tiểu luận Những diễn biến chủ yếu của cuộc chiến tranh lạnh giữa hai cực Xô – Mĩ, hai khối Đông – Tây qua việc giải quyết vấn đề Đức sau năm 1945 - Pdf 26

Bài tiểu luận Nguyễn Mạnh Quỳnh - K54B
Lịch sử

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Lịch sử loài người đã từng chứng kiến không biết bao nhiêu cuộc chiến
tranh với rất nhiều hình thái và diễn biến, cùng với những hệ quả khác nhau
đối với sự phát triển của xã hội loài người. Cuộc chiến tranh lạnh giữa hai
siêu cường Xô và Mĩ, giữa hai khối Đông và Tây (1947 – 1989) là một cuộc
chiến tranh khác lạ, không bởi chỡ vỡ cái tên của nó mà còn cả vì hình thái,
diễn biến, cách đánh giá và nhận định về tác động của nó đối với cục diện thế
giới. Trong đó, một vấn đề quan trọng, trung tâm của cuộc chiến là việc giải
quyết vấn đề Đức trở thành một đề tài thu hút được rất nhiều sự quan tâm,
nghiên cứu của nhiều học giả trên thế giới với nhiều quan điểm, nhận định
khác nhau.
Sau chiến tranh thế giới II, một trong những vấn đề nổi lên hàng đầu
trong quan hệ quốc tế là vấn đề nước Đức, thủ phạm chính gây nên chiến
tranh. Việc giải quyết vấn đề này là một trong những vấn đề quan trọng nhất
sau chiến tranh, đồng thời cũng trở thành một “duyờn cớ” để làm bùng nổ
cuộc chiến tranh lạnh giữa siêu cường Xô – Mĩ, giữa hai khối Đông và Tây.
Mặc dù cùng thống nhất với nhau trong chủ trương “tiờu diệt tận gốc chủ
nghĩa phát xít Đức” nhưng trong quá trình thực hiện chủ trương này, Xô – Mĩ
đã bộc lộ những mâu thuẫn gay gắt, không thể nào điều hòa nổi. Với âm mưu
biến Tây Đức thành tiền đồn “ngăn chặn” các nước đi theo chủ nghĩa cộng
sản do Liờn Xụ đứng đầu, Mĩ và các nước Tây Âu đã ra sức thực hiện âm
mưu chia cắt nước Đức, không ngừng tăng cường bánh trướng ảnh hưởng của
mình tại đây; Trong khi đó, Liờn Xụ và các nước chủ nghĩa xã hội lại muốn
tiêu diệt hoàn toàn chủ nghĩa quân phiệt Đức, trung lập và dân chủ hóa nước
này, xóa bỏ hoàn toàn nguy cơ bị nước Đức tấn công một lần nữa như trong
lịch sử hai cuộc chiến tranh thế giới. Vì thế, nước Đức, nơi khởi đầu của hai
1

và quyết liệt nhất.
2
Bài tiểu luận Nguyễn Mạnh Quỳnh - K54B
Lịch sử

Tác giả Nguyễn Anh Thái trong tác phẩm “Cuộc chiến tranh lạnh sau
chiến tranh thế giới thứ II (1947 – 1989)” in trong cuốn sách “Một số
chuyên đề lịch sử thế giới” do nhà xuất bản Đại học Quốc gia ấn hành năm
2003, cũng đã tạo nên một bức tranh sinh động, đầy đủ về vấn đề Đức từ sau
chiến tranh thế giới II đến khi kết thúc năm 1990. Từ đó, tác giả đó giỳp
người đọc hiểu được những đặc trưng cơ bản nhất, quan trọng của cuộc chiến
tranh lạnh giữa hai cực Xô – Mĩ, hai khối Đông – Tây qua việc giải quyết vấn
đề Đức.
Tác giả người Trung Quốc, Trương Tiểu Minh trong tác phẩm “Chiến
tranh lạnh và di sản của nú” được Nhà xuất bản chính trị Quốc gia ấn hành
năm 2002 cũng đã đề cập được lịch sử của vấn đề Đức từ sau chiến tranh thế
giới II trong bức tranh chung của cuộc chiến tranh lạnh, cũng như trong mối
liên hệ với các sự kiện khác của cuộc chiến tranh “kỡ lạ” này.
Tác giả J.B. Dorusell trong tác phẩm “Lịch sử ngoại giao” do Nhà
xuất bản học viện quan hệ quốc tế xuất bản năm 1995, trong khi đề cập đến
chính sách ngoại giao của Mĩ và Liờn Xụ sau chiến tranh thế giới II đã cung
cấp cho người đọc những tư liệu quan trọng để có thể hiểu rõ hơn về những
diễn biến của cuộc chiến tranh lạnh giữa hai cực Xô – Mĩ, hai khối Đông –
Tây qua việc giải quyết vấn đề Đức sau năm 1945.
Các công trình nghiên cứu trờn đó trình bày một cách khá toàn diện về
những nội dung quan trọng của vấn đề Đức sau chiến tranh thế giới II đến
nay. Vì vậy, trong khuôn khổ của một bài tập chuyên đề, tác giả chỉ mong
muốn có thể hệ thống lại những nội dung quan trọng nhất của vấn đề, đồng
thời đưa ra một số nhận xét, đánh giá của bản thân về vấn đề này.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài.

Cụ thể như sau:
Chương 1: Cuộc đối đầu Xô – Mĩ và việc chia cắt nước Đức từ sau
chiến tranh thế giới II đến năm 1949.
4
Bài tiểu luận Nguyễn Mạnh Quỳnh - K54B
Lịch sử

Chương 2: Cuộc chiến tranh lạnh giữa hai cực Xô và Mĩ, hai khối
Đông và Tây xung quanh vấn đề Đức từ thập niên 50 đến thập niên 90 của
thế kỉ XX.
NỘI DUNG
Chương 1
CUỘC ĐỐI ĐẦU XÔ – MĨ VÀ VIỆC CHIA CẮT NƯỚC ĐỨC TỪ
SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI II ĐẾN NĂM 1949
1. Khái quát về cuộc chiến tranh lạnh
Sau khi chiến tranh thế giới thứ II kết thúc, trong quan hệ quốc tế nảy
sinh nhiêu mâu thuẫn và bất đồng mới, đặc biệt là hai siêu cường Xô – Mĩ,
hai nước đứng đầu hai hệ thống xã hội đối lập nhau là TBCN và XHCN.
Chính những bất đồng này, cộng với môi trường quốc tế sau chiến tranh và
nhu cầu bảo đảm, mở rộng lợi ích quốc gia mà mối quan hệ đồng minh giữa
Mĩ và Liờn Xụ trong chiến tranh thế giới II bị thay thế bằng quan hệ đối đầu
căng thẳng trong một cuộc chiến tranh mới, chiến tranh lạnh.
Đến ngày nay, việc định nghĩa và nêu lên những đặc trưng của chiến
tranh lạnh vẫn còn là một đề tài gây nhiều tranh cãi trong các học giả trên
toàn thế giới. Trong đó, khái niệm “chiến tranh lạnh” do Baruch, tác giả của
kế hoạch nguyên tử lực của Mỹ ở Liên Hợp Quốc đặt ra, xuất hiện lần đầu
tiên trờn báo chí Mỹ ngày 26.7.1947 được khá nhiều người đồng ý. Theo đú
thỡ cuộc chiến tranh lạnh là “chiến tranh không nổ sỳng, khụng đổ mỏu”
nhưng “luụn ở tình trạng chiến tranh” nhằm “ngăn chặn” rồi “tiờu diệt” Liờn
Xụ. Tuy nhiên, trong định nghĩa về chiến tranh lạnh này cũng còn nhiều vấn

thẳng nhất, quyết liệt nhất.
6
Bài tiểu luận Nguyễn Mạnh Quỳnh - K54B
Lịch sử

2. Việc giải quyết vấn đề Đức sau chiến tranh thế giới II.
Nước Đức vốn là một nước có truyền thống quân phiệt hiếu chiến.
Dưới sự tác động của nhiều yếu tố khác, truyền thống ấy đã phần nào tạo ra
điều kiện biến nước Đức thành nơi phát sinh của hai cuộc chiến tranh thế
giới, gây ra không biết bao nhiêu thảm họa cho loài người.
Sau chiến tranh thế giới II, một trong những vấn đề nổi lên hàng đầu là
vấn đề nước Đức, thủ phạm chính gây nên chiến tranh. Việc giải quyết vấn
đề này là một trong những vấn đề quan trọng nhất sau chiến tranh, đồng thời
cũng trở thành một “duyờn cớ” để làm bùng nổ cuộc chiến tranh lạnh giữa
siêu cường Xô – Mĩ, giữa hai khối Đông và Tây. Mặc dù cùng thống nhất với
nhau trong chủ trương “tiờu diệt tận gốc chủ nghĩa phát xít Đức” nhưng trong
quá trình thực hiện chủ trương này, Xô – Mĩ đã bộc lộ những mâu thuẫn gay
gắt, không thể nào điều hòa nổi. Với âm mưu biến Tây Đức thành tiền đồn
“ngăn chặn” chủ nghĩa cộng sản, Mĩ và các nước Tây Âu đã ra sức thực hiện
âm mưu chia cắt nước Đức, không ngừng tăng cường bánh trướng ảnh hưởng
của mình tại đây; Trong khi đó, Liờn Xụ và các nước chủ nghĩa xã hội lại
muốn tiêu diệt hoàn toàn chủ nghĩa quân phiệt Đức, trung lập và dân chủ hóa
nước này, xóa bỏ hoàn toàn nguy cơ bị nước Đức tấn công một lần nữa như
trong lịch sử hai cuộc chiến tranh thế giới. Vì thế, nước Đức, nơi khởi đầu
của hai cuộc chiến tranh thế giới, sau chiến tranh thế giới thứ hai trở thành
điểm nóng nhất trong quan hệ quốc tế, của việc tranh chấp giữa Xô và Mĩ, lại
trở thành “duyờn cớ” cho một cuộc chiến tranh mới bùng nổ ngay sau khi
chiến tranh thế giới II vừa mới kết thúc - chiến tranh lạnh; hay nói như một
nhà nghiên cứu thì “ trung tâm của chiến tranh lạnh là ở Châu Âu, và trung
tâm của Châu Âu là ở nước Đức”. Không ở đâu và không ở nơi nào, chiến

Cũng tại Hội nghị này, ba nước đã thỏa thuận về việc chia khu chiếm đóng ở
Đức sau ngày Đức đầu hàng, thành lập Hội đồng đồng minh đóng ở Bộclin
(thủ đô của Đức) và đã thỏa thuận về việc Đức phải bồi thường sau chiến
8
Bài tiểu luận Nguyễn Mạnh Quỳnh - K54B
Lịch sử

tranh. Hội nghị Ianta đã thông qua những nghị quyết quan trọng về chính trị
và quân sự, quét sạch chủ nghĩa quân phiệt Đức và dân chủ hóa nước Đức.
Về việc chiếm đóng và kiểm soát nước Đức, các nước Đồng minh đã
thống nhất về chủ trương và kế hoạch buộc nước Đức phát xít phải đầu hàng
vô điều kiện sau khi bị đánh bại hoàn toàn. Theo kế hoạch đã thỏa thuận, lực
lượng của ba cường quốc sẽ chiếm đóng các khu vực đã được phân chia. Có
thể sẽ có một Hội đồng trung ương được lập ra nhằm quản lí và kiểm soát
phối hợp gồm các tư lệnh của ba nước với trụ sở chính đóng tại Bộclin. Bên
cạnh đó ba nước thống nhất việc mời Pháp nhận kiểm soát một khu vực và là
thành viên thứ tư của Hội đồng, trong đó ranh giới khu vực kiểm soát của
Pháp sẽ được bốn chính phủ quyết định thông qua đại diện của mình tại Hội
đồng tư vấn châu Âu.
Một trong những mục tiêu không thay đổi của các nước là tiêu diệt chủ
nghĩa quân phiệt và chủ nghĩa phát xít Đức, làm cho Đức không bao giờ có
thể xâm hại nền hòa bình thế giới một lần nữa; quyết giải trừ và xóa bỏ toàn
bộ cơ sở quân sự Đức, thủ phạm phục hồi chủ nghĩa quân phiệt Đức, tiêu diệt
toàn bộ cơ sở quân sự Đức, phá hủy hoặc kiểm soát tất cả các khu công
nghiệp Đức phục vụ chiến tranh; tất cả các tội phạm chiến tranh sẽ bị trừng
trị một cách công minh, nhanh chóng đưa ra yêu cầu bồi thường vật chất các
thiệt hại chiến tranh do Đức gây ra; xóa bỏ các đảng phát xít và chủ nghĩa
quân phiệt sẽ được loại bỏ khỏi các cơ sở công cộng và đời sống văn hóa,
kinh tế Đức; cùng nhau thực hiện biện pháp cần thiết cho hòa bình và ổn định
thế giới tương lai. Họ tuyên bố không có ý định tiêu diệt dân tộc Đức song

Cùng bắt tay nhau trong mặt trận đồng minh chống phát xít nhưng ba
nước Liờn Xụ, Mĩ, Anh lại theo đuổi những mục tiêu khác nhau trong chiến
tranh cũng như trong các hội nghị hòa bình sau chiến tranh, tiêu biểu là Hội
nghị Pụxđam.
10
Bài tiểu luận Nguyễn Mạnh Quỳnh - K54B
Lịch sử

2.2 Những thỏa thuận ở Hội nghị Pụtxđam về vấn đề Đức
Sau chiến tranh kết thúc ở châu Âu, nhiều mâu thuẫn mới và nhiều vấn
đề quốc tế mới lại nổi lên, trong đó quan trọng nhất là vấn đề Đức và vấn đề
kết thúc chiến tranh ở Viễn Đụng. Đỏnh chiếm được nước Đức, các nước
Đồng minh đã đạt được mục tiêu quan trọng nhất của họ. Việc tiếp theo là
phải tìm được một giải pháp lâu dài cho tương lai của nước Đức. Vì vậy, thủ
lĩnh của ba cường quốc Mĩ, Anh và Liờn Xụ đó gặp nhau từ ngày 17/7 đến
2/8/1945 ở Pụtxđam (Đức) trong bối cảnh vô cùng thuận lợi cho họ. Đây là
sự kiện quan trọng liên quan trực tiếp đến vận mệnh nước Đức.
Trong Hội nghị cấp cao Pụtxđam đó diễn ra cuộc đấu tranh gay gắt,
phức tạp giữa Liờn Xụ, Mĩ và Anh trên tất cả các vấn đề quốc tế đã được nêu
lên. Cuối cùng, Hội nghị đã thỏa thuận thông qua những nghị quyết quan
trọng có lợi cho hòa bình và cách mạng thế giới.
Trong các cuộc gặp gỡ, các nước Đồng minh không phải lúc nào cũng
có ý kiến thống nhất. Mĩ và Anh tỏ ra khó chịu về những gì Liờn Xụ đó tự ý
tiến hành trên khu vực họ chiếm đóng. Có thể nói rằng, sau khi kẻ thù chung
của khối Đồng minh là phát xít Đức đã bị tiêu diệt, những mâu thuẫn vốn có
giữa các nước có quyền lợi khác nhau, giữa các trật tự kinh tế khác nhau,
giữa các hệ tư tưởng khác nhau có dịp bộc lộ một cách rõ nét.
Trọng tâm của Hội nghị Potxđam thực chất là thảo luận để ra quy định
cuối cùng về việc lập lại trật tự thế mới ở Đức sau chiến tranh. Kết quả của
các cuộc hội đàm tại Hội nghị Potxđam được đúc kết trong một thông báo

chính nhằm quản lí và điều hành nước Đức: Hội đồng kiểm soát Đồng minh
(chính thức hoạt động 30.8.1945) là cơ quan cao nhất, chỉ huy toàn bộ các
hoạt động diễn ra tại Đức. Trên toàn nước Đức sẽ diễn ra cuộc bầu cử dân
chủ để thiết lập các cơ quan hành chính địa phương, các đảng chính trị mang
tính dân chủ được phép và được khuyến khích thành lập; trước mắt chưa
12
Bài tiểu luận Nguyễn Mạnh Quỳnh - K54B
Lịch sử

thành lập chính phủ trung ương của Đức; việc mở các phiên tòa xét xử tội
phạm chiến tranh…
Về kinh tế, trước hết cần chia nhỏ kinh tế Đức nhằm xóa bỏ những thế
lực kinh tế độc quyền Đức; chủ yếu là phát triển nông nghiệp và các ngành
công nghiệp sản xuất hàng dân dụng nội địa; kinh tế Đức của bốn khu vực
được coi là một khối thống nhất, chỉ được phát triển hạn chế và chịu sự kiểm
tra của Đồng minh…
Về vấn đề bồi thường chiến tranh: Việc bồi thường nhằm mục đích đền
bù những tổn thất chiến tranh mà Đức đã gây ra trờn cỏc nước Đức xâm lược.
Đồng thời, chế độ bồi thường cũng là một biện pháp để thực hiện giải pháp
nước Đức và hướng nền kinh tế Đức phát triển theo đường lối hòa bình. Các
nước Đồng minh chiếm đóng ở Đức sẽ tiến hành tịch thu các thiết bị, máy
móc của nền kĩ nghệ Đức để dùng vào khoản bồi thường. Liờn Xụ sẽ giải
quyết các yêu cầu bồi thường của mình bằng cách lấy những máy móc ở
những khu vực mình chiếm đóng và các khoản vốn của Đức ở nước ngoài.
Còn những yêu cầu của Mĩ, Anh, Pháp phải được giải quyết bằng cách lấy ở
các khu vực họ chiếm đóng các khoản vốn của Đức nằm trong tay họ.
Như võy, dự có nhiều quan điểm khác nhau, nhưng cuối cùng cả ba
cường quốc Đồng minh đều thống nhất được với nhau về nguyên tắc chính
sách đối với nước Đức sau chiến tranh. Mặc dù vậy vẫn có những điểm thể
hiện sẽ có khả năng xuất hiện những bất đồng giữa ba nước này.

phương là cái mất của mình, coi hành vi uy hiếp của đối phương đối với đồng
minh của mình là hành động uy hiếp đến an ninh của bản thân mình. Điều
này được thể hiện rất rõ trong thái độ và hành động của cả hai nước sau Hiệp
ước Pụxđam.
3.1.1 Âm mưu của Mĩ
Sau hội nghị Pụxđam, lo ngại trước uy tín chính trị và ảnh hưởng của
Liờn Xụ trờn trường quốc tế ngày càng mở rộng sau chiến thắng vĩ đại của
14
Bài tiểu luận Nguyễn Mạnh Quỳnh - K54B
Lịch sử

Liờn Xụ trước chủ nghĩa phát xít Đức và Nhật, Mĩ toan tính đề ra các kế
hoạch nhằm “ngăn chặn” ảnh hưởng của Liờn Xụ, nhằm lôi kéo các nước dân
chủ mới được thành lập vào vòng ảnh hưởng của Mĩ và nhằm sử dụng lực
lượng chớnh trị chống lại chủ nghĩa cộng sản ở châu Âu, trong đó có Đức để
chống lại Liờn Xụ. Mĩ coi Liờn Xụ là vật cản chủ yếu đối với chính sách toàn
cầu của Mĩ. Từ giữa năm 1945, Mĩ đẩy mạnh tham vọng muốn chỉ duy nhất
Mĩ có được những độc quyền kinh tế trên phạm vi toàn thế giới, đặc biệt là ở
Châu Âu nói chung và nước Đức nói riêng là nơi có cơ sở kinh tế - kĩ thuật to
lớn. Mĩ đã tiến hành chính sách mở cửa (Open door), trên danh nghĩa là tự do
thương mại, thực chất là phục vụ cho chiến lược toàn cầu của đế quốc Mĩ. Mĩ
không muốn phân chia phạm vi quyền lợi với Liờn Xụ và cũng chẳng hề lưu
tâm đến kế hoạch tái thiết đất nước và vấn đề an ninh sau chiến tranh của
Liờn Xô: Mĩ từ chối yêu cầu 10 tỉ đụla tiền bồi thường chiến tranh của Đức
phải trả cho Liờn Xô từ khu vực do Mĩ kiểm soát; cậy thế độc quyền vũ khí
hạt nhân để ép buộc Liờn Xụ làm theo ý muốn của Mĩ trong các vấn đề ở
Châu Âu. Khi không khuất phục được Liên Xô, Mĩ tìm cách củng cố địa vị
của Mĩ ở đây, lấy Đức làm trung tâm: Mĩ muốn trước hết là chiếm giữ các thị
trường, sau đó củng cố vị thế của tư bản tư nhân trong phạm vi ảnh hưởng
của mình. Mọi hình thức sở hữu xã hội hóa bị bóp chết, như đã xảy ra trong

lần nữa phải đối đầu với chiến tranh từ hướng này. Vì vậy, mục tiêu lớn nhất
của Liờn Xụ trong giai đoạn này là “tiờu diệt hoàn toàn chủ nghĩa phát xít,
dân chủ hóa nước Đức”, bảo đảm Đức sẽ không bao giờ có thể xâm lược
Liờn Xụ một lần nữa. Từ đó, Liờn Xụ chủ trương thực hiện nghiêm chỉnh
những thỏa thuận đã đạt được trong hai hội nghị Ianta và Pụxđam về vấn đề
Đức: Chia nước Đức thành các khu vực khác nhau do quân đồng minh chiếm
đóng, đòi bồi thường chiến tranh ở mức cao, nghiêm trị tội phạm chiến tranh
phát xít, thực hiện dân chủ hóa chính trị và các hoạt động trong đời sống xã
hội… Bên cạnh đó, cũng cần phải tính đến “tham vọng” của Liờn Xụ trong
việc mở rộng ảnh hưởng của mình ở Đông Đức – biến nước này thành một
nước đi theo chủ nghĩa xã hội như Liờn Xụ, như Stalin đã nói: “Chiến tranh
16
Bài tiểu luận Nguyễn Mạnh Quỳnh - K54B
Lịch sử

lần này khác với trước kia bởi bất luận ai chiếm lĩnh đất đai thì đều áp đặt chế
độ của mình ở đó. Không thể khác được”. Chính những chủ trương này đã
làm cho nước Mĩ cảm thấy lo ngại về việc “thỳc đẩy chính sách bành trướng
Nga Sa hoàng” ở Đức nói riêng và các Đông Âu nói chung.
Như vậy, có thể khẳng định lại rằng, sau Hội nghị Pụxđam, mặc dù đã
đạt được một số thỏa thuận chung trong việc giải quyết vấn đề Đức, nhưng cả
Mĩ và Liờn Xụ đều theo đuổi những tính toán của riêng mình. Trong đó, chỉ
có Liờn Xụ là thực hiện tương đối đầy đủ những thỏa thuận đó, góp phần tiêu
diệt hoàn toàn chủ nghĩa quân phiệt Đức, trung lập và dân chủ hóa nước này;
trong khi Mĩ tìm mọi cách trì hoãn, không thực hiện những biện pháp đó kớ
để xây dựng và thiết lập địa vị của mình tại đây, âm mưu chia cắt lâu dài
nước Đức, biến nước này trở thành tiền đồn “ngăn chặn” chủ nghĩa cộng sản
ở Châu Âu. Chính sự khác biệt này đã làm cho nước Đức vốn chỉ tạm thời bị
chia làm cỏc vựng khác nhau do quân đồng minh kiểm soát, bỗng nhiên bị
chia cắt thành hai nước Đức riêng biệt với hai chế độ chính trị xã hội hoàn

thao” có huấn luyện viên Mĩ huấn luyện về quân sự. Căn cứ hải quân Kiel
vẫn còn nguyên như cũ (theo báo cáo của ngoại trưởng Liờn Xụ ở Hội nghị
ngoại trưởng Matxcơva 10/3/1947). Hầu hết những tên phát xít tích cực trước
kia và bọn tội phạm chiến tranh đã dần dần được thả ra. Hoạt động của các
Đảng và các tổ chức dân chủ bị hạn chế. Những cuộc khủng bố công khai
chống Đảng Cộng sản đã xảy ra ở Tây Đức. Trong khi đó, chính quyền chiếm
đóng của Mĩ, Anh, Phỏp đó công khai ủng hộ các Đảng phái tư sản và địa
chủ của Đức phát xít và các Đảng này dần dần nắm lấy chính quyền ở Tây
Đức.
Về mặt kinh tế, ở ba khu vực do Mĩ, Anh, Pháp kiểm soát, những máy
móc ở các xí nghiệp quân sự không được tháo ra. Các xí nghiệp sản xuất vũ
khí quân sự vẫn được giữ nguyên. Các công ty độc quyền được giải tán một
18
Bài tiểu luận Nguyễn Mạnh Quỳnh - K54B
Lịch sử

cách giả tạo bằng cách thành lập nhiều công ty mới, đặt dưới quyền quản trị
của những tay chủ công nghiệp cũ trước đây đã đứng ra tổ chức nền kinh tế
chiến tranh cho Hitle.
Bên cạnh đó, đi ngược lại với văn bản và tinh thần của hiệp ước
Pụtxđam quy định về việc cần thiết phối hợp hành động chung giữa tứ cường
chiếm đóng ở Đức, Mĩ và Anh đã tiến hành kí kết hiệp ước riêng rẽ nhằm
hợp nhất về kinh tế giữa hai khu vực Mĩ - Anh để rồi tiến tới hợp nhất về
hành chính và chính trị sau này, thực chất là quy định việc chia cắt nước Đức:
Trong năm 1947, hai khu vực Mĩ, Anh đã đẩy mạnh việc xúc tiến hợp nhất về
chính trị với một hiệp định mới được kí kết ngày 29/5/1947 để thành lập “Hội
đồng kinh tế” hợp nhất hai khu…
Đứng trước những hành động này, Liờn Xụ tiến hành triệu tập Hội
đồng ngoại trưởng bốn nước Anh, Pháp, Mĩ và Liờn Xụ để xúc tiến giải
quyết vấn đề Đức ở hai cuộc hội nghị Maxcơva (từ 10/3 đến 24/4/1947) và

Ngay sau khi hội nghị Luân Đôn đi đến chỗ bế tắc không giải quyết
được vấn đề gỡ, cỏc nước phương Tây liền triệu tập một hội nghị riêng rẽ ở
Lụn Đụn gồm Mỹ, Anh, pháp, Bỉ, Hà Lan, và Lucxambua để bàn việc chia cắt
nước Đức, chế độ khai thác vùng Rua, chế độ chiếm đóng mới ở Tây Đức,
việc cải cách tiền tệ ở Đức. Ngày 2/6/1948, Hội nghị đã đưa ra bản tuyên bố
nêu rõ ý định quyết tâm chia cắt nước Đức của các nước phương Tây.
Sau Hội nghị, ngày 18/6/1948, tại các khu vực Tây Đức và Tõy Bộclin,
Mỹ, Anh, Phỏp đó tiến hành cải cách tiền riêng rẽ, hi vọng lợi dụng việc này
để lũng loạn nền kinh tế Đông Đức. Ngay hôm đầu tiên sau khi bắt đầu dùng
tiền mới ở các khu vực miền Tây, hàng loạt tiền vô giá trị ở phía Tây đã tràn
ngập sang Đông Đức. Cải cách tiền tệ ở khu vực phía Tây như giọt nước làm
tràn đầy cốc, đã xóa đi mọi hi vọng duy trì nhất thể hóa kinh tế nước Đức và
tìm ra một giải pháp nhằm giải quyết những bất đồng giữa các lực lượng
Đồng minh.
20
Bài tiểu luận Nguyễn Mạnh Quỳnh - K54B
Lịch sử

Những hành động riêng rẽ của các nước phương Tây đã đòi hỏi chính
phủ Liên Xô phải thi hành ngay những biện pháp cần thiết nhằm duy trì hòa
bình và an ninh ở châu Âu, bảo vệ sự thống nhất nước Đức và nền kinh tế
Đông Đức. Để bảo vệ nền kinh tế khỏi bị tan rã, Ban Quân chính Liờn Xụ ở
Đức đã bắt buộc phải thi hành những hạn chế về vận tải trong việc thông
thương giữa các khu vực miền Tây và miền Đông cũng như giữa Đông và
Tõy Bộclin. Đồng thời, ở Đông Đức cũng tiến hành cải cách tiền tệ dân chủ
để góp phần ổn định và phát triển nền kinh tế ở vùng này.
Các nước phương Tây đã vịn vào việc Liờn Xụ hạn chế vận tải giữa
các miền và các khu vực Beclin để thổi bựng lên cái gọi là “cuộc phong tỏa
Beclin”. Không dừng lại ở đó, ngày 6/7/1948, các chính phủ Mĩ, Anh, Pháp
gửi công hàm cho Liờn Xụ đũi hủy bỏ những hạn chế đã được quy định trong

quyền kiểm soát vùng công nghiệp ở vùng Rua, kiểm soát ngành ngoại
thương và hoạt động ngoại giao của Tây Đức và kể cả thay mặt Tây Đức kí
kết các hiệp định quốc tế. Đồng thời các lực lượng vũ trang đóng ở Tây Đức
được hoàn toàn tự do đi lại dưới danh từ “bảo đảm an toàn” hay “thi hành
những nhiệm vụ quốc tế”. Bất kì lúc nào các tư lệnh quân đội của các nước
phương Tây cũng có thể được quyền kiểm soát các cơ quan của Tây Đức.
Đồng thời ở Tây Đức cũng được thành lập “Ủy ban đồng minh tối cao” có
thẩm quyền về mặt dân sự để tiếp xúc thường xuyên với chính phủ Tây Đức.
Tiến thêm một bước nữa trong âm mưu chia cắt nước Đức, tháng
5/1949 Anh, Pháp, Mỹ tiến hành thành lập một hiến pháp, đưa ra dự thảo
hiến pháp cho việc thành lập cộng hòa liên bang Đức. Ngày 14/8/1949, ở các
khu vực miền Tây đã tiến hành bầu cử Quốc Hội riêng rẽ. Tháng 9/1949
chính phủ của nước Cộng hòa liên bang Đức được thành lập, đánh dấu sự ra
đời của một nước Đức hoàn toàn riêng rẽ, không bao gồm phần đất phía đông
do Liờn Xụ kiểm soát.
Trước tình hình đú, Liờn Xụ cũng tập hợp các tổ chức dân chủ ở Đông
Đức để họp đại hội nhân dân và thông qua bản dự thảo Hiến phỏp. Thỏng
22
Bài tiểu luận Nguyễn Mạnh Quỳnh - K54B
Lịch sử

10/1949 nước Cộng hòa dân chủ Đức cũng được thành lập. Đây được coi như
một đòn đánh mạnh vào hệ thống chủ nghĩa tư bản thế giới, làm thất bại âm
mưu ngăn chặn và thống trị thế giới của Mỹ. Nước Cộng hòa dân chủ Đức ra
đời là một sự kiện quan trọng, một bước tiến trong quá trình củng cố hệ thống
XHCN; đồng thời cũng đánh dấu việc hình thành nên hai nước Đức riêng rẽ,
đối lập nhau, cùng tồn tại ở Châu Âu.
Như vậy, vấn đề Đức sau chiến tranh lạnh đã bị các cường quốc, trong
đó chủ yếu là Mĩ và Liờn Xụ làm cho trở nên vô cùng phức tạp, mà đỉnh cao
của nó là việc xuất hiện hai nước Đức riờng ré, theo hai chế độ chính trị đối

nghĩa quân phiệt Đức, phục hồi chủ nghĩa phục thù Đức, tạo điều kiện cho
Tây Đức thành lập quân đội, phát triển kinh tế phục vụ chiến tranh, chèn ép
các nước Tây Âu khác, chia cắt lâu dài nước Đức do Mĩ tiến hành. Đến đầu
năm 1954, Mĩ các nước TBCN phương Tây kí kết hiệp ước Paris nhằm tái vũ
trang lại Cộng hòa liên bang Đức và đưa nước này tham gia vào Nato, trở
thành “một lực lượng xung kớch” chống lại Cộng hòa dân chủ Đức, Liờn Xụ
và các nước Đông Âu khác.
24
Bài tiểu luận Nguyễn Mạnh Quỳnh - K54B
Lịch sử

Trước tình hình trờn, Liờn Xụ, Cộng hòa dân chủ Đức và các nước
Đông Âu khỏc đó tổ chức hội nghị ở Vacsava từ ngày 11 đến ngày
14.5.1955, thành lập nên tổ chức Hiệp ước Vacsava của các nước XHCN
nhằm làm đối trọng với Nato của các nước TBCN do Mĩ đứng đầu.
Ngay sau khi thành lập, cả hai khối quân sự trên đều tích cực tiến hành
chạy đua vũ trang, bao gồm cả vũ khí thông thường và vũ khí hạt nhân. Trong
đó, nòng cốt nhất là Mĩ và Liờn Xụ: Mĩ đã đưa hàng chục vạn quõn đũng ở
Cộng hòa liên bang Đức, được trang bị nhiều loại vũ khí hiện đại; trong khi
Liờn Xụ cũng đưa hàng vạn binh sĩ với trang bị hiện đại, bao gồm cả vũ khí
hạt nhân của mình sang đóng ở các nước Đông Âu, chủ yếu là ở Cộng hòa dân
chủ Đức. Điều này làm cho ở hai nước Đức lúc này xuất hiện một lực lượng
quõn sự khổng lồ, lúc nào cũng ở trong tình trạng sẵn sàng chiến đấu cao độ.
Đến đầu thập niên 70 của thế kỉ XX, cuộc chạy đua vũ trang giữa NATO và
VASAVA đạt đến đỉnh cao, thể hiện qua bảng số liệu sau:
1. Vũ khí thông thường Khối Vacsava Khối Nato
Quân số 5.373.100 3.660.200
Xe tăng 59.470 30.609
Pháo các loại 71.876 57.660
Máy bay chiến đấu 7.876 7.130


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status