%
trở lên khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp nhiều khó khăn qua khái niệm đó ta
có thể thấy người khuyết tật có thể gặp rất nhiều vấn đề trong cuộc sống.
Hiện nay, người khuyết tật gặp rất nhiều khó khăn, nhất là các cơ hội tiếp cận các
hoạt động, dịch vụ nhằm nâng cao năng lực, tạo thuận lợi cho việc hội nhập đời sống
của cộng đồng. Bản thân NKT không thể hội nhập vào cuộc sống cộng đồng nếu đó
chỉ là sự nỗ lực của bản thân mà còn cần được sự quan tâm chia sẻ, tạo thuận lợi từ gia
đình, cộng đồng và xã hội. Chính vì vậy nhân viên công tác xã hội đóng vai trò như là
cầu nối của người khuyết tật để họ có thể dễ dàng hoà nhập với cộng đồng và xã hội từ
đó phát huy được khả năng của mình. Chính vì những lý do đó việc làm rõ " vai trò
của nhân viên CTXH trong việc giải quyết vấn đề của người khuyết tật" là rất cần
thiết.
4
5
Người khuyết tật – là người có sự khác biệt về khả năng và hạn chế do khiếm
khuyết về giác quan, vận động, và tâm thần để thực hiện một hoạt động được coi là
bình thường.
Cùng với khái niệm về người khuyết tật, đạo luật số 7277 của Philipine còn giải
thích một số thuật ngữ khác có liên quan đến người khuyết tật, cụ thể như sau:
Sự khiếm khuyết là sự mất, giảm hay rối loạn về chức năng, hay cấu trúc cơ thể,
tâm lý và hành vi.
Khuyết tật có nghĩa là: sự khiếm khuyết về vận động hay trí não có ảnh hưởng
đáng kể đến một hoặc nhiều chức năng vận động, tâm thần của một cá nhân hay các
hoạt động của cá nhân hoặc được coi là có khiếm khuyết.
Ở Việt Nam
Khuyết tật và tàn tật là hai từ tiếng Việt để chỉ cùng một khái niệm, hiện nay
người ta vẫn dùng song song chúng trên các phương tiện truyền thông đại chúng và
văn bản pháp quy. Trong các pháp lệnh trước đây của Nhà nước Việt Nam, tàn tật là
cụm từ được chính thức sử dụng, song theo dự thảo năm 2009, từ khuyết tật nhiều khả
năng sẽ được dùng để thay thế từ tàn tật trong các bộ luật.
Ngày 17/6/2010, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông
qua Luật Người khuyết tật, có hiệu lực từ 01/01/2011, chính thức sử dụng khái
niệm “người khuyết tật” thay cho khái niệm “tàn tật” hiện hành, phù hợp với khái
niệm và xu hướng nhìn nhận của thế giới về vấn đề khuyết tật. Theo quy định của
Luật Người khuyết tật thì người khuyết tật được hiểu là “người bị khiếm khuyết một
hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật
khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn.”
Thông thường từ khuyết tật được cho là mang sắc thái tình cảm, ý nghĩa tốt hơn
là từ tàn tật. Người ta cho rằng từ “tàn” trong cụm từ tàn tật gợi đến hình ảnh tiêu cực,
tạo cảm giác không còn khả năng gì, không còn tương lai và điều đó ảnh hưởng không
tốt đến nỗ lực phấn đấu vượt khó khăn. Từ “khuyết” mang nghĩa suy giảm chức năng
nhưng vẫn có khả năng phục hồi, vẫn còn hy vọng. Ngược lại, cũng có ý kiến cho rằng
liệt và suy nhược thần kinh.
Chứng động kinh bao gồm những người bị cơn động kinh từ việc mất khả năng
tập trung cho đến vô thức mang tính lâu dài với những hoạt động thần kinh không bình
thường (kinh niên hoặc định kỳ).
Mất cảm giác (bệnh hủi, bệnh phong) bao gồm những người bị nhiễm trùng kinh
niên tấn công các mô bề mặt, đặc biệt là da và dây thần kinh, phát triển mạnh ở các
phần phụ giống như là ngón tay, ngón chân.
1.3. Công tác xã hội
7
Công tác xã hội là một chuyên ngành để giúp đỡ cá nhân, nhóm hoặc cộng đồng
tăng cường hay khôi phục việc thực hiện các chức năng xã hội của họ và tạo những
điều kiện thích hợp nhằm đạt được các mục tiêu đó Nghề Công tác xã hội thúc đẩy sự
thay đổi xã hội, giải quyết vấn đề trong mối quan hệ của con người, tăng năng lực và
giải phóng cho người dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ tốt hơn.
CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG NGƯỜI KHUYẾT TẬT
2.1. Trên thế giới
Theo số liệu của Liên hợp quốc (UN), hiện nay trên toàn cầu có hơn 600 triệu
người khuyết tật và cuộc sống hằng ngày của 25% dân số toàn cầu có liên quan với
người khuyết tật ở mặt này hay mặt khác. Tổ chức Y tế thế giới (WHO) thì lưu ý rằng
25% dân số toàn cầu ảnh hưởng bởi sự khuyết tật vì nó ảnh hưởng đến toàn gia đình
của người khuyết tật, chứ không chỉ có cá nhân người đó, và rằng 80% số người
khuyết tật sống trong các nước nghèo (trong đó có Việt Nam) phần lớn trong số họ là
những người nghèo và không tiếp cận được các dịch vụ cơ bản như các trung tâm phục
hồi chức năng.
Theo thống kê của Uỷ ban kinh tế - xã hội khu vực Châu Á - Thái Bình Duơng
(ESCAP), trên thế giới có khoảng 650 triệu người khuyết tật, chiếm tỷ lệ trên 10%
dân số thế giới; đa phần người khuyết tật sống trong các gia đình có hoàn cảnh
phân loại này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc định hướng các hoạt động trợ giúp
người khuyết tật hoà nhập cộng đồng và phát triển phù hợp với nhu cầu thiết yếu của
người khuyết tật.
Dự báo trong nhiều năm tới số lượng người khuyết tật ở Việt Nam chưa giảm do
tác động của ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng của chất độc hóa học do M ỹ sử dụng
trong chiến tranh Việt Nam, tai nạn giao thông, tai nạn lao động và hậu quả thiên
tai…
Đời sống vật chất, tinh thần của người khuyết tật còn nhiều khó khăn. Theo kết
quả khảo sát người khuyết tật do Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội tiến hành năm
2005 thì phần lớn các hộ có người khuyết tật đều có mức sống thấp. Theo đánh giá của
các hộ gia đình thì có 32,5% số hộ thuộc loại nghèo (chung của cả nước là 22%), 58%
số hộ có mức sống trung bình, chỉ có 9% số hộ thuộc loại khá và 0,5% số hộ thuộc loại
giàu. Hộ càng có nhiều người khuyết tật thì mức sống càng giảm, trong nhóm hộ có 01
người khuyết tật, 31% là thuộc diện hộ nghèo, song tỷ lệ hộ nghèo ở nhóm hộ có 3
người khuyết tật lại lên trên 63%. Có tới 37% người khuyết tật đang sống trong hộ
nghèo (cao gấp 3 lần so với tỷ lệ nghèo chung cùng thời điểm); 24% ở nhà tạm, 34,4%
từ 6 tuổi chưa biết chữ và 21,24% chưa tốt nghiệp tiểu học; 79,13% trong độ tuổi lao
động không có khả năng tham gia lao động; 88,9% từ 16 tuổi trở lên chưa được đào
9
tạo chuyên môn (trong đó chỉ có 2% đang học nghề); 79,13% sống dựa vào gia đình,
người thân. Những khó khăn này cản trở người khuyết tật tiếp cận dịch vụ y tế, giáo
dục, học nghề, tìm kiếm việc làm, tham gia giao thông, dẫn đến khó khăn trong cuộc
sống và hòa nhập với cộng đồng.
Người khuyết tật Việt Nam chiếm một phần đáng kể dân số, nhưng trình độ học
thức và nghề nghiệp vẫn ở mức độ thấp. Người khuyết tật cũng gặp phải những khó
khăn nhất định. Theo thống kê của Bộ Lao động -Thương binh và Xã hội, tỷ lệ người
khuyết tật được đi học chiếm rất thấp, khoảng 35,83% người khuyết tật biết chữ, và
chỉ có khoảng 12,58% người khuyết tật biết đọc, biết viết. Bởi vậy, người khuyết tật
phủ dành cho người khuyết tật thường không đủ theo nhu cầu.
Thanh niên khuyết tật chiếm số lượng lớn tổng số người khuyết tật Việt Nam.
Số lượng người ở độ tuổi dưới 45 chiếm 66,8%, và phần lớn trong số này đều
có khả năng làm việc và muốn có việc làm. Tuy nhiên, các trung tâm dịch vụ việc làm
không đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động, và năng lực quản lý của nhà
nước về vấn đề việc làm chưa đáp ứng được nhu cầu. Việc làm và đào tạo nghề cho
người khuyết tật vẫn là một vấn đề lớn ở Việt nam.
Hơn nữa, người khuyết tật không tiếp cận hay được cung cấp đầy đủ với các dịch
vụ chăm sóc sức khoẻ tốt. Các trung tâm y tế không cung cấp dịch vụ phục hồi chức
năng, và không có khả năng đáp ứng nhu cầu của người khuyết tật. Cuối cùng, người
khuyết tật không có tiền để điều trị bệnh tật, trong khi đó, phúc lợi xã hội về chăm sóc
y tế không đủ chi trả cho tất cả các chi phí điều trị.
Như vậy, so với khu vực và thế giới, nước ta nằm ở nhóm nước có tỷ lệ khuyết
tật ở mức trung bình. Tuy nhiên, vì là quốc gia đang phát triển nên người khuyết tật
còn hạn chế khả năng tiếp cận với các dịch vụ cũng như việc làm và thu nhập. Người
khuyết tật là một trong những nhóm yếu thế trong xã hội, bởi vậy, họ cần phải được hỗ
trợ và trợ giúp đặc biệt bao gồm các dịch vụ trợ giúp, phục hồi chức năng và các cơ
hội việc làm và đào tào nghề.
2.3. Một số vấn đề gặp phải của người khuyết tật trong cuộc sống
Người khuyết tật gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống như học tập, việc làm,
hôn nhân, kỳ thị…Những khó khăn đó tác động qua lại lẫn nhau, là nguyên nhân
và kết quả của nhau do vậy chúng tạo thành một vòng luẩn quẩn. Sự giúp đỡ lớn về
vật chất không phải ai cũng làm được nhưng về tinh thần thì lại khác. Cản trở lớn nhất
với người khuyết tật là sự kỳ thị, nó là rào cản vô hình tàn nhẫn đẩy nhiều người ra
bên lề của cuộc sống. Và kỳ thị không phải là vấn đề thuộc vật chất, của khoa học
kỹ thuật mà nó là vấn đề thuộc tâm lý, là sự ý thức sâu xa giá trị sống của con người.
Dưới đây trình bày cụ thể những bất lợi chung của người khuyết tật.
11
mà họ khó có thể tiếp cận.
12
Theo ước tính của Tổ chức lao động Quốc tế ( ILO – International Labour
Organization) có khoảng 386 triệu người trên thế giới trong độ tuổi lao động bị khuyết
tật. Tỉ lệ thất nghiệp của người khuyết tật ở một số quốc gia lên đến hơn 80%. Thông
thường người sử dụng lao động cho rằng người khuyết tật không thể làm việc được.
Năm 2004, cuộc điều tra ở Hoa Kỳ cho thấy chỉ có hơn 35% người khuyết tật
trong độ tuổi lao động đang có việc làm (mặc dù con số này cũng đã khá tốt so với các
nước khác), trong khi đó 78% người không khuyết tật thất nghiệp nói rằng họ muốn
làm việc nhưng không thể tìm được việc.
2.2.3. Hôn nhân
Người khuyết tật khó lập gia đình hơn người bình thường, điều này có nhiều
nguyên nhân. Theo nguyên lý chung thì con người có xu hướng lựa chọn bạn đời
có bộ gen tốt, do đó người khuyết tật thường bị cho là lựa chọn “ dưới tiêu chuẩn”.
Theo kết quả của một cuộc điều tra thì 17% người được hỏi ở Thái Bình, 16%
ở Quảng Nam – Đà Nẵng và 25% ở Đồng Nai còn có ý nghĩ rằng người khuyết tật
chỉ nên kết hôn với người khuyết tật – một quan điểm thể hiện sự phân biệt đối xử hết
sức rõ ràng.
Hơn nữa, nếu một người lành lặn yêu người khuyết tật thì gia đình, đặc biệt
là bố mẹ của người không khuyết tật thường phản đối vì họ sợ rằng con họ sẽ khổ.
Ngoài ra, là những lo sợ về di truyền, khả năng chăm sóc con cái yếu kém và khó khăn
sau này do bệnh nặng thêm, kinh tế khó khăn, xấu hổ với xã hội…Người khuyết tật
cũng thường có mặc cảm mình làm khổ người yêu với suy nghĩ sai lầm.
Sự kỳ thị thậm chí được thể hiện cả trong giới tính. Cùng bị khuyết tật nhưng
nam giới có khả năng lập gia đình cao hơn nữ. Theo một báo cáo của Viện nghiên cứu
xã hội (ISDS) thực hiện thì có đến 70% người khuyết tật nam trở lên ở Thái Bình kết
hôn, trong khi tỉ lệ này ở nữ chỉ khoảng 20%, tính ra mức chênh lệch là hơn 3 lần. Tại
Quảng Nam, Đà Nẵng cũng có mức chênh lệch về tỉ lệ người khuyết tật không kết hôn
Theo nghiên cứu của Erving Goffman (1963) đã miêu tả ba loại kỳ thị đó là:
Sự ghê sợ về cơ thể: tức là hững kỳ thị liên quan đến những biến dạng thể chất.
Nhược điểm về tính cách của một cá nhân: chẳng hạn như một người được coi
là thiếu ý chí nếu có những đam mê không bình thường hoặc không trung thực.
Kỳ thị bộ lạc: tức là kỳ thị về sắc tộc, quốc tịch hoặc tôn giáo hoặc là việc tham
gia một tổ chức xã hội bị khinh miệt.
Năm 2007, được sự tài trợ của Quỹ Ford, Viện Nghiên cứu phát triển xã hội
(ISDS) đã tiến hành khảo sát 4 tỉnh thành ở Việt Nam và đưa ra một vài con số thống
kê sau đây về quan điểm của cộng đồng về người khuyết tật, qua đó cho thấy sự phân
biệt đối xử với người khuyết tật. 14 Bảng khảo sát về thái độ của cộng đồng đối với người khuyết tật
Nguồn: Viện nghiên cứu phát triển xã hội (năm 2007)
Tháiđ
ộ của cộng đồng với ng
ư
ời khuyết tật
T
ỉ
ình
thường
40% đ
ến
59,4%
Người khuyết tật bị như vậy là do số phận 56% đ
ến
65%
Ngư
ời khuyết tật phải gánh chịu số
ki
ếp khuyết
tật như vậy vì họ phải trả giá cho việc làm x
ấu xa
ở kiếp trước
14% đ
ến
21%
G
ặp phải ng
ư
ời khuyết tật l
à
g
ặp phải vận
đen
Theo một nghiên cứu của nước Anh, người khuyết tật có khả năng là nạn nhân
của bạo hành hoặc hãm hiếp, và có ít khả năng được cảnh sát can thiệp, bảo vệ pháp
lý hoặc chăm sóc phòng ngừa. Nghiên cứu khác cho thấy rằng bạo hành đối với trẻ em
khuyết tật xảy ra hàng năm cao hơn ít nhất là 1,7 lần so với những trẻ có cùng vị
thế nhưng không khuyết tật. Phụ nữ và các trẻ gái khuyết tật đặc biệt dễ bị tổn
thương, lạm dụng. Một cuộc khảo sát nhỏ trong năm 2004 tại Orissa, Ấn Độ, cho thấy
rằng hầu như tất cả phụ nữ và các trẻ gái khuyết tật từng bị đánh ở nhà, 25% phụ nữ
khuyết tật trí tuệ bị hiếp dâm và 6% bị buộc làm mất khả năng sinh sản bằng vũ lực.
Như vậy, người khuyết tật nói chung dễ trở thành đối tượng của bạo lực hơn, cả về mặt
thể xác lẫn tinh thần.
CHƯƠNG III. VAI TRÒ CỦA CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HOẠT
ĐỘNG TRỢ GIÚP NGƯỜI KHUYẾT TẬT
Công tác xã hội là một hoạt động chuyên môn mới ở Việt Nam và là mô hình
hoạt động chuyên môn hiệu quả hướng đến trao quyền và nâng cao chất lượng sống
của các đối tượng yếu thế, cùng với sự ban hành Luật người khuyết tật (2010), định
hướng phát triển xã hội đến năm 2020 và đề án phát triển nghề công tác xã hội, công
tác xã hội Việt Nam nói chung và công tác xã hội với người khuyết tật nói riêng đang
đối mặt với những cơ hội và những thách thức rất lớn.Việc xây dựng các mô hình thực
hành công tác xã hội phù hợp trong bối cảnh hệ thống phúc lợi, chính sách xã hội và
dịch vụ xã hội là điều luôn được đặt ra không chỉ ở các quốc gia mới phát triển nghề
công tác xã hội mà còn ở các quốc gia có hệ thống nghề công tác xã hội phát triển
mạnh và lâu đời. Trong lúc vai trò quan trọng của ngành công tác xã hội đã được nhà
nước và cả xã hội công nhận, và việc đào tạo NVXH đang được thực hiện ở rất nhiều
trường đai học và cao đẳng trên khắp cả nước, chúng ta cũng nên cân nhắc đến việc
đào tạo NVXH chuyên ngành để có thể phục vụ tốt hơn các đối tượng thiệt thòi trong
16
nhân khuyết tật của họ đúng cách hơn. Người NVXH cũng sẽ tham vấn cho NKT và
17
gia đình, giúp họ lập kế hoạch cá nhân và sử dụng tối đa những nguồn nội lực và ngoại
lực sẵn có trong cộng đồng.
2. Sống quá lâu trong một môi trường xem NKT chỉ là người “tàn tật” nên NKT
ít có cơ hội học tập và phát triển, do đó đại đa số NKT thiếu hẳn kỹ năng sống. Vì vậy,
NVXH còn phải đóng vai trò của nhà giáo dục, giúp NKT phát triển những kỹ năng xã
hội cần thiết để họ có thể tự tin mà tham gia vào mọi hoạt động xã hội có ích cho cuộc
sống của họ. Môi trường chưa thuận tiện cho việc đi lại và sinh hoạt của NKT. Các
công trình công cộng thường không được xây dựng hay sửa chữa theo Qui Chuẩn Tiếp
Cận của Bộ Xây Dựng nên NKT luôn đối mặt với rào cản như bậc tam cấp và nhà vệ
sinh không phù hợp. Đồng thời, NKT luôn gặp khó khăn về phương tiên đi lại mà hệ
thống xe buýt sẵn có lại khó sử dụng vì thiếu bộ phận nâng xe lăn, thái độ phục vụ
chưa tốt Doanh nghiệp còn thiếu thông tin về NKT nên vẫn còn kỳ thị, chưa tin vào
năng lực của NKT. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ cần người kiêm được một lúc nhiều
việc và một số nghề đòi hỏi ngoại hình cũng hạn chế thị trường việc làm của NKT.
Hầu hết NKT thiếu những kỹ năng xã hội cần thiết. Họ không biết cách tiếp cận với
các chính sách hỗ trợ, các trung tâm dạy nghề và giới thiệu việc làm, hoặc các nguồn
vay vốn ưu đãi. Thậm chí sau khi học nghề và có chứng chỉ của các trung tâm dạy
nghề, NKT vẫn thiếu thông tin về nhà tuyển dụng, không biết đến chính sách việc làm
cho NKT, hoặc không đáp ứng được yêu cầu của nhà tuyển dụng. Các bạn đã có việc
làm thì gặp khó khăn trong việc bố trí việc làm phù hợp với thể trạng và dạng tật nên
khó phát huy được hết khả năng, ít được tập huấn thêm nên khó thăng tiến và lương
thấp. Thường thành viên của gia đình ngăn cản họ khi biết con cái của họ yêu NKT vì
e ngại rằng con cái của họ sẽ khổ khi kết hôn với người KT. Đôi khi, hoàn cảnh gia
đình khó khăn (nghèo, phải gánh vác gia đình, …) cũng ngăn trở các bạn khuyết tật đi
đến quyết định cuối cùng là tiến đến hôn nhân. Ngoài ra, còn có những vấn đề thuộc
về bản thân NKT thí dụ như NKT thường mặc cảm tự ti, cho rằng người bạn không
cần có những thái độ đúng đắn tôn trọng thân chủ và đặc biệt là biết quan tâm chia sẻ
động viên thân chủ vượt qua khó khăn để vươn lên hoà nhập với mọi người. Nhân viên
công tác xã hội cần là người giúp cho gia đình và cộng đồng hiểu rõ những nhu cầu và
năng lực của người khuyết tật từ đó tạo ra môi trường thuận lợi cho người khuyết tật
tự tin phát huy khả năng của mình. Nhân viên công tác xã hội cần phải nắm rõ các
chính sách hỗ trợ người khuyết tật các văn bản luật pháp quy định quyền lợi của người
khuyết tật từ đó có thể chia sẻ thông tin hỗ trợ cho người khuyết tật giải quyết những
khó khăn mà họ đang gặp phải. Nhân viên công tác xã hội cần biết được những cơ
quan có thể hỗ trợ và giúp đỡ người khuyết tật từ đó đóng vai trò là cầu nối giúp người
khuyết tật tiếp cận được các nguồn lực. Vì vậy vai trò của nhân viên công tác xã hội
hết sức cần thiết nhằm hỗ trợ các vấn đề gặp phải của người khuyết tật hiện nay.
19