ĐỀ CƯƠNG MÔN TÂM LÝ TIỂU HỌC
Câu 1: Trình bày những điểm nổi bật trong nhận thức của học sinh Tiểu học. GV
phụ trách lớp sẽ làm gì khi trong lớp có những học sinh hiếu động, thích tìm tòi, khám
phá nhưng lại biểu hiện ít tập trung chú ý nghe thầy, cô giảng bài.
a. Những đặc điểm nổi bật trong nhận thức của học sinh tiểu học
1. Cảm giác: Ở trẻ Tiểu học, cảm giác đã hòa vào dạng nhận thức cảm tính phức tạp
nhất, đó là tri giác, đến nỗi hoàn toàn không thể nghiên cứu riêng hai quá trình đó.
Cảm giác phát triển, những liên hệ cảm xúc vận động tinh tế và chính xác được hình
thành, những liên hệ này đảm bảo tính chính xác của hành động và sự kiểm tra bằng mắt
các hành động đó.
2. Tri giác: - Mang tính đại thể, ít đi vào chi tiết. - Nặng nề tính không chủ định, các
em phân biệt đối tượng còn chưa chính xác, dễ mắc sai lầm, lẫn lộn. - Thường gắn với hành
động, hoạt động thực tiễn (cầm nắm, sờ mó vào sự vật ấy)
Vì vậy, cái trực quan, cái rực rỡ, cái sinh động được các em tri giác tốt hơn, dễ gây ấn
tượng tích cực đối với các em.
Nhiệm vụ của GVTH: Hướng dẫn các em biết xem xét. Không chỉ dạy các em nghe mà
còn chú ý dạy các em biết lắng nghe. Chú ý tổ chức một cách đặc biệt hoạt động của học
sinh để tri giác một đối tượng nào đó nhằm phát triển những dấu hiệu bản chất của sự vật và
hiện tượng.
3. Chú ý:
+ Chú ý có chủ định của học sinh tiểu học còn yếu, khả năng điều chỉnh chú ý một
cách có chú ý chưa mạnh.
+ Chú ý không chủ định của học sinh Tiểu học phát triển nhờ những thứ mang tính
mới mẻ, bất ngờ, rực rỡ, khác thường.
Nhiệm vụ của GVTH: - Chú ý rèn cho các em không chỉ quen làm việc gì mà mình
hứng thú mà còn cần làm cả những việc không lý thú, hấp dẫn. - Nên sử dụng đồ dùng dạy
học đẹp, mới lạ, tranh ảnh, mô hình là phương tiện quan trọng để tổ chức sự chú ý của học
sinh
4. Tư duy là hạt nhân của hoạt động trí não, kỹ năng này bắt đầu phát triển từ giai đoạn
ấu thơ. Khi trẻ trong độ tuổi tiểu học, khả năng tư duy đã khá phát triển, trẻ đã có ý thức,
ghi nhớ, tư duy tổng hợp, phát tán và đánh giá đối với các tranh vẽ, ký hiệu, ngữ nghĩa và
truyện đọc thơ, viết báo, viết truyện, dạy trẻ cách viết nhật kí, Tất cả đều có thể giúp trẻ có
được một vốn ngôn ngữ phong phú và đa dạng.
8. Xúc cảm - Tình cảm là một phần rất quan trọng đối với đời sống tâm lí, trong nhân
cách mỗi người, nhất là học sinh tiểu học. Học sinh tiểu học rất dễ xúc cảm, xúc động và
khó kìm hãm tình cảm của mình (thể hiện trước hết qua các hoạt động nhận thức: tri giác,
tưởng tượng, tư duy). Tình cảm của học sinh tiểu học còn mỏng manh, chưa bền vững, chưa
sâu sắc. Tuy nhiên, tình cảm tích cực sẽ kích thích trẻ em nhận thức và thúc đẩy trẻ hoạt
động.
9. Ý chí: Hoạt động học tập có tác dụng quyết định đến toàn bộ nếp sống của trẻ sau 6
tuổi, góp phần làm thay đổi căn bản trong sự phát triển ý chí của học sinh tiểu học. Do hoạt
động chủ đạo có tính chất bắt buộc, học sinh phải thực hiện nhiều yêu cầu chung, vừa cụ thể
nên nó đã trở thành một yếu tố hết sức quan trọng trong việc rèn luyện ý chí của tre, chủ yếu
là rèn luyện kỹ năng biết kiềm chế.
Cấu trúc của hành động ý chí của học sinh tiểu học đã phức tạp hơn (động cơ hành
động phức tạp hơn). Nhưng các em chưa đủ khả năng theo đuổi lâu dài mục đích đề ra.
10. Nhân cách: Nhân cách của các em lúc này mang tính chỉnh thể và hồn nhiên, trong
quá trình phát triển trẻ luôn bộc lộ những nhận thức, tư tưởng, tình cảm, ý nghĩ của mình
một cách vô tư, hồn nhiên, thật thà và ngay thẳng;
Nhân cách của các em lúc này còn mang tính tiềm ẩn, những năng lực, tố chất của
các em còn chưa được bộc lộ rõ rệt, nếu có được tác động thích ứng chúng sẽ bộc lộ và phát
triển;
Đặc biệt nhân cách của các em còn mang tính đang hình thành, việc hình thành
nhân cách không thể diễn ra một sớm một chiều, với học sinh tiểu học còn đang trong quá
trình phát triển toàn diện về mọi mặt vì thế mà nhân cách của các em sẽ được hoàn thiện
dần cùng với tiến trình phát triển của mình.
NVCGVTH: tuyệt đối không được "chụp mũ" nhân cách của trẻ, trái lại phải dùng
những lời lẽ nhẹ nhàng mang tính gợi mở và chờ đợi, phải hướng trẻ đến với những hình
mẫu nhân cách tốt đẹp mà không đâu xa, chính cha mẹ và thầy cô là những hình mẫu nhân
cách ấy.
b. GV phụ trách lớp sẽ làm gì khi trong lớp có những học sinh hiếu động, thích tìm
sao?
* Nhận xét của anh/chị về học sinh tiểu học ngày nay:
Trẻ em tiểu học ngày nay có sự gia tốc phát triển, đó là sự phát triển nhanh về sinh lý,
tâm lý của trẻ em. Sự phát triển sớm về trí tuệ, sự gia tăng khối lượng tri thức ở trẻ em ngày
nay có thể xem như là sự gia tốc phát triển tâm lý của trẻ em. Mặt khác, khuynh hướng nhận
thức của trẻ em ngày nay được mở rộng, năng khiếu, nhu cầu, hứng thú, thị hiếu, thẩm
mỹ… trở nên phong phú và đa dạng. Trẻ em ngày nay còn được tiếp nhận những lượng
thông tin nhờ sự tăng dần đáng kể của các phương tiện thông tin đại chúng qua báo chí,
truyền hình, mạng internet… Với những đặc điểm này, việc giáo dục trẻ em cũng dễ hơn và
cũng khó hơn trước. Dễ vì trẻ em ngày nay tiếp thu nhanh hơn, có khả năng và điều kiện để
vận dụng những điều đã học được. Khó hơn vì tầm suy nghĩ của các em rộng hơn, những
vấn đề các em đặt ra cũng phong phú hơn và phức tạp hơn.
Trong hoạt động học tập và giao tiếp ngày nay, học sinh tiểu học có khá nhiều ưu điểm
và nhược điểm khác nhau. Sau đây là một số ưu nhược điểm đặc trưng của học sinh tiểu
học:
* Ưu điểm:
Ngày nay do cuộc sống khá phát triển, gia đình nhiều lắm cũng chỉ có 2 con nên tất cả
tình yêu thương đều dành hết cho các cháu. Bên cạnh đó, trường lớp thì khang trang, cơ sở
vật chất ngày càng hiện đại như trang bị bàn ghế, màn hình LCD, máy vi tính… nên việc
dạy và học ngày càng được nâng cao về chất lượng vì thế học sinh có những thuận lợi nhất
định:
- Tiếp thu nhanh hơn, có khả năng và điều kiện để vận dụng những điều đã học được.
- Các em có suy nghĩ rộng hơn, nhanh nhẹn hơn.
- Hiếu động, thích tìm tòi, khám phá.
- Khá chủ động, tự giác, tích cực trong hoạt động học và giao tiếp.
- Biết quan tâm, giúp đỡ lẫn nhau, yêu thương, đoàn kết lẫn nhau.
- Ở lứa tuổi này ngôn ngữ đã phát triển đến một mức độ nhất định vì thế học sinh khá
nhanh nhẹn trong giao tiếp
* Nhược điểm:
- Dễ mất tập trung nếu học sinh quá hiếu động.
Vì vậy, quá trình nhận thức của học sinh không diễn ra theo con đường mò mẫm, thử
và sai như quá trình nhận thức nói chung của loài người mà diễn ra theo con đường đã được
khám phá, đã được xây dựng chương trình, nội dung dạy học gia công phạm. Vì vậy trong
một thời gian nhất định học sinh có thể lĩnh hội tri thức rất lớn một cách thuận lợi. Quá trình
học tập của học sinh phải tiến hành theo các khâu của quá trình dạy học. Quá trình nhận
thức của học sinh trong quá trình dạy học diễn ra dưới vai trò chủ đạo của người giáo viên
cùng với những điều kiện sư phạm nhất định.
Kết luận: Học sinh Tiểu học không thể thực hiện hoạt động học để lĩnh hội tri thức,
khái niệm mà không cần sự trợ giúp của thầy cô giáo.
Câu 4: Có những loại động cơ học tập nào đáng lưu ý? Thầy cô giáo quan tâm và
làm thế nào để hình thành động cơ học tập đúng đắn cho học sinh?
a. Những loại động cơ học tập đáng lưu ý:
Hoạt động của con người được thúc đẩy bởi một động cơ nhất định. Động cơ là nhu
cầu đã bắt gặp đối tượng có thể thỏa mãn nó, nghĩa là nhu cầu đã được khách thể hóa trong
đối tượng.
Hoạt động học tập được điều khiển bởi nhiều động cơ. Có động cơ xa và động cơ gần,
động cơ trước mắt và động cơ lâu dài, động cơ trong và động cơ ngoài. Tuy nhiên động cơ
bên trong và động cơ bên ngoài là hai động cơ học tập đáng lưu ý nhất.
Động cơ bên trong là những động cơ lôi kéo tới mục đích. Biểu hiện của động cơ này
có thể là sự hứng thú đối với bản thân tri thức, sự khát khao mở rộng, hoàn thiện tri thức của
bản thân và nắm vững những kỹ năng nhất định, sự say mê với quá trình giải quyết các
nhiệm vụ học tập… tất cả những yếu tố kích thích này đều xuất phát từ bản thân mục đích
học tập,nằm ở bên trong hoạt động học tập.vì thế, chúng ta gọi động cơ này là “động cơ
hoàn thiện tri thức “Những biểu hiện của loại động cơ này thường gắn với bản thân tri thức
và phương phá tiếp cận tri thức .ví dụ như tính hâp dẫn, tính mới lạ của nội dung môn học
,và ý nghĩa của việc chiếm lĩnh đối tượng học.mỗi khi người học chiếm lĩnh được đối tượng
học thì họ cảm thấy vốn kiến thức, trình độ kiến thức, trình độ hiểu biết của mình được mở
rộng, được phát triển và dần hòa thiện và càng tích cực thực hiện các hoạt động học tiêp
theo.
Động cơ bên ngoài tập trung vào các chiến lược nhận thức, các hoạt động tăng cường
“Dưới ánh mặt trời, không có nghề nào cao quý hơn nghề dạy học”, Chủ tịch Hồ Chí Minh
từng khẳng định: “Không có thầy giáo thì không có giáo dục, không có giáo dục thì không
có cán bộ, không có cán bộ thì không nói gì đến kinh tế - văn hoá”.
Để trở thành một người giáo viên có phẩm chất và năng lực để giảng dạy và giáo dục
học sinh đạt yêu cầu mà xã hội mong muốn thì người giáo viên Tiểu học cần phải:
* Về phẩm chất:
- Trước hết người giáo viên cần phải có trình độ học vấn cao, nắm vững tri thức về tự
nhiên và xã hội một cách tổng hợp, có con mắt quan sát cuộc sống một cách thường xuyên.
- Cần phải có một lý tưởng đào tạo thế hệ trẻ bằng niềm say mê nghề nghiệp, lòng yêu
trẻ, lương tâm và trách nhiệm nghề nghiệp.
- Tác phong làm việc khoa học, lối sống giản dị,…
- Cần phải có lòng yêu thương trẻ thật sự. Quan tâm đầy thiện chí và ân cần đối với trẻ,
không phân biệt, kỳ thị trong cách cư xử với trẻ
- Lòng yêu nghề gắn bó chặt chẽ với lòng yêu trẻ. Yêu người yêu trẻ là động lực mạnh
mẽ thúc đẩy giáo viên suốt đời hi sinh và tận tụy với nghề sư phạm, với lý tưởng nghề
nghiệp.
-
- Tình yêu đối với học sinh còn thể hiện ở sự tôn trọng học sinh như lắng nghe ý kiến
của học sinh, phát triển những hứng thú và lòng sáng tạo của học sinh, nhận ra những hạn
chế của cá nhân học sinh, những khó khăn của học sinh trong quá trình học tập và rèn
luyện…
- Tuy nhiên lòng yêu trẻ không nên pha trộn với nét ủy mị, mềm yếu và thiếu đề ra các
yêu cầu cao , nghiem khắc đối với trẻ.
Nhưng có một số HS ngồi nhầm lớp thì dù thầy có 'hát hay" thế nào đi chăng nữa thì đối
với các em đó vẫn như vịt nge sấm thôi. Cái căn bản là phải cho HS ngồi đúng lớp, phải có
hứng thú học tập đã. Mà HS hiện nay mắc căn bệnh lười học rất nặng, tôi thấy ở tôi trong
một lớp có chăng đến 10 em là có đam mê học tập còn lại chủ yếu là chơi. Mà HS ngồi
nhầm lớp chủ yếu do cán bộ quản lí không dám cho các em ở lại vì sợ ảnh hưởng. Đây là
vấn đề rất khó giải quyết.
lethanhhoai83