Đề cương tâm lý học quản lý
Câu 1: Trình bày và phân tích các tính chất cơ bản của hoạt động quản lý.
Trong hoạt động quản lý có 6 tính chất cơ bản sau:
#Hoạt động quản lý vừa là khoa học vừa là nghệ thuật, là một nghề trong xã
hội
-Trước hết trong hoạt động quản lý là khoa học, bởi vì hoạt động này vừa phảI
nhận thức và vận dụng đúng quy luật nắm vững đối tượng có thông tin đầy đủ
chính xác, có năng lực thì mới đảm bảo vai trò quản lý của mình nếu không thì
sẽ quản lý vô hiệu lực, kém hiệu quả.
-Hoạt động quản lý là nghệ thuật bởi vì nghệ thuật lãnh đạo là bao gồm các kỹ
năng lãnh đạo được xây dựng trên cơ sở tri thức và kinh nghiệm của nhà lãnh
đạo. Đó là nghệ thuật hoàn thành công việc thông qua con người, thông qua
tập thể. Trong quá trình chỉ đạo thực hiện mục tiêu của người lãnh đạo phải
khéo léo vận dụng quyền lực, những ảnh hưởng, kinh nghiệm để hướng dẫn
cấp dưới tiến hành công việc, hoặc đối với những người bị lãnh đạo một cách
có hiệu quả, điều chỉnh mối quan hệ và mâu thuẫn, sử dụng các kỹ xảo, thủ
thuật và phương pháp đặc thù để cảI tiến hoàn cảnh tình hình. Đây là sự phản
ánh tổng hợp và thể hiện trong công tác về tâm lý trí tuệ, học vấn, tài năng, tố
chất, tác phong cá tính, phẩm chất… kinh nghiệm của người lãnh đạo
#Hoạt động quản lý là nghệ thuật bởi lẽ không có cách thức và quy định thống
nhất mà nó lại có tính tuỳ cơ linh hoạt, nó không phảI vận dụng khoa học và
phương pháp lãnh đạo một cách máy móc, giản đơn mà cần phảI dựa vào sự
thay đổi của tình hình để vận dụng linh hoạt các phương pháp lãnh đạo để giảI
quyết đúng và hiệu quả vấn đề.
-Trong hoạt động quản lý nó được coi là một nghệ thuật bởi lẽ nó có tính đặc
thù và tính ngẫu nhiên, thông thường là phương pháp và thủ thuật đặc thù để
giảI quyết vấn đề trong điều kiện đặc thù của người lãnh đạo là đưa ra quyết
liệt đối với vấn đề gặp phảI trong một tình huống đặc biệt ngẫu nhiên nào đó
có tính chất không thể mô phỏng được. Hơn nữa nó là nghệ thuật bởi quản lý
và ứng xử theo tình huống, linh hoạt biết dùng người đúng vị trí phù hợp khả
năng.
là điều chủ yếu quyết định đơn phương hướng tổ chức lao động và ra quyết
định của người lãnh đạo
#Hoạt động quản lý là hoạt động căng thẳng hay thay đổi, tiêu phí nhiều năng
lượng thần kinh và sức lực. Hoạt động quản lý đòi hỏi phải thường xuyên nắm
bắt theo dõi công việc, giảI quyết nhiều vấn đề trong những điều kiện về thời
gian và không gian, hơn nữa thông tin sự eo hẹp, có nhiều vấn đề giải quyết
trong cùng một thời gian nên đòi hỏi luôn phải thay đổi tâm thế và tư duy, còn
có những công việc suy tính trong nhiều giờ nhiều ngày, tháng.
Câu 2. Phân tích các đặc điểm trong hoạt động của người lãnh đạo. Trong
hoạt động của người lãnh đạo có rất nhiều đặc điểm khác nhau nhưng nhìn
chung nó vẫn có một vài các đặc điểm chung như sau:
-Trước hết đó là đặc điểm của hoạt động nhận thức của người lãnh đạo. Có
nghĩa là trước khi lựa chọn hay quyết định làm một công việc gì thì người
lãnh đạo phải nghiên cứu sâu sắc về toàn bộ các thông tin về vấn đề định giảI
quyết và đưa ra dự đoán về diễn biến của chu trình quản lý. Hơn nữa hiệu quả
2
quản lý cũng phần nào phụ thuộc vào khả năng nhận thức của người lãnh đạo,
để đưa ra một quyết định mang tính khoa học và hợp lý.
-Hoạt động nhận thức là một trong những hoạt động quan trọng để con người
giao tiếp với thế giới xung quanh và nhận biết các thông tin về thế giới này.
Và trong quá trình nhận thức của người lãnh đạo phảI được chú ý các đặc
điểm sau đây:
-Phải trung thành với sự thật là sự thật có đi ngược lại với mong muốn lại phảI
có một sự dũng cảm nhất định để nhìn thẳng vào sự thật và thừa nhận nó. Chứ
không thể áp đặt trật tự nhận thức khác cho thực tế được. Nếu không sẽ làm
cho hiệu quả quản lý thấp và tổn hại tới uy tín của người lãnh đạo
-Trong khi nhận thức cần phải thừa nhận việc sử dụng các phương pháp anket,
phỏng vấn, nghiên cứu tài liệu quan sát… bằng các phương pháp nói trên để
người lãnh đạo sẽ có cáI nhìn toàn diện đầy đủ về các sự vật hiện tượng
-Đặc điểm tâm lý của việc ra quyết định : ra quyết định là một biến dạng của
khả năng của người thừa hành với nhiệm vụ được giao trong quá trình phân
công nhiệm vụ cần phảI kích thích được những tình cảm tập thể tạo nên sự
công bằng giữa các cá nhân trong tập thể qua đó họ có được sự tin cậy lẫn
nhau, giúp đỡ nhau cùng hoàn thành nhiệm vụ nhưg để họ thực hiện tốt nhiệm
vụ cần cung cấp cho họ phương tiện cần thiết và tạo điều kiện để giúp họ luôn
hoàn thành nhiệm vụ, đạt kết quả cao
-Như vậy có thể thấy đặc điểm công tác tổ chức thực hiện quyết định được
biểu hiện ở chỗ công tác tổ chức của người lãnh đạo ở đây không chỉ đụng đến
hoạt động của bản thân mà còn tác động đến hoạt động của nhiều người khác
-Kiểm tra và đánh giá công việc thực hiện là một khâu quan trọng và có vị trí
đặc biệt để đảm bảo việc thực hiện quyết định và yêu cầu của việc kiểm tra là
phải kháI quát được tình hình thực sự của công việc. Vì thế cơ sở của sự kiểm
tra bao giờ cũng là hoạt động nhận thức của những người tiến hành kiểm tra.
Hoạt động kiểm tra của người lãnh đạo phảI được xây dựng một cách có hệ
thống có suy nghĩ kỹ và mỗi lần lại cần kiểm tra các nhân tố quan trọng nhất,
nếu nó không được xây dựng trên cơ sở những điều kiện hiệu quả của tâm lý
thì nó sẽ làm cho những người thực thi không tận tâm với công việc. Hơn nữa
kiểm tra tìm ra các điểm thiếu sót còn điều chỉnh. Ngoài ra điều quan trọng
của kiểm tra là không chỉ hướng vào những thiếu sót mà chính là nhằm phát
hiện ra những nguồn lực còn chưa khai thác hết để thuyết phục động viên tư
tưởng tình cảm của người thừa hành
Chương III
Câu 3. Những đặc điểm tâm lý cơ bản của đối tượng quản lý. Phân tích các
yếu tố ảnh hưởng đến tâm lý cán bộ công chức
#Tâm lý của con người nói chung và của cán bộ công chức nói riêng thì rất dễ
bị tác động bởi các yếu tố khác nhau, trong những môI trường khác nhau, do
vậy chúng ta cần phảI nắm được các yếu tố ảnh hưởng này để không làm tác
động xấu tới tâm lý của cán bộ công chức trong quá trình thực thi công vụ
-vị trí của công chức trong xã hội,vị thế của công chức ở đây được quyết định
bởi vị trí và vài trò của nhà nước trong hệ thống chính trị, cho dù là thế nào đI
có liên quan mật thiết tới nhiệm vụ, quyền hạn quyền lợi của công chức cho
vậy nó có ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý của họ, chức vụ trong hệ thống công
vụ được quy định thành hệ thống thứ bậc cao thấp khác nhau tuỳ thuộc vào
năng lực phẩm chất đạo đức, thành tính thực tế của người nắm giữ nó. Mỗi
một chức vụ được giao cho một cán bộ công chức cụ thể nó đòi hỏi có thể làm
động lực để phát huy ưu thế, tăng cường phẩm chất tâm lý của người đó.
Câu 4. Đặc điểm tâm lý của công chức, phân biệt với các đối tượng khác.
Công chức với tư cách là một cá thể nên họ cũng có những đặc điểm tâm lý
chung và những thuộc tính tâm lý điển hình của nhân cách mỗi con người đến
có đó là năng lực tính cách khí chất…Nhưng khi nghiên cứu tâm lý công chức
trong cơ quan hành chính nhà nước, người ta thường đề cập tới 3 khía cạnh
tháI độ hành vi ứng xử, tinh thần người công chức.
5
-Thái độ người công chức đây được coi là thái độ trạng tháI tinh thần của công
chức trước khi hoàn thành tháI độ trạng tháI tinh thần của công chức trước khi
hoàn thành một hành vi đối với một sự kiện nào đó của người công chức lại
được xem xét ở hai vấn đề đó là tinh thần công sở với những tình cảm, tinh
thần gắn bó của người công chức đối với công sở mà họ đang công tác từ đó
có thể tạo ra nhóm riêng biệt có tính đặc thù và có mục tiêu riêng có tính đặc
thù và có mục tiêu riêng nó thể hiện sự gắn bó với truyền thống với con người
của tổ chức, bên cạnh đó nó còn thể hiện ở chỗ tinh thần này phảI hài lòng với
tổ chức khác chứ không thể vì tính chất mà ảnh hưởng hay phương hại tới tổ
chức khác.
-Và khía cạnh thứ hai là tinh thần tập thể tập thể ở đây được hiểu là bao gồm
toàn bộ những công chức được tuyển dụng theo cùng một phương thức , được
điều chỉnh bởi cùng một quy chế có cùng một triển vọng nghề nghiệp và cùng
thực hiện những công việc tương tự. Những công chức này tạo nên một đội
ngũ và có tình cảm, trách nhiệm trong công việc và có lợi ích như nhau, những
yếu tố này đều có tác động tới tâm lý của người công chức.
Nhưng không chỉ có tháI độ của người công chức tác động tới mục tiêu của tổ
Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tinh thần làm việc của người công chức
như: tính chất công chức, tiền lương, tiền lương…tháI độ của đồng nghiệp ,
cấp trên, tác động của công việc. Trong thực tế thì sự ổn định của công việc,
tiền lương và chế độ hưu bổng của chế độ công vụ chức nghiệp của nền hành
chính nhà nước luôn ảnh hưởng tích cực tới tinh thần công chức.
Những đặc điểm của cán bộ công chức đã tạo nên cho họ những sự khác biệt
với tâm lý người bình thường đó là các đặc điểm:
-Tính chính trị tư tưởng của người công chức thể hiện khuynh hướng hoạt
động độc lập, lập trường chính trị của người công chức và lý tưởng cộng sản
và chủ nghĩa xã hội
-CáI tâm và đạo đức công vụ nói lên ý thức và hành vi đạo đức , tính cách của
người công chức
-Mối quan hệ xã hội đặc biệt cả bên trong và bên ngoài đều tạo nên phong
cách riêng, đặc điểm tâm lý riêng
-Các hành vi của công chức, phong cách làm việc cách ứng xử của người quản
lý cao nhất đến người nhân viên tạo nên cách ứng xử riêng của tổ chức
-Thái độ của nhân viên đối với nhau và tháI độ của nhân viên với các sự kiện
chính trị xã hội đối với từng vấn đề hành chính, có tháI độ rõ ràng tôn trọng
pháp luật
-Về sự hiểu biết của người công chức cả về chuyên môn nghiệp vụ và cả về
kiến thức xã hội, phương pháp làm việc tốt, năng lực công tác uy tín của công
chức
-Trách nhiệm của công chức hành chính cả về vai trò cá nhân tập thể
-Và tất cả các sự khác biệt trên đều nhằm mang lại hiệu quả công việc thúc
đẩy đất nước và xã hội phát triển.
Câu 6. KháI niệm tập thể, các giai đoạn phát triển của tập thể
KháI niệm tập thể là một nhóm người có tổ chức phối hợp với nhau một cách
chặt chẽ trong hoạt động vì một mục đích chung sự tồn tại và phát triển của
tập thể dựa trên cơ sở thoả mãn và kết hợp hài hoà giữa lợi ích cá nhân và lợi
ích chung
-Giai đoạn thứ hai: Mối liên hệ giữa cá nhân các thành viên đã trở nên chặt
chẽ hơn, kỷ luật lao động được củng cố vững chắc và đã bước đầu hình thành
các hạt nhân tích cực và trở thành chỗ dựa cho người quản lý, vai trò của
người lãnh đạo lúc này là biết phát huy chức năng, vai trò của các nhân tố, tích
cực này trong tổ chức.
ở giai đoạn này người lãnh đạo cần phảI biết kết hợp được 2 phong cách lãnh
đạo, chuyên chế và dân chủ
-Giai đoạn thức 3: Thời kỳ này tổ chức và cơ quan đã đạt được trình độ phát
triển cao, ý thức trách nhiệm của từng thành viên trong tổ chức được nâng cao,
mỗi một thành viên đều nhận thức rõ về nhiệm vụ chung của tổ chức, kỷ luật
tập thể ngày càng được củng cố, mối quan hệ giữa các thành viên ngày càng
8
được củng cố và bền vững. Trong giai đoạn này nhà lãnh đạo phảI chuyển hẳn
sang phong cách lãnh đạo dânchủ
Như vậy khi nghiên cứu các giai đoạn phát triển của tổ chức cho thấy toàn bộ
sự phát triển cuả tổ chức trước hết là sự hoàn thiện liên tục những mối quan hệ
xã hội của nó. Quản lý lãnh đạo có hiệu quả đòi hỏi nhà quản lý phảI nắm
được quy luật hình thành và phát triển của tập thể
Câu 7: Các hiện tượng tâm lý xã hội trong các tổ chức, cơ quan nhà nước
phân tích các hiện tượng đó(lây truyền tâm lý, Dư luận tập thể, bầu không khí
tâm lý, truyền thống tâp thể, xung đột tâm lý)
Tâm lý xã hội là toàn bộ tình cảm ý chí tâm trạng thói quen truyền thống thể
hiện trong tâm lý của nhóm xã hội, các giai cấp, dân tộc, nhân dân các nước
do có chung những điều kiện kinh tế xã hội trong đời sống của họ. Các hiện
tượng này phản ánh cuộc sống xã hội rất đa dạng và phong phú, đóng vai trò
điều khiển điều chỉnh hoạt động và các hành vi ứng xử của con người trong xã
hội. Và nó bao gồm các hiện tượng sau:
#Sự lây truyền tâm lý trong tổ chức , đây là hiện tượng phổ biến nhất và cũng
được thể hiện rõ nét hơn cả trong số các hiện tượng tâm lý xã hội, thường xảy
ra trong một tập thể các tổ chức cơ quan, biểu hiện của nó rất đa dạng và
cả tập thể. Do vậy người lãnh đạo phảI quan tâm tới dư luận trong tập thể và
sử dụng nó như một phương tiện quản lý giáo dục cá nhân và tập thể, kịp thời
nắm bắt dư luận trong tập thể để điều chỉnh cho phù hợp
#Bầu không khí tâm lý trong tổ chức là trạng tháI tâm lý trong tập thể là nét
đặc trưng phản ánh thực trạng các mối quan hệ nảy sinh trong hoạt động của
tập thể, bao gồm mối quan hệ về tình cảm giữa các cá nhân, các bộ phận của
tập thể trên cơ sở các mối quan hệ chính thức cũng như không chính thức
trong tổ chức, cơ quan đó
-Bầu không khí này nó còn biểu hiện mức độ hòa hợp giữa các đặc điểm tâm
lý trong quan hệ trên nhân cách của họ và được hình thành từ tháI độ của mọi
người trong tổ chức, cơ quan đối với công việc, bạn bè đồng nghiệp và người
lãnh đạo của họ.
-Bầu không khí trong tập thể tổ chức đóng vai trò to lớn đối với mỗi cá nhân
và cả hoạt động chung của tập thể. Nó thẩm thấu vào ý thức của mỗi cá nhân
riêng lẻ và tạo ra một ảnh hưởng rõ rệt đối với họ. Bầu không khí lành mạnh
thân áI sẽ tạo nên tâm trạng vui vẻ, tinh thần phấn khởi cho mỗi cá nhân và
điều này sẽ làm tăng năng suất lao động, nêu cao tinh thần làm việc điều này
chỉ có thể có lợi cho tổ chức , ngược lại bầu không khí ngột ngạt căng thẳng sẽ
gây ra các xúc cảm tiêu cực cho các thành viên ở những tổ chức cơ quan như
vậy thường xuất hiện những xung đột mâu thuẫn trở ngại cho hoạt động của tổ
chức.
-Bầu không khí tâm lý trong tập thể các tổ chức cơ quan chịu ảnh hưởng của
nhiều yếu tố khác nhau, nghiên cứu những yếu tố cấu thành bầu không khí
tâm lý trong các cơ quan tổ chức có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong hoạt động
lãnh đạo và quản lý. Hiện nay người ta thường xét tới một số khía cạnh sau:
-Phong cách làm việc của người lãnh đạo
-Sự tương hợp về mặt tâm lý giữa các thành viên
-Điều kiện vật chất, làm việc
-Chế độ đãI ngộ, các chính sách, bản thân công việc…
10
Các cuộc xung đột có thể kết thúc khác nhau, kết thúc giả tạo khi người xung
đột tưởng mâu thuẫn đó đã được giảI quyết nhưng thực chất là không, thoáI
trào là xung đột chuyển trạng tháI âm, giải quyết , dập tắt xung đột
-Cá nhân với tập thể: đây là xung đột cá đặc biệt, nguyên nhân có thể xuất
phát từ phía cá nhân hay tổ chức. Đối với loại xung đột này khi giảI quyết cần
đảm bảo các nguyên tắc sau: tính khách quan và sự nhượng bộ cần thiết,
nguyên tắc này đòi hỏi cả hai bên phảI thiện chí và bình tĩnh để giảI quyết
xung đột.
Tính phân minh là việc tham gia giảI quyết xung đột công bằng, sáng suốt
11
Giữ khoảng cách và tháI độ tự chủ để giảm căng thẳng giữa hai bên xung đột
Bảo đảm tính linh hoạt mềm dẻo
Xuất phát từ các nguyên tắc trên để giảI quyết xung đột cần phảI sử dụng các
biện pháp sau đây:
-Thuyết phục là dùng người trung gian hoà giảI khi mâu thuẫn đã trở nên phức
tạp, người trung gian hoà giảI khi mâu thuẫn đã trở nên phức tạp, người trung
gian phảI là người có uy tín và công minh
-Biện pháp hành chính chỉ áp dụng khi biện pháp thuyết phục không có hiệu
quả đó là các biện pháp, chia tách những xung đột không để họ cùng nhóm
hay tập thể
Trên mọi biện pháp để chặn đứng cuộc xung đột như mệnh lệnh của cấp trên,
áp lực quần chúng
Câu 8. Một số khía cạnh trong công tác tổ chức đánh giá và sử dụng cán bộ
công chức;
#Những khía cạnh tâm lý trong công tác đánh giá cán bộ. Việc đánh giá cán
bộ thường thường được tập trung vào các nội dung như sau:
Tiểu sử và những cứ liệu bên ngoài của cán bộ. Trong đó tiểu sử là những cứ
liệu mô tả chung về con người, là những thông tin rất quan trọng tuy vậy đây
cũng chưa thể là thông tin hoàn hảo mà người ta còn căn cứ vào các cứ liệu
khách quan khác như tuổi tác, dáng vẻ hình ảnh… Trong thực tiễn có rất nhiều
làm sai lệch tin tức, ý kiến, không quan tâm đến ý kiến của người khác.
-ảnh hưởng cuả quy luật bức xạ nghĩa là chủ thể nhận xét chỉ chú trọng đến
việc đánh giá những sự kiện hành vi mới xảy ra mà không để ý tới những cáI
đã qua cho dù nó hay nó tốt.
-ảnh hưởng của sự thành kiến cá nhân, điều này xuất phát từ lòng tin, chủ
quan ở chủ thể đánh giá, nếu thành kiến tốt thì đánh giá tốt và ngược lại.
-ảnh hưởng giữa sự kiện và kết luận, có nghĩa là chủ thể đánh giá dùng ngay
các sự kiện để làm kết luận một cách phiến diện
Để tránh những ảnh hưởng xấu đến việc đánh giá cán bộ công chức thì chủ thể
đánh giá phảI đề cao trách nhiệm của mình cùng với chủ thể phảI có sự tham
gia của Đảng, đoàn thể xã hội để đảm bảo cho việc đánh giá toàn diện, thực
chất
#Những khía cạnh tâm lý trong công tác sử dụng cán bộ công chức:
Việc đánh giá cán bộ không phảI là việc làm cho xong, cho có việc mà sau khi
đánh giá là phảI có kế hoạch và sử dụng đào tạo, bồi dưỡng cụ thể để tạo ra
nguồn lực cho tổ chức. Trong việc sử dụng cán bộ cần phảI lưu ý tới một số
khía cạnh tâm lý sau đây:
-Công tác tuyển chọn cán bộ là việc làm thường xuyên cần đảm bảo tính liện
tục, kế thừa và phát triển của tổ chức khi tuyển chọn công chức cần đảm bảo:
xác định được nhu cầu, vị trí cần tuyển, thông báo nhu cầu tuyển dụng, nghiên
cứu hồ sơ nhân sự, tiếp xúc, phỏng vấn tuyển dụng, đánh giá kết quả, ra quyết
định tuyển dụng
-Công tác đề bạt cán bộ : đây là nhu cầu xuất phát từ việc mở rộng tổ chức hay
do thiếu cán bộ lãnh đạo quản lý…trong thực tế công tác này thường diễn ra
theo các cách như thăm dò uy tín, đề cử bầu cử… và chủ yếu là hình thức thi
tuyển
13
Luân chuyển cán bộ là sự điều động cán bộ có tổ chức có kế hoạch với mục
đích:
-Thử thách cán bộ, để cán bộ liên quan với môI trường, nhiều công việc khác
hoạt động của các tổ chức. Tuy vậy giữa 2 kháI niệm này có một số điều khác
biệt với nhau đó là: thủ lĩnh thực hiện sự điều hoà giữa các cá nhân trong
nhóm còn lãnh đạo thực hiện sự điều chỉnh các quan hệ xã hội chính thức của
nhóm với tư cách là tổ chức xã hội, thủ lĩnh được công nhận trong mối trường
hẹp. Còn lãnh đạo là người tổ chức của môI trường lớn nghĩa là nó gắn liền
14
với toàn bộ các hệ thống quan hệ xã hội, thủ lĩnh xuất hiện một cách tự phát
do yêu cầu cuả một nhóm do sự thừa nhận và suy tôn một cách tự nguyện của
các thành viên, còn lãnh đạo được bổ nhiệm hoặc bầu ra, hoạt động của người
lãnh đạo có thể được kiểm soát bởi các cơ cấu khác nhau cuả xã hội.
Về chế độ ổn định và tính ổn định của thủ lĩnh kém hơn lãnh đạo, lãnh đạo
điều hành các quan hệ xã hội bằng quy chế, hệ thống pháp luật còn thủ lĩnh
thường đặt lệ, theo lệ quy ước
Thủ lĩnh thường là một người những lãnh đạo có thể là một nhóm người.
Như vậy thủ lĩnh và lãnh đạo đều có chức năng điều khiển hoạt động chung
cuả nhóm điều chỉnh các mối quan hệ trong nhóm bằng các phương thức khác
nhau.
#Ê kíp lãnh đạo: như đã trình bày ở trên, lãnh đạo có thể là một người hay là
một êkíp. Vậy êkíp là một tổ chức một cấu trúc xã hội phối hợp hành động để
thực hiện những hoạt động đạt tới mục tiêu chung trên cơ sở cuả sự tương hợp
tâm lý. Thông thường để nhận diện một êkíp lãnh đạo người ta thường căn cứ
vào một số dấu hiệu sau đây :
-sự thống nhất về động cơ mục đích đây là sự biểu hiện cơ bản về sự tương
đồng tâm lý của các thành viên trong một êkíp lãnh đạo. Họ có mục đích
chung nhưng quan trọng hơn phảI có hệ thống động cơ nhằm đạt mục đích đó
thống nhất với nhau
-thống nhất cao về lợi ích là điều kiện quan trọng để duy trì một êkíp nói
chung và một êkíp lãnh đạo nói riêng. Lợi ích của tổ chức có thể là tinh thần
cũng có thể là vật chất, nhưng phảI có sự điều hoà phù hợp và thống nhất.
-Thống nhất nhu cầu thành đạt vì nhu cầu này có ở mọi thành viên của êkíp
thì cấu trúc năng lực tổ chức cuả người lãnh đạo bao gồm các phần sau:
-Các đặc điểm chung: đây là những đặc điểm làm cơ sở, nền tảng cho sự hình
thành năng lực tổ chức ở người lãnh đạo. Các đặc điểm này bao gồm xu
hướng cá nhân thể hiện ở mục đích và hệ thống thúc đẩy cá nhân trong cuộc
sống như lý tưởng, lập trường giai cấp, tính tư tưởng và đạo đức là những biểu
hiện nổi trội của những người có năng lực tổ chức.
-Kinh nghiệm liên quan đến hoạt động của tổ chức đó là tri thức, phương thức
cách thức và tháI độ đối với hoạt động tổ chức, kinh nghiệm này có thể là do
được đào tạo hoặc thu lượm trực tiếp nhưng chủ yếu là do đào tạo
-Một số phẩm chất cá nhân những phẩm chất này có ở nhiều cá nhân dù họ
không là lãnh đạo và không có năng lực quản lý. Tuy nhiên đã là người có
năng lực tổ chức thì phảI có khả năng này đó là óc suy xét sâu sắc, sáng tạo,
linh hoạt quan sát tốt, linh hoạt tự kiềm chế, có tính tổ chức độc lập khả năng
làm việc bền lâu
Những phẩm chất này rất quan trọng trong các đặc điểm chung cấu thành năng
lực của tổ chức là sự linh hoạt mềm dẻo cuả trí tuệ. Nhờ những phẩm chất này
con người có thể trở thành lãnh đạo của tổ chức
Các đặc điểm chuyên biệt: đây là những phẩm chất tâm lý có vai trò là điều
kiện đối với năng lực tổ chức của người lãnh đạo. Nó bao gồm các hứng thú
của cá nhân với hoạt động của tổ chức khả năng làm việc cùng và thông qua
người khác.
Hứng thú với hoạt động tổ chức là một thúc đẩy quan trọng giúp cá nhân
chiếm đoạt những đối tượng có khả năng thoả mãn và đem lại rung cảm cho
16
chủ thể. Hứng thú này có thể được hình thành từ sự hấp dẫn của hoạt động này
đối với cá nhân nhưng có thể do nhu cầu tham gia tổ chức mà thành.
Khả năng làm việc cùng và thông qua người khác đây là đặc trưng cơ bản cuả
quản lý. Để có thể làm việc với người khác nhà quản lý cần có một số phẩm
chất thuộc năng lực tổ chức như: khả năng nắm bắt tâm lý của con người, đặc
biệt là các thuộc tính tổ chức của mình. Khả năng thúc đẩy người khác thể
các nguồn lực để phục vụ cho sự phát triển của tổ chức
-Hiện thực hóa kế hoạch trên thực tế và điều chỉnh các thay đổi do điều kiện
không phù hợp
17
-Kiểm tra đánh giá để khép kín hoạt động tổ chức và qua khâu này cũng đánh
giá được năng lực tổ chức của chủ thể
Năng lực tổ chức của nưgừo lãnh đạo là điều kiện quan trọng để người lãnh
đạo thực hiện tốt vai trò của mình đối với tổ chức
Câu 11. Phân tích trình bày uy tín của người lãnh đạo
#Uy tín là ảnh hưởng quyền lực và sức mạnh tinh thần của một cá nhân, một
nhóm người đến cá nhân khác khiến họ tin tưởng nể phục mà tuân theo yêu
cầu của cá nhân và nhóm xã hội đó. Và thành công của người lãnh đạo phụ
thuộc rất nhiều vào ảnh hưởng của người đó và lòng tin sự kính phục của cấp
dưới với người lãnh đạo. Nói cách khác một người lãnh đạo thành công trong
vai trò của mình thì người đó phảI có u tín trong tổ chức của mình
#Uy tín của người lãnh đạo , quản lý được hợp thành bởi rất nhiều yếu tố. Hơn
nữa đây là một nhân tố quan trọng góp phần vào thành công trong công tác
của người lãnh đạo, quản lý đó là một yêu cầu và tiêu chuẩn có tính tổng hợp
nhiều mặt đối với cán bộ các cấp. Do vậy uy tín cuả người lãnh đạo phảI bao
gồm được yếu tố hợp thành quan trong nhất như thực quyền được giao phó và
thừa nhận, phẩm chất năng lực đáp ứng yêu cầu thực hiện có kết quả những
quyền hạn và nhiệm vụ của người lãnh đạo
#Uy tín của người lãnh đạo cũng có sự phân chia đó là uy tín giả danh và uy
tín đích thực
#Uy tín đích thực là sự kết hợp một cách đặc bịêt khách quan giữa phẩm chất
tư tưởng chính trị, đạo đức và năng lực của người lãnh đạo. Uy tín này hình
thành và phát triển thông qua hoạt động và giao lưu của chủ thể và khách thể
trong quản lý
#Uy tín đích thực được biểu hiện qua các cơ sở sau đây: người lãnh đạo luôn
đứng trên cương vị của mình
Con đường và biện pháp nâng cao uy tín cuả người lãnh đạo
Con đường cơ bản
Tự phấn đấu rèn luyện bằng các biện pháp như duy trì hứng thú, khát vọng và
ý chí làm lãnh đạo để phục vụ tổ chức con người và xã hội
Thường xuyên tự kiểm tra, tự phê bình để tìm ra các nguyên nhân sai lầm
trong hoạt động lãnh đạo của mình để từ đó nghiêm khắc sửa chữa sai lầm
Giữ vững và nâng cao uy tín cho các mối quan hệ bằng hành động khiêm tốn,
hoà nhã, giữ gìn đúng mực với mọi người
Thực hiện dân chủ công khai, thực sự là trong trọng trí tuệ của tập thể, sự tin
tưởng vào cấp dưới và tính đúng đắn của quyết định do mình đưa ra
Mặc dù vậy cần phảI lưu ý trong quá trình xây dựng và nâng cao uy tín lãnh
đạo, cần tránh việc coi uy tín là mục đích cuối cùng mà chỉ nên coi đó là
phương tiện để đạt được mục đích quản lý. Việc xây dựng uy tín phảI được
tiến hành gắn với thực tiễn liên tục không ngừng
Câu 12. Trình bày và phân tích phong cách lãnh đạo
#Phong cách lãnh đạo có thể được xem xét như một nhân tố quan trọng trong
quản lý gắn liền với kiểu người lãnh đạo hoặc xem như khoa học, nghệ thuật
tác động của người lãnh đạo và như phương pháp làm việc của họ
19
-Phong cách lãnh đạo là tổng hoà những quan niệm cách thức tiến hành hoạt
động quản lý, lãnh đạo được thực hiện thường xuyên tạo thành nét riêng biệt
giữa từng nhà lãnh đạo hay kiểu người lãnh đạo
Khi nghiên cứu kháI niệm lãnh đạo thì người ta cần chú ý tới các điểm -phong
cách lãnh đạo phảI thể hiện được quan niệm của người lãnh đạo về hoạt động
quản lý
-Phong cách lãnh đạo bao gồm nhiều phương pháp lề lối làm việc được lập lại
ở người lãnh đạo
-Phong cách lãnh đạo được thể hiện qua hệ thống hành vi của người lãnh đạo
Tuy phong cách lãnh đạo là phong cách hoạt động của một cá nhân nhưng nó
lại luôn gắn liền với tính lịch sử, giai cấp hệ tư tưởng
người lãnh đạo kiểu này chỉ thích ngồi bàn giấy, thích dùng mệnh lệnh, không
đI thực tế, không quan tâm tới quần chúng, đây là một thứ giặc trong lòng
chúng ta theo Hồ Chí Minh
Phong cách lãnh đạo quan liêu thường biểu hiện ở một số đặc điểm sauL
khuynh hướng cứng nhắc, cơ cấu quản lý cồng kềnh, tiến độ công việc chậm
chạp, thụ động
Có tháI độ thờ ơ với yêu cầu thực tế của mọi người
Nhỏ nhặt trong quan hệ với người dưới quyền
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng quan liêu nhưng nếu xét ở góc độ
tâm lý cá nhân thì đó là do:
động cơ như cầu thăng tiến không đứng đắn. Mục đích công tác nặng về
quyền lợi cá nhân
Do trình độ lý luận chuyên môn quản lý yếu, năng lực và phương pháp hạn
chế, không đáp ứng được nhu cầu điều kiện của chức danh lãnh đạo
Do lập trường tư tưởng, quản lý lệch lạc
Do không được đào tạo và bồi dưỡng
Cần phảI xây dựng cho mỗi người phong cách làm việc mới. Và để làm được
điều đó cần
Không ngừng nâng cao trình độ lý luận chính trị chuyên môn, quản lý nhằm
đổi mới tư duy cách thức lãnh đạo.
Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, lời nói đI đôI với việc làm
Làm việc luôn luôn tuân thủ nguyên tắc tập trung dân chủ, làm việc tập thể,
dám chịu trách nhiệm
Thường xuyên nắm vững tình hình thực tế, sát dân, dựa vào dân, gần gũi và
phát huy sức sáng tạo của người dân
Tăng cường công tác phê bình và tự phê bình,làm việc cởi mở, tránh chủ
nghĩa cá nhân
Giữ gìn và nâng cao những phẩm chất cần kiệm liêm chính chí công vô tư
Mềm dẻo linh hoạt sáng tạo đổi mới trong công tác và trong giao tiếp, xử lý
công việc
phù hợp với hệ thống cấp bậc chính thức
#Giao tiếp giữa các tổ chức với nhau: loại giao tiếp này xảy ra khi có sự phối
kết hợp giữa các tổ chức với nhau để thực hiện một hoạt động chung. Giao
tiếp giữa các tổ chức có thể là trực tiếp hoặc cả gián tiếp, đôI khi giao tiếp
gián tiếp lại có hiệu quả hơn như thông qua văn bản, công văn…
#Giao tiếp giữa công chức với người dân, loại giao tiếp này là nhằm giảI
quyết các công việc của người dân, loại giao tiếp này rất phổ biến. Trong loại
giao tiếp này công chức phảI xác định được nhu cầu, mong muốn của người
dân để có thể tìm được giảI pháp đáp ứng được bận tâm của họ
Căn cứ vào quá trình trao đổi thông tin trong tổ chức
#Giao tiếp cấp trên với cấp dưới, giao tiếp này thực hiện sự luân chuyển thông
tin từ cấp dưới, giao tiếp này thực hiện sự luân chuyển thông tin từ cấp cao
xuống cấp thấp, từ thủ trưởng đến thành viên. Sự giao tiếp này nhằm mục đích
hướng dẫn công việc, thu thập phản hồi ý kiến của người dân…
#Giao tiếp cấp dưới với cấp trên, giao tiếp từ dưới lên là sự phản hồi của dòng
thông tin từ trên xuống dưới. Cấp dưới báo cáo lên cấp trên về tình hình công
việc của mình và các đồng nghiệp
22
#Giao tiếp hàng ngày là giao tiếp giữa các bộ phận cùng cấp, đó là sự phối
hợp giữa các cá nhân và các bộ phận cùng cấp trong tổ chức
Có rất nhiều cách phân loại giao tiếp trong quản lý hành chính nhà nước, như
vậy các cách trên chỉ mang tính tương đối, nhưng dù phân loại theo cách nào
đI nữa thì vẫn phảI đạt được mục tiêu giao tiếp.
Câu 14. Trình bày một số yếu tố tâm lý ảnh hưởng đến giao tiếp của người
lãnh đạo
Định kiến ảnh hưởng đến giao tiếp. Đây là một vấn đề được nhiều nhà tâm lý
học quan tâm, bởi lẽ nó là trong các yếu tố tâm lý xã hội đặc trưng của nhóm,
phản ánh đời sống tâm lý phức tạp trong ứng xử và giao tiếp của con người.
Có rất nhiều ý kiến khác nhau về định kiến, nhưng nhìn chung các nhà tâm lý
đều khẳng định thống nhất ở điểm : “định kiến là một kiểu tháI độ liên nhóm
cho tới tư duy, cho vậy nó tuân thủ những quy luật chung cho sự phản ánh tâm
lý. Mức độ đặc trưng của đối tượng tri giác là do giá trị xã hội của nó quy
định.
Bất ký quá trình tri giác xã hội nào cũng bao gồm các bộ phận sau: chủ thể tri
giác, đối tượng tri giác, quá trình tri giác, kết quả tri giác.
Một số ảnh hưởng đến quá trình tri giác người- người: sự tri giác người người
ngoài những cáI mà chủ thể tri giác được và bản thân đối tượng tri giác vốn có
như nét mặt, điệu bộ cử chỉ…ăn mặc ngôn ngữ, tác phong mà chủ thể còn tri
giác đối tượng qua “ cáI tôi” nhân cách của chính bản thân chủ thể, cũng cùng
một con người nhưng do chịu ảnh hưởng sẽ có nhận xét khác nhau. Do vậy
quá trình tri giác người người cũng chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, nhiều cơ
chế khác nhau
Cơ chế hoà và đồng cảm, để hiểu người khác và nhận thức được bản thân
mình thì mỗi cá nhân đều phảI đặt địa vị mình vào người khác để hiểu họ từ
đó là thông cảm và đồng cảm với đối tượng điều này là hết sức quan trọng
trong cuộc sống và giao tiếp, ngoài ra điều này còn khẳng định con người
không thể tách mình ra khỏi tập thể, môI trường xung quanh
Cơ chế phản xạ là việc hiểu mình qua người khác, đây là có chế phản xạ trong
giao tiếp, bằng cơ chế này mỗi người có thể hiểu xa hơn nữa hình ảnh của
người khác về bản thân mình, biết họ đang nghĩ gì về mình
Sự tri giác của con người chịu ảnh hưởng của ấn tượng ban đầu khi tri giác ,
đây chính là hình ảnh tâm lý về tổng thể các đặc điểm như diện mạo, lời nói,
cử chỉ, tác phong, ánh mắt, nụ cười, tháI độ trang phục…
Định hình xã hội là yếu tố ảnh hưởng đến việc tri giác của con người, định
hình là những định kiến đã ổn định của mỗi con người khi tri giác và đánh giá
người khác theo những chuẩn mực nhất định
Nếu định kiến xã hội tích cực sẽ làm rút ngắn quá trình hiểu biết của con
người, nhưng nó cũng có mặt tiêu cực là nhiều kho có những ấn tượng
Tóm lại tri giác con người bởi con người là một loại tri giác đặc biệt mang
những nét đặc thù của xã hội loài người. Tri giác này là quá trình nhận thức
25