GVHD:PGS.TS NguyÔn N¨ng Phóc
LỜI NÓI ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, lợi nhuận vừa là mục tiêu, vừa là động
lực của các doanh nghiệp khi tiến hành sản xuất kinh doanh. Doanh nghiệp muốn
đảm bảo có lợi nhuận và lợi nhuận ngày càng tăng và từ đó nâng cao lợi ích của
người lao động thì các doanh nghiệp cần phải tìm mọi cách tiết kiệm chi phí trong
quá trình kinh doanh. Chi phí tiền lương trên một đơn vị sản phẩm đóng vai trò
then chốt trong vấn đề thúc đẩy tăng năng suất lao động, tăng lợi nhuận cho doanh
nghiệp.
Dưới nền kinh tế thị trường, sức lao động trở thành hàng hoá, nó nhận
được một giá trị nhất định biểu hiện bằng tiền lương (tiền công) - Là thù lao
trả cho người lao động để bù đắp và tái sản xuất sức lao động. Tiền lương là
nguồn thu nhập chủ yếu của người lao động do đó họ đòi hỏi một mức tiền
lương xứng đáng với sức lao động họ đã bỏ ra và đáp ứng được nhu cầu cuộc
sống của họ. Vì vậy đối với mỗi doanh nghiệp, lựa chọn hình thức trả lương
nào cho hợp lý để thoả mãn lợi ích người lao động và trở thành đòn bẩy kinh
tế, khuyến khích tăng năng suất lao động là một vấn đề quan trọng. Việc hạch
toán tiền lương và các khoản trích theo lương khoa học; tính đúng, tính đủ
tiền lương đảm bảo quyền lợi vật chất cho người lao động, mặt khác đảm bảo
cho công tác thanh tra, kiểm tra được dễ dàng.
Gắn chặt với tiền lương là các khoản trích theo lương gồm bảo hiểm xã
hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT), kinh phí công đoàn (KPCĐ). Đây là quỹ
xã hội thể hiện sự quan tâm của toàn xã hội đến từng thành viên. Các chế độ,
chính sách về tiền lương và các khoản trích theo lương đã được nhà nước ban
hành song nó được vận dụng linh hoạt ở mỗi doanh nghiệp phụ thuộc vào đặc
SV: NguyÔn ThÞ Tè Uyªn Líp: KÕ to¸n 45B
1
GVHD:PGS.TS NguyÔn N¨ng Phóc
điểm quản lý tổ chức sản xuất kinh doanh và phụ thuộc vào tính chất công
việc.
Công ty cổ phần Thuỷ điện Thác Bà với nhiệm vụ chính là sản xuất kinh
phải đi trước một bước so với các ngành kinh tế khác, coi điện là hạ tầng cơ sở
quan trọng để phát triển các ngành kinh tế, Đảng và Nhà nước ta có chủ trương
xây dựng nhà máy Thuỷ điện Thác Bà, nhằm cung cấp điện năng phục vụ cho
công cuộc xây dựng và bảo vệ CNXH ở miền Bắc, góp phần chi viện cho miền
Nam đánh thắng Mỹ, Nguỵ tiến tới thống nhất đất nước.
Nghị quyết Đại hội lần thứ III của Đảng đã nêu: “Trong kế hoạch phát
triển 5 năm, công nghiệp điện lực đi trước một bước, chú trọng phát triển công
nghiệp gang thép, đồng thời phát triển công nghiệp than, công nghiệp vật liệu
xây dựng và bước đầu xây dựng công nghiệp hoá”.
Các nhà máy nhiệt điện của chúng ta lúc đó có công suất phát điện nhỏ,
không đủ phục vụ cho sản xuất và tiêu dùng, tổng sản lượng điện năm của các
nhà máy chỉ đạt 40.324.000 kWh, nhiều thị xã, xóm thợ chưa có điện.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, dưới sự chỉ đạo sát sao của Nhà nước,
nghành điện đã góp phần quan trọng vào công cuộc khôi phục và phát triển
kinh tế ở miền Bắc. Thời kỳ 1961 – 1965, một số nhà máy nhiệt điện đã được
xây dựng như: Việt Trì, Thái Nguyên, Hà Bắc, Uông Bí. Tuy nhiên, so với yêu
cầu của sự nghiệp xây dựng CNXH ở miền Bắc thì nguồn điện năng hiện có
của chúng ta vẫn chưa thể đáp ứng được sản xuất và tiêu dùng. Chủ trương của
SV: NguyÔn ThÞ Tè Uyªn Líp: KÕ to¸n 45B
3
GVHD:PGS.TS NguyÔn N¨ng Phóc
Đảng và Nhà nước ta là phát triển công nghiệp điện lực, trong đó chú trọng tới
thuỷ điện, nhằm khai thác hiệu quả nguồn thuỷ năng dồi dào của nước ta. Dựa
vào vị thế của Thác Bà, Đảng và Nhà nước ta chủ trương xây dựng nhà máy
thuỷ điện Thác Bà trên sông Chảy với công suất thiết kế 108 MW, sản lượng
điện bình quân khoảng 400 triệu kWh/năm. Xây dựng nhà máy thuỷ điện Thác
Bà còn tạo nên một hồ nhân tạo với sức chứa dung tích xấp xỉ 3 tỷ m
3
nước, có
tác dụng cắt lũ tích cực cho đồng bằng sông Hồng vào mùa mưa, giúp cho nhân
toàn có thể xây dựng một nhà máy thuỷ điện ở đây.
Xây dựng Nhà máy Thuỷ điện Thác Bà là một quá trình lâu dài và khó
khăn đối với đội ngũ cán bộ công nhân xây dựng Việt Nam và các chuyên gia
Liên Xô. Phải thi công trên một địa hình đồi núi phức tạp, hiểm trở là một thử
thách lớn đối với những người xây dựng. Khi đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh
phá hoại miền Bắc thì công trường xây dựng nhà máy còn là chiến trường ác
liệt giữa ta và địch. Năm 1961, những người xây dựng đầu tiên đến Thác Bà đó
là ngững đơn vị bộ đội từ khắp các chiến trường trong cả nước sau chiến thắng
thực dân Pháp tập trung về Thác Bà để xây dựng nhà máy. Trong số bộ đội
phần đông thuộc sư đoàn 308. Cũng như trong chiến đấu, trong lao động khó
khăn gian khổ, bộ đội lại là những người đầu tiên vào cuộc với khí thế mạnh
mẽ, quyết tâm chiến thắng thiên nhiên như họ đã chiến thắng kẻ thù xâm lược.
Biến Thác Bà trên sông Chảy trở thành nhà máy thuỷ điện phục vụ cho sự
nghiệp xây dựng đất nước. Sau bộ đội là lực lượng thanh niên nam nữ từ các
tỉnh miền xuôi Hải Hưng, Nam Định, Thái Bình… lần lượt tập trung về Thác
Bà. Nhiệm vụ của họ là cùng với các đơn vị bộ đội khai phá khu vực rừng núi
Thác Bà hoang vu để trở thành công trường xây dựng nhà máy. Chỉ huy toàn
bộ lực lượng công nhân xây dựng Việt Nam trên công trường là Đại tá quân
đội Vũ Nhất. Đến công trường xây dựng nhà máy còn có hơn 100 chuyên gia
Liên Xô từ khắp các nước cộng hoà Nga, Ucraina, Udơbếch… Họ là những
SV: NguyÔn ThÞ Tè Uyªn Líp: KÕ to¸n 45B
5
GVHD:PGS.TS NguyÔn N¨ng Phóc
chuyên gia phụ trách kỹ thuật, trực tiếp làm việc và hướng dẫn các kỹ sư và
công nhân kỹ thuật Việt Nam tiếp thu những tiến bộ khoa học kỹ thuật mới
phục vụ cho ngành thuỷ điện non trẻ của chúng ta. Sự có mặt của các chuyên
gia Liên Xô thể hiện mối tình đoàn kết, hợp tác hữu nghị của Đảng, Chính phủ
và nhân dân hai nước Việt Nam – Liên Xô. Với sự giúp đỡ to lớn về mặt vật
chất và kỹ thuật, việc xây dựng nhà máy nhanh chóng được thực hiện.
Theo dự tính, công trình sẽ được hoàn thành trong khoảng bốn, năm
-Phòng tổ chức.
-Phòng hành chính.
-Phòng kế hoạch – kỹ thuật.
-Phòng tài vụ.
-Phân xưởng điện.
-Phân xưởng máy.
Năm 1976, Nhà máy sáp nhập với một bộ phận của Ban A (Bộ Thuỷ lợi)
thành lập phân xưởng thuỷ lực. Năm 1978, để bố trí hợp lý hơn các phân
xưởng sản xuất, từ phân xưởng điện tách thành phân xưởng cơ điện và phân
xưởng vận hành. Năm 1989, phòng tổ chức sáp nhập với phòng hành chính. Sự
hợp nhất này làm cho cơ cấu Nhà máy gọn nhẹ hơn.
Ta có thể tóm tắt những mốc son lịch sử của Nhà máy Thuỷ điện Thác Bà
như sau:
• Năm 1959 - 1961: Khảo sát thiết kế công trình.
• Năm 1962 - 1964: Xây dựng công trình phụ trợ (xí nghiệp nghiền
sàng đá, trộn bê tông, cốt thép, sửa chữa ô tô, xưa xẻ gỗ…). Xây dựng các công
trình hạ tầng (hệ thống đường thi công, hệ thống điện công trường, nhà ở cho
chuyên gia và cán bộ, công nhân viên). Đào hố móng công trình.
SV: NguyÔn ThÞ Tè Uyªn Líp: KÕ to¸n 45B
7
GVHD:PGS.TS NguyÔn N¨ng Phóc
• Ngày 19/8/1964: Lễ khởi công xây dựng công trình Thuỷ điện Thác
Bà. Phó thử tướng Chính phủ Lê Thanh Nghị đã tham gia đổ mẻ bê tông đầu
tiên cho nền móng công trình.
• Ngày 8/7 và 21/7/1966: Giặc Mỹ ném bom trên toàn bộ công trình
đang thi công làm chết gần 100 cán bộ công nhân viên xây dựng công trình
(chưa kể số bị thương), công trình tạm dừng thi công, đến tháng 8/1968 tiếp tục
thi công công trình.
• Ngày 22/2/1970: Hội lấp sông, nắn dòng sông Chảy qua các cửa tràn
của Nhà máy. Phó thủ tướng Lê Thanh Nghị đã dự hội nghị lấp sông.
EVN.
• Ngày 17/2/2003, Hội đồng quản trị thuộc Tổng Công ty điện lực Việt
Nam ra quyết định số 46/ QĐ-EVN – HĐQT về thành lập ban chuẩn bị sản xuất
công trình thuỷ điện Tuyên Quang trực thuộc Nhà máy Thuỷ điện Thác Bà.
• Ngày 15/9/2003, ngừng tổ máy số 2 để đại tu phục hồi nâng cấp trong
10 tháng, đến 28/7/2004, đưa máy vào vận hành.
• Ngày 31/12/2004, Bộ trưởng Bộ công nghiệp ra quyết định số
3536/QĐ-BCN, chuyển Nhà máy Thuỷ điện Thác Bà thành công ty Thuỷ điện
Thác Bà, đơn vị hạch toán độc lập.
• Ngày 15/9/2005, Tổng công ty điện lực Việt Nam ra quyết định tách
BCBSX Thuỷ điện Tuyên Quang từ Công ty Thuỷ điện Thác Bà về Ban quản lý
Dự án Thuỷ điện 1.
• Ngày 29/10/2005, Bộ trưởng Bộ công nghiệp ra quyết định 3497/QĐ-
BCN phê duyệt phương án cổ phần hóa và chuyển công ty Thuỷ điện Thác Bà
thành Công ty Cổ phần Thủy điện Thác Bà.
SV: NguyÔn ThÞ Tè Uyªn Líp: KÕ to¸n 45B
9
GVHD:PGS.TS NguyÔn N¨ng Phóc
• Ngày 4/1/2006, ngừng tổ máy số 1 để đại tu phục hồi nâng cấp trong
10 tháng.
• Ngày 31/3/2006, Công ty Cổ phần Thuỷ điện Thác Bà chính thức
hoạt động với tổng số vốn điều lệ là 635 tỷ đồng, trong đó, có 75% vốn chi phối
của EVN.
Ngày 29/8/2006, cổ phiếu của Công ty Cổ phần Thuỷ điện Thác Bà mang tên
TBC chính thức giao dịch phiên đầu tiên tạo Trung tâm GDCK Hà Nội.
2. Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh tại
công ty cổ phần thuỷ điện Thác Bà.
Mô hình tổ chức quản lý của Công ty Cổ phần Thuỷ điện Thác Bà như
sau:
- Hội đồng quản trị: 5 người
VĂN
PHÒNG
PHÂN
XƯỞNG
SỬA
CHỮA
PHÂN
XƯỞNG
VẬN
HÀNH
PHÒNG
KỸ
THUẬT
PHÒNG
TÀI
CHÍNH
KẾ
TOÁN
GVHD:PGS.TS Nguyễn Năng Phúc
II. Thc trng k toỏn tin lng v cỏc khon trớch theo lng ti cụng ty
c phn thu in thỏc b.
1. c im t chc cụng tỏc k toỏn ca cụng ty c phn thu in Thỏc
B.
1. 1. c im t chc b mỏy k toỏn: gm 4 thnh viờn thc hin cỏc phn
hnh k toỏn sau:
S 1.2: S T CHC B MY K TON
+ K toỏn trng: K toỏn trng ph trỏch chung nm bt, ch o ton
b hot ng ca phng k toỏn, l ngi soỏt xột mi chng t sau cựng khi cỏc
k toỏn chuyờn trỏch chuyn chng t sang. Ngoi ra, K toỏn trng l ngi
cú chc nng t chc kim tra cụng tỏc k toỏn ti n v, giỏm sỏt k toỏn - ti
kim th
qu
K TON TRNG
GVHD:PGS.TS NguyÔn N¨ng Phóc
+ Kế toán tổng hợp: Có nhiệm vụ đôn đốc các nhân viên và xử lý các công
việc theo yêu cầu của Kế toán trưởng, lập các kế hoạch tài chính. Là người vào
máy tất cả các chứng từ và kiểm tra chứng từ sau cùng sau khi Kế toán trưởng đó
kí và chuyển sang.
Kế toán tổng hợp phải tiếp nhận xử lý chứng từ và báo cáo tài chính của
các đơn vị cấp dưới, phản ánh tổng hợp tình hình phát sinh cỏc phần hành kế
toán, xác định kết quả kinh doanh và lập các báo cáo định kỳ theo quy định
+ Kế toán thanh toán và giá thành: Có trách nhiệm lập các chứng từ , lập
bảng kê và có nhiệm vụ ghi chép, phản ánh chính xác kịp thời đầy đủ các chi phí
phát sinh theo từng yếu tố(chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công
trực tiếp, chi phí sử dụng máy thi công, chi phí sản xuất chungvà tiến hành tính
giá thành theo phương pháp trực tiếp)… để đưa lên phòng kế toán Công ty và
nộp cho Kế toán thanh toán và giá thành. Ngoài ra, kế toán thanh toán kết hợp
với Kế toán ngân hàng kiờm thủ quỹ để theo dõi các khoản thu chi bằng tiền
mặt, tiền gửi ngân hàng, các khoản công nợ phải trả của công ty cho người bán
vật tư, hàng hoá, người cung cấp lao vụ, dịch vụ theo hợp đồng kinh tế đó kí kết,
cỏc khoản phải nộp ngân sách nhà nước về phí, lệ phí, thuế…
+ Kế toán Tài sản cố định: Khi có biến động về tài sản cố định, kế toán
căn cứ vào chứng từ hợp lệ để phản ánh kịp thời, chính xác, đầy đủ đồng thời ghi
sổ các tài khoản liên quan. Định kỳ căn cứ vào tỷ lệ khấu hao quy định cho từng
loại tài sản, kế toán tiến hành trích khấu hao và báo nợ cho các đơn vị trực thuộc
đồng thời lập các báo cáo về tài sản cố định.
+ Kế toán thuế: Quản lí các hoá đơn thuế, tài liệu hồ sơ liên quan đến thuế.
Kiểm tra kê khai thuế hàng tháng với các cơ quan thuế, làm quyết toán thuế hàng
năm với các cơ quan thuế. Ngoài ra, kế toán thuế cũn theo dừi thực hiện các
Công việc cú liờn quan tới các nghĩa vụ với Ngân sách Nhà nước…
15
Chứng từ gốc
Sổ nhật ký chung
Sổ cái
Bảng cân đối số PS
Sổ nhật kýđặc biệt
Sổ, thẻ kế toán
chi tiết
BCTC
Bảng tổng hợp
chi tiết
Chứng từ gốc
Sổ nhật ký chung
Sổ cái
Bảng cân đối số PS
Sổ nhật kýđặc biệt
Sổ, thẻ kế toán
chi tiết
BCTC
Bảng tổng hợp
chi tiết
Chứng từ gốc
Sổ nhật ký chung
Sổ cái
Bảng cân đối số PS
Sổ nhật kýđặc biệt
Sổ, thẻ kế
toán chi tiết
BCTC
Bảng tổng
GVHD:PGS.TS NguyÔn N¨ng Phóc
Phân phối tiền lương theo công thức:
V1ĐV = LđbĐV X ( Hcb + Hcv) X TL minNN (9 )
Trong đó:
+ V1ĐV Tiền lương đợt 1 của đơn vị;
+ LđbĐV số lao động định biên;
+ TL minNN mức lương tối thiểu chung;
+ Hcb hệ số lương cấp bậc bình quân;
+ Hcv hệ số phụ cấp bình quân.
b. Tiền lương phân phối theo năng suất lao động và lợi nhuận(lương vòng
2).
Phần còn lại sau khi đã phân phối theo lương cấp bậc :
Các căn cứ để xác định quỹ lương gồm:
- Hệ số lương V2 của nhóm và người lao động.
- Hệ số K trả lương V2.
Tiền lương V2 được phân phối theo công thức:
Hệ số chung của Cty: (H CTy)
VCty - V1Cty
H CTy = –––––––––––––––– (10)
n
∑ HV2 x K
j=1
SV: NguyÔn ThÞ Tè Uyªn Líp: KÕ to¸n 45B
17
GVHD:PGS.TS NguyÔn N¨ng Phóc
Tiền lương đợt 2 của đơn vị: (V2ĐV).
m
V2ĐV = HcTy * ∑ H V2 * K (11)
i=1
Trường hợp đơn vị làm công việc phát sinh thêm ngoài nhiệm vụ được
giao, do nguyên nhân khách quan bất khả kháng, Công ty sẽ xem xét bổ sung
chi phí ngoài quỹ lương.
* Hình thức trả lương:
a. Đối với lao động trực tiếp đi ca sản xuất:
Đối với người lao động trực tiếp đi ca sản xuất bao gồm : Công nhân Vận
hành, nhân viên đi ca Bảo vệ, được trả lương theo định biên lao động được
Công ty duyệt.
b. Đối với đơn vị làm khoán Đại tu sửa chữa lớn (SCL):
Đơn vị làm công việc khoán Đại tu (SCL) PX Sửa chữa, quỹ tiền lương giao
trong tháng gồm hai phần:
- Tiền lương khoán Đại tu sửa chữa lớn;
- Tiền lương sửa chữa thường xuyên.
Căn cứ vào định mức lao động của Nhà nước, của ngành điện hàng tháng,
quý đơn vị phối hợp với các phòng Kế hoạch vật tư ; Kỹ thuật và Tổ chức lao
động lập kế hoạch khoán khối lượng công việc sửa chữa thường xuyên và Đại tu
sửa chữa lớn; đồng thời tổ chức thực hiện ở đơn vị.
SV: NguyÔn ThÞ Tè Uyªn Líp: KÕ to¸n 45B
19
GVHD:PGS.TS NguyÔn N¨ng Phóc
Căn cứ vào kế hoạch được lập và kết qủa thực hiện, Công ty sẽ ra Quyết định
khoán công việc và giao tiền lương hàng tháng cho đơn vị.
+ Người lao động làm công việc sửa chữa thường xuyên được chấm trong
bảng công ký hiệu (8).
+ Làm công việc Đại tu sửa chữa lớn ký hiệu trong bảng chấm công (K).
c. Đối với các phòng nghiệp vụ:
Công ty thực hiện chế độ khoán tiền lương theo khối lượng công việc và quy
định thời gian hoàn thành theo kế hoạch. Tiền lương các phòng ban nghiệp vụ
được trả theo kết quả công việc và 26 ngày công chế độ tháng.
d. Trả lương làm việc vào những ngày lễ, tết có hưởng lương:
- Tiền lương thanh toán V2 được trả sau mỗi kỳ sản xuất kinh doanh, quỹ
tiền lương được xác định theo lợi nhuận và phân phối theo Quyết định của Đại
hội đồng cổ đông và Quy chế trả lương của Công ty.
2.1.1.4. Thù lao của thành viên HĐQT và Ban kiểm soát:
Thành viên HĐQT và Ban kiểm soát được hưởng thù lao công việc. Tổng
mức thù lao do Đại hội đồng cổ đông quyết định.
Thù lao của từng thành viên HĐQT và Ban kiểm soát do HĐQT quy định
theo nguyên tắc nhất trí, thông qua Nghị quyết của HĐQT.
Tiền lương của Chủ tịch HĐQT, Giám đốc và thù lao của thành viên
HĐQT, Ban kiểm soát không tính trong đơn giá tiền lương của Công ty, được
tính vào chi phí SXKD theo quy định Pháp luật và được báo cáo trong Đại hội
đồng cổ đông phiên thường niên theo quy định của Luật doanh nghiệp.
2.1.1.5. Tiền thưởng an toàn điện
SV: NguyÔn ThÞ Tè Uyªn Líp: KÕ to¸n 45B
21
GVHD:PGS.TS NguyÔn N¨ng Phóc
a. Mục đích, ý nghĩa :
- Thực hiện chế độ thưởng an toàn điện nhằm kịp thời khuyến khích,
động viên người lao động trong Công ty phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ sản
xuất điện, bảo đảm vận hành an toàn nhà máy, thực hiện tốt các chỉ tiêu kinh tế
kỹ thuật.
- Nâng cao chất lượng sản xuất điện, bảo đảm an toàn cho con người và
thiết bị; không để xảy ra sự cố chủ quan, sử lý nhanh các sự cố khách quan, bảo
đảm sản xuất an toàn, kinh tế, hiệu quả.
- Sửa chữa tốt thiết bị máy móc phục vụ kịp thời cho vận hành; không
thưởng hoặc cắt, giảm thưởng những trường hợp để xẩy ra các sự cố chủ quan
trong quản lý, vận hành và sửa chữa thiết bị .
b. Nguyên tắc xét thưởng:
1. Tiền thưởng an toàn điện gắn với việc thực hiện an toàn điện theo quy
trình, quy phạm được cơ quan Nhà nước và của ngành điện, cấp có
tối thiểu
điểm chuẩn
1
2
3
4
- Phương thức vận hành
- An toàn lao động
- Sự cố
- Chấp hành QTQP và kỷ luật lao động
0
0
0
0
20
15
40
25
Cộng : 0 100
Công ty bị giảm thưởng an toàn điện để xảy ra các lỗi sau:
SV: NguyÔn ThÞ Tè Uyªn Líp: KÕ to¸n 45B
23
GVHD:PGS.TS NguyÔn N¨ng Phóc
Chỉ tiêu điểm
1. Phương thức vận hành - điểm chuẩn:
+ Tổ máy đang vận hành không bảo đảm phương thức được A0 huy động bị
trừ :
+ Để sẩy ra sự cố nghiêm trọng về người và thiết bị bị trừ
20
sản xuất điện hàng năm, không tính trong đơn giá tiền lương.
Trường hợp trong tháng Công ty chi vượt quỹ tiền thưởng, thì được khấu
trừ vào tháng sau hoặc năm liền kề tiếp theo.
- Xây quỹ tiền thưởng theo công thức sau:
V
ttatđ
= L
lđ
x H
cb
x TL
minCty
x M
tt
x 12 tháng (17 )
Trong đó :
- V
ttatđ
: Quỹ tiền thưởng an toàn điện tính theo năm.
- L
lđ
: Lao động được hưởng tiền thưởng an toàn điện.
- H
cb :
Hệ số lương cấp bậc, chức vụ vụ bình quân.
- TL
minCty
: Là mức lương tối thiểu của Công ty lựa chọn trong kỳ .
- M
tt :