ĐHBKHN VĂN HOÁ KINH DOANH. NHÓM 11.
ĐỀ TÀI:
Vấn đề an toàn thực phẩm và đạo đức kinh doanh ở
Việt Nam hiện nay
Nhóm 11
Giảngviên:
TS VŨ QUANG
Họ tên SV: 1. Lê Văn Tân
2. Nguyễn Văn Linh
3. Phùng Đức An
4. Đặng Thùy Linh
5. Mai Tất Thành
6. Nguyễn Trung Văn
7. Trần Ngọc Hoàn
8. Nguyễn Thị Hằng
9. Nguyễn Thị Thắm
Lê Thị Dung
20112115
20111790
ĐK&TĐH 1
ĐK&TĐH 5
Hà Nội, 5/2014
MỤC LỤC
1
ĐHBKHN VĂN HOÁ KINH DOANH. NHÓM 11.
2
ĐHBKHN VĂN HOÁ KINH DOANH. NHÓM 11.
LỜI MỞ ĐẦU
Như chúng ta đã biết vệ sinh an toàn thực phẩm là một trong những vấn đề
được xã hội đặc biệt quan tâm hiện nay. Nó ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe, cuộc
sống của từng con người. Bên cạnh những doanh nghiệp chế biến, kinh doanh hàng
thường xuyên hơn trên các phương tiện truyền thông đại chúng và đã dần được các
doanh nghiệp áp dụng. Nếu doanh nghiệp muốn đẩy mạnh phát triển, mở rộng thị
trường sang các nước châu Âu, châu Mĩ thì đây chính là bài toán thiết yếu cần giải
quyết.
Phần 1: Thực trạng về vệ sinh an toàn thực phẩm và đạo đức kinh
doanh ở Việt Nam.
1.Vệ sinh an toàn thực phẩm:
1.1 Thực trạng đáng ngại về VSATTP trên thế giới.
VSATTP là tập hợp các điều kiện và biện pháp cần thiết để thực phẩm không
gây hại cho sức khỏe và tính mạng con người. Để bảo đảm chất lượng VSATTP thì
tất cả các khâu trong chuỗi bảo đảm chất lượng thực phẩm (từ khâu nuôi trồng,
đánh bắt, đến sản xuất, chế biến, bảo quản, vận chuyển, kinh doanh, sử dụng) đều
phải đạt vệ sinh và an toàn. Nếu bất kỳ khâu nào không đạt yêu cầu thì nguy ngộ
độc thực phẩm đều có thể xảy ra. Trách nhiệm bảo đảm chất lượng VSATTP là của
tất cả mọi người trong xã hội từ các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể đến các
nhà khoa học, các cơ sở sản xuất, chế biến, kinh doanh và đến cả người tiêu dùng.
Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), hiện có hơn 400 các bệnh
lây truyền qua thực phẩm không an toàn. VSATTP đã được đặt lên hàng đầu nghị
trình tại nhiều hội nghị y tế và sức khỏe cộng đồng toàn cầu, nhưng tình hình gần
4
ĐHBKHN VĂN HOÁ KINH DOANH. NHÓM 11.
như không được cải thiện bao nhiêu, nhất là khi thế giới liên tiếp xảy ra thiên tai và
nguồn nước sạch ngày càng hiếm. Khi người dân không có đủ miếng ăn thì việc
kiểm tra chất lượng những gì mà họ ăn đã trở thành điều khá xa vời. Tiến sĩ
Margaret Chan, Tổng Giám đốc Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), cho biết mỗi tháng
Liên hiệp quốc nhận được khoảng 200 báo cáo từ 193 quốc gia về các trường hợp
thực phẩm bị nhiễm độc. Bà nhấn mạnh: "Một lần nữa, tôi xin khẳng định,
VSATTP là vấn đề chung của cả nhân loại chứ không riêng một nước nào".
Theo WHO, mỗi năm tại Mỹ có 76.000.000 người bị ngộ độc thực phẩm,
trong đó có 325.000 trường hợp phải nhập viện, tử vong 5.000 người. Tại Anh, mỗi
tại các bếp ăn tập thể cũng đáng báo động.
Nguyên nhân làm cho thực phẩm không an toàn gồm thực phẩm nhiễm vi
sinh độc hại (vi khuẩn, virus, ký sinh, nấm) là nguyên nhân chính yếu gây nhiều
trường hợp ngộ độc thực phẩm tập thể và sử dụng những loại hóa chất, phụ gia
dùng trong nông thủy sản, thực phẩm không đúng quy định gây ảnh hưởng xấu đến
sức khoẻ người tiêu dùng (như dùng hóa chất không cho phép, hoặc hóa chất được
phép sử dụng trong chế biến thực phẩm, nhưng lại được dùng quá hàm lượng hoặc
chất độc sinh ra trong quá trình bảo quản, chế biến, chưa kể một số độc tố tự
nhiên).
1.2 Vệ sinh an toàn thực phẩm ở Việt Nam hiện nay.
Vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP) rất quan trọng trong những bữa ăn
hàng ngày và liên quan đến sức khoẻ, đến thể chất của con người, đến nguồn nhân
lực để phát triển đất nước, đóng góp quan trọng vào việc duy trì một nòi giống dân
tộc cường tráng, trí tuệ.
6
ĐHBKHN VĂN HOÁ KINH DOANH. NHÓM 11.
Vào ngày 3/4/2009, đoàn giám sát của ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc
thực hiện chính sách pháp luật trong lĩnh vực an toàn vệ sinh thực phẩm (ATVSTP)
đã tổ chức lấy ý kiến cho dự thảo kết quả giám sát. Những con số “rùng mình” đã
được Bộ Y tế báo cáo. Theo bản báo cáo này, hiện có hơn 60 triệu dân đang mang
giun sán trong người. Bệnh sán lá gan lớn có ở 18 tỉnh, tỷ lệ nhiễm mầm bệnh
trong cộng đồng dân cư có nơi tới 37% như Nam Định, Phú Yên. Bệnh sán lá gan
nhỏ có ở 24 tỉnh, tỷ lệ nhiễm rất cao như Hà Tây (40%), Thanh Hóa (38%), Nam
Định (37%), Ninh Bình (30%), Phú Yên (37%), Bình Định (30%)
Theo báo cáo của Bộ Y tế gửi đoàn giám sát thì trong giai đoạn 2000-2008
trung bình mỗi năm cả nước có hơn 200 vụ với khoảng 5.500 người bị ngộ độc,
trong đó có 55 người chết. Số người bị ngộ độc thực phẩm có xu hướng tăng trong
ba năm gần đây (mỗi năm trên 7.000 người). Các vụ ngộ độc tập thể xảy ra chủ
yếu tại bếp ăn các khu công nghiệp, khu chế xuất với con số trung bình 1.200
người bị ngộ độc/năm.
lên 10.000 đồng/người/năm (tức gấp khoảng 10 lần hiện nay). Nhiều đại biểu Quốc
hội cho rằng đó là những kiến nghị xác đáng. Cạnh đó, Bộ Y tế cũng kiến nghị
Quốc hội sớm ban hành Luật An toàn thực phẩm để công tác này phù hợp với thực
tế và xu hướng quốc tế. “Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về VSATTP ban
hành giải quyết được những vấn đề bức xúc nhưng chưa quản lý được nguy cơ gây
ô nhiễm thực phẩm. Chế tài xử lý vi phạm pháp luật về VSATTP còn chưa đồng
bộ, chưa phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương”
Một báo cáo mới đây của ủy ban Khoa học Công nghệ và Môi trường của
Quốc hội cho thấy những con số đáng lo ngại như: diện tích rau an toàn chỉ đạt
8
ĐHBKHN VĂN HOÁ KINH DOANH. NHÓM 11.
8,5% tổng diện tích rau cả nước, số lượng gia súc gia cầm giết mổ trong năm 2009
được kiểm soát chỉ có 58,1%, và có tới 93,9% cơ sở dịch vụ ăn uống chưa được
cấp Giấy Chứng nhận đủ điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm. Những con số khách
quan ấy đã hé mở nhiều điều về thực trạng chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm
hiện nay.
Mỗi năm cả nước có khoảng trên sáu ngàn người bị ngộ độc thực phẩm, điều
đó cho thấy nếu như giải quyết tốt khâu vệ sinh an toàn trong thực phẩm không
những bảo vệ sức khoẻ của người dân mà còn tiết kiệm ngân sách y tế để giải
quyết các ca bệnh.
Theo báo cáo của Bộ Y tế, trong năm 2009 (cập nhật đến ngày ) cả nước xảy
ra 145 vụ ngộ độc thực phẩm với 4.813 người mắc và 33 người tử vong. So sánh
với cùng kỳ năm 2008, số vụ ngộ độc giảm 55 vụ (27,5%), số người mắc giảm
2.428 người (33,5%), số người đi viện giảm 2.109 người (35%), số người tử vong
giảm 27 trường hợp (45%). Tuy nhiên, nguy cơ xảy ra vẫn luôn tiềm tàng và các vụ
ngộ độc thực phẩm vẫn có thể xảy ra bất kỳ lúc nào trên phạm vi toàn quốc.
Nguyên nhân gây ngộ độc thực phẩm do vi sinh chiếm 9,7% so với tổng số
các vụ ngộ độc thực phẩm (14/145 vụ), chủ yếu do 4 vi khuẩn chính là Salmonella,
Streptoccocus. Ecoli và Staphylococcus aurerus. Nguyên nhân do độc tố tự nhiên
Bên cạnh đó, việc xử lý vi phạm trong lĩnh vực thuỷ sản cũng rất khác nhau
giữa nhiều quy định, khiến người thi hành công vụ gặp không ít khó khăn. Ví dụ,
Nghị định số 128/2005/NĐ-CP ngày 11/10/2005 của Chính phủ về xử lý vi phạm
hành chính trong lĩnh vực thuỷ sản, tại Điều 16, khoản 1, điểm c quy định "hành vi
sử dụng các loại thuốc thú y, hóa chất, phụ gia chế biến bị cấm sử dụng, không
10
ĐHBKHN VĂN HOÁ KINH DOANH. NHÓM 11.
được phép lưu hành ở Việt Nam hoặc sử dụng không đúng quy định của pháp luật
thì bị phạt từ 3-5 triệu đồng. Trong khi đó Nghị định số 45/2005/NĐ-CP ngày
6/4/2005 của Chính phủ về việc xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế được
quy định tại Điều 15, khoản 5, điểm c, có cùng hành vi là sản xuất kinh doanh thực
phẩm hoặc sản phẩm chế biến từ thịt gia cầm, gia súc, thuỷ sản, rau quả do bị bệnh,
bị ngộ độc, chết không rõ hoặc bị ngâm tẩm trong các chất hóa học không được
phép sử dụng thì mức phạt tiền là từ 10-15 triệu đồng.
Còn đối với nông nghiệp, hệ thống văn bản pháp quy về quản lý sản xuất kinh
doanh nông sản thực phẩm còn thiếu, chưa đồng bộ. Điều kiện vệ sinh thú y đối
với cơ sở chăn nuôi tập trung an toàn, quy trình xử lý động vật, sản phẩm động vật
không đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh thú y chưa được quy định cụ thể. Trường hợp vi
phạm có các chất kháng sinh tồn dư trong sản phẩm động vật cũng chưa có quy
định xử lý rõ ràng. Xử lý vi phạm sử dụng các chất cấm và tồn dư độc hại trong
thuỷ sản cũng chưa có hướng dẫn cụ thể.
Nên chăng vấn đề VSATTP và vệ sinh an toàn môi trường sinh sống là việc
làm cần giải quyết tức thời để bảo vệ sức khoẻ của người dân, chất lượng cuộc
sống và giống nòi ? Việc phòng bệnh luôn tốt hơn chữa bệnh, nhất là khi mắc
những bệnh nan y khó có thể chạy chữa dù tốn kém.
Thực chất, nhiều sự kiện như việc tiếp tục sử dụng những hoá chất cấm dùng
trong nuôi trồng, chế biến nông thủy sản, thực phẩm, việc sản xuất một số sản
phẩm kém chất lượng hoặc do quy trình chế biến hoặc do nhiễm độc từ môi
trường, đang gây ảnh hưởng xấu đến xuất khẩu và tiêu dùng. Các vụ ngộ độc thực
phẩm do một số bếp ăn tập thể cung cấp, nhiều thông tin liên tục về tình hình
ĐHBKHN VĂN HOÁ KINH DOANH. NHÓM 11.
Mới đây nhất, Trung tâm Kỹ thuật tiêu chuẩn - đo lường - chất lượng III, có
trụ sở tại TPHCM, đã phân tích mẫu măng muối của cơ sở chế biến của ông
Nguyễn Văn Lâm (xã Thái Bình, huyện Châu Thành, Tây Ninh) sử dụng axit
oxalic.
Theo công bố của GS. TS Chu Phạm Ngọc Sơn, từ cuối tháng 6 đến ngày
10/12/2013, Cty cổ phần dịch vụ khoa học công nghệ sắc ký Hải Đăng đã tiến hành
phân tích 873 các mẫu bún, bánh phở, hủ tiếu; bột nguyên liệu; mì tôm; măng tươi;
măng muối; há cảo, nấm mèo, bánh bông lan, bánh cuốn, cà rốt, trà thì phát hiện
363 mẫu (chiếm 41,58%) có axit oxalic rất cao.
Điều đáng nói, trong số đó, qua phân tích 62 mẫu mì tôm (trong nước lẫn
nhập khẩu) thì 100% đều có sự hiện diện của axit oxalic với nồng độ khoảng (30,8
- 449mg/kg); 9 mẫu măng tươi thì cả 9 đều có axit oxalic (295 - 3.080mg/kg);
25/26 mẫu măng muối (96,15%) có axit oxalic. Ngoài ra, 35/54 mẫu há cảo, nấm
mèo, bánh bông lan, bánh cuốn, cà rốt, trà có nồng độ axit oxalic từ 73,5-
293mg/kg
13
ĐHBKHN VĂN HOÁ KINH DOANH. NHÓM 11.
Hoá chất độc trong gà nhập lậu
Trong những tháng đầu năm 2012, việc nhập lậu gia cầm (gà thải loại không rõ
nguồn gốc) đã có những diễn biến phức tạp. Giám đốc Sở Công Thương Hà Nội Lê
Hồng Thăng cho biết, hiện có 11 đường dây có tổ chức vận gà chuyển gà lậu từ các
tuyến biên giới phía bắc đưa vào Hà Nội tiêu thụ; trong đó, Quảng Ninh 3 đường
dây, Bắc Ninh 2, Hải Dương 1, Thái Bình 1, Hà Nam 1, Bắc Giang 2, Lào Cai 1.
Các đối tượng vận chuyển rất chuyên nghiệp, có tổ chức.
Theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Thị Xuân
Thu, qua kiểm tra các mẫu gà nhập lậu cho thấy, số mẫu có dư lượng thuốc kháng
sinh quá giới hạn cho phép chiếm tới 20%. Vì vậy, loại gà này không an toàn nên
các nước khuyến cáo người dân không ăn.
TS Trần Quang Trung Cục trưởng Cục An toàn thực phẩmcũng khẳng định,
Trung Quốc do công ty TNHH Phú Dung, ở Giang Tô sản xuất. Các chất phát hiện
gồm hoạt chất 6-benzylaminopurine thuộc nhóm cytokinin và gibberelin A28.
Thanh Hóa: Cá, mực vẫn có hóa chất độc hại vượt ngưỡng
16
ĐHBKHN VĂN HOÁ KINH DOANH. NHÓM 11.
Theo ông Nguyễn Xuân Đồng - Phó Chi cục Quản lý chất lượng nông, lâm sản và
thủy sản Thanh Hóa, kết quả kiểm nghiệm các mẫu cá, mực ở Thanh Hóa gửi phân
tích cho thấy, một số mẫu có các thành phần hóa chất độc hại vượt ngưỡng.
2. Đạo đức kinh doanh ở Việt Nam hiện nay:
2.1 khái niệm:
Nghiên cứu về đạo đức là một truyền thống lâu đời trong xã hội loài người, bắt
nguồn từ những niềm tin về tôn giáo, văn hóa và tư tưởng triết học. Đạo đức liên
quan tới những cam kết về luân lý, trách nhiệm và công bằng xã hội. Đạo đức
trong tiếng Anh là ethics, từ này bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp ethiko và ethos, nghĩa
là phong tục hoặc tập quán. Như Aristoteles đã nói, khái niệm trên bao gồm ý
tưởng cả về tính chất và cách áp dụng. Vì vậy, đạo đức phản ánh tính cách của cá
nhân và trong thời đại ngày nay thì có thể nói lên cả tính chất của một doanh
nghiệp, vì doanh nghiệp chính là tập hợp của các cá nhân. Đạo đức kinh doanh là
một khái niệm không cũ mà cũng không mới. Với tư cách là một khía cạnh luân lý
trong hoạt động thương mại, đạo đức kinh doanh đã lâu đời như chính thương mại
vậy. Trong bộ luật Hammurabi từ khoảng 1700 TCN, đã có quy định về giá cả,
thuế quan, cách thức hoạt động thương mại và cả hình phạt hà khắc cho những kẻ
không tuân thủ. Đó có thể được coi là bằng chứng cho sự nỗ lực đầu tiên của xã
hội loài người để phân định ranh giới đạo đức cho các hoạt động kinh doanh.
Trong tác phẩm “Politics” (ra đời vào khoảng năm 300 TCN), Aristoteles đã chỉ ra
rõ ràng những mối liên hệ thương mại khi bàn về quản lý gia đình. Giáo lý của cả
đạo Do Thái và Thiên Chúa giáo, ví dụ như trong Talmud (năm 200 sau Công
nguyên) và Mười điều răn (Exodus 20:2 - 17; Deuteronomy 5:6 - 21), đều đã đưa
ra những quy tắc đạo đức được áp dụng trong hoạt động thương mại.
Tuy nhiên, với tư cách là một khái niệm mang tính hàn lâm, đạo đức kinh doanh
ĐHBKHN VĂN HOÁ KINH DOANH. NHÓM 11.
những hành vi tuân thủ lệnh cấp trên. Do khan hiếm hầu hết hàng hóa tiêu dùng, để
mua được đã là rất khó, nên không ai có thể phàn nàn về chất lượng hàng hóa. Vì
cầu vượt quá cung, chất lượng phục vụ trong mạng lưới cung cấp vô cùng thấp
nhưng ít người dám than phiền. Vào thời gian đó, các ngành công nghiệp của Việt
Nam chưa phát triển, có rất ít nhà sản xuất và hầu hết đều thuộc sở hữu nhà nước,
nên không cần quan tâm đến vấn đề thương hiệu hay sở hữu trí tuệ. Hầu hết lao
động đều làm việc cho nhà nước, nơi mà kỷ luật và chế độ lương thưởng đều thống
nhất và đơn giản. Tìm được việc làm trong cơ quan Nhà nước là rất khó khăn nên
không có chuyện đình công hay mâu thuẫn lao động. Mọi hoạt động trong xã hội
đều phải tuân thủ quy định của Nhà nước nên những phạm trù trên là không cần
thiết
Tuy nhiên, kể từ khi Việt Nam tham gia quốc tế hóa, có nhiều phạm trù mới được
xuất hiện như: quyền sở hữu trí tuệ, an toàn thực phẩm, đình công, thị trường
chứng khoán… và vì thế khái niệm đạo đức kinh doanh trở nên phổ biến hơn trong
xã hội. Qua kết quả phân tích các số liệu điều và những tài liệu thu thập qua sách
báo, chúng ta có thể rút ra được những kết luận sau về thực trạng đạo đức kinh
doanh ở Việt Nam.
2.2.1 Nhận thức của người Việt Nam về đạo đức kinh doanh:
Cho đến nay, có rất ít sách chuyên môn về đạo đức kinh doanh được xuất bản ở
Việt Nam, và hầu hết là được dịch từ sách của Mỹ. Cuốn sách đầu tiên về đề tài
này được xuất bản ở Việt Nam có lẽ là cuốn: “WHAT'S ETHICAL IN
BUSINESS?” by Verne E. Henderson, của Nhà xuất bản McGraw - Hill Ryerson.
Cuốn sách này được dịch giả Hồ Kim Chung dịch là “Đạo đức kinh doanh là gì?”
và được Nhà Xuất bản Văn hóa phát hành tháng 11 năm 1996. Tuy nhiên, nội dung
cuốn sách khá mơ hồ, không đầy đủ, nên đã không gây được nhiều sự chú ý trong
giới nghiên cứu ở Việt Nam. Thời gian gần đây, do áp lực của tiến trình toàn cầu
19
ĐHBKHN VĂN HOÁ KINH DOANH. NHÓM 11.
hóa, đã có khá nhiều bài báo trên các báo và tạp chí như: Chúng ta (Tạp chí lưu
dẫn đến những thiếu hụt trong thực thi của doanh nghiệp.
2.2.2 Trách nhiệm của doanh nghiệp với xã hội:
Để tìm hiểu vấn đề này, chúng tôi tập trung vào 2 khía cạnh, trách nhiệm của
doanh nghiệp với chất lượng hàng hóa và vấn đề bảo vệ môi trường. Câu hỏi thứ
nhất về vấn đề này được đặt ra là: “Doanh nghiệp sẽ làm gì nhận được thông tin là
có một số hàng hóa của mình bị kẻ xấu tráo đổi với những hàng kém chất lượng,
mà bằng hình thức bên ngoài không có khả năng phân biệt được, có thể gây tác hại
cho người tiêu dùng?”. Câu hỏi này dựa trên một tình huống có thật là năm 1981,
một người bệnh tâm thần đã cho thuốc độc vào một số lọ thuốc giảm đau nhãn hiệu
Tylenol do Johnson & Johnson (J&J) sản xuất và bày bán ở các quầy hàng bán
thuốc trong những siêu thị ở thành phố Chicago. Sự kiện trên đã làm bảy người
thiệt mạng và cảnh sát không bắt được thủ phạm. Mặc dù vụ việc đáng tiếc này chỉ
xảy ra ở Chicago và bộ phận an ninh cho rằng người thủ phạm chỉ cho thuốc độc
vào một số lọ Tylenol đã bày bán ở những siêu thị này, ban lãnh đạo J&J đã cương
quyết tiến hành thu hồi để kiểm định toàn bộ 31 triệu lọ thuốc Tylenol đã phân
phối không chỉ ở Mỹ mà ở toàn thế giới, vì theo J&J, không có gì bảo đảm là thủ
phạm chỉbỏ thuốc độc vào các lọ Tylenol lúc đã bày bán, mà không bỏ vào trong
lúc sản xuất hoặc trước khi được phân phối. Toàn bộ chi phí để thực hiện quyết
định trên là 100 triệu USD. Tuy nhiên, sự thể hiện trách nhiệm xã hội cao của công
ty Johnson &Johnson cộng thêm chiến dịch PR đúng đắn đã giúp Tylenol giành lại
vị trí trên thương trường chỉ trong vòng 6 tháng. Nhưng trong cuộc diều tra của
chúng tôi, chỉ có 42 người , chiếm 42%, chọn phương án “Thu hồi ngay toàn bộ lô
hàng đó, chấp nhận thua thiệt về kinh tế”, 50 người, chiếm 50% chọn phương án là
“Thông báo tại nơi bán, và để người tiêu dùng tự quyết định”, thậm chí có 8 người,
21
ĐHBKHN VĂN HOÁ KINH DOANH. NHÓM 11.
chiếm 8%, chọn phương án ”Không làm gì cả, vì không phải lỗi tại công ty của
mình”!
Câu hỏi thứ hai là: ”Cho biết quan điểm của bạn, khi một công ty XK sang thị
trường EU nước tương có tỷ lệ chất 3 - MPCD nằm trong phạm vi cho phép của
nghệ sản xuất gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe của người lao
động và dân cư, nhằm tiết kiệm chi phí. Các ví dụ cho vấn đề này rất phổ biến ở
Việt Nam như: các nhà máy dệt không có thiết bị làm sạch không khí, gây bệnh
phổi cho công nhân và cư dân xung quanh, nhà máy da giầy sử dụng xả nước thải
gây ô nhiễm nguồn nước, các công ty xây dựng không che chắn công trình gây ô
nhiễm cho khu vực, không có thiết bị bảo hộ cho người lao động dẫn đến tỷ lệ tai
nạn lao động cao….Trong trường hợp này, doanh nghiệp tuy không vi phạm luật
pháp nhưng rõ ràng đã cố tình vi phạm đạo đức kinh doanh, vì họ hoàn toàn ý thức
được tác hại của hành vi này. Nhưng quan điểm của người được hỏi ở đây lại khá
bao dung và ôn hòa! Trả lời cho câu hỏi: “Cho biết quan điểm của bạn về việc một
công ty nước ngoài đến lập nhà máy ở Việt Nam đểlợi dụng sự lỏng lẻo trong
những quy định về môi trường của Việt Nam?“, chỉ có 75% cho là “Không thể
chấp nhận được, họ đã vi phạm đạo đức kinh doanh”, còn 25% lại cho là “Bình
thường thôi, kinh doanh cần biết tận dụng cơ hội”. Kết quả này cho thấy thực tế là
vấn đề môi trường còn ít được quan tâm ở Việt Nam và người Việt Nam còn quá lệ
thuộc vào luật pháp khi đánh giá về đạo đức kinh doanh của doanh nghiệp.
2.2.3 Vấn đề sở hữu trí tuệ ở Việt Nam:
Đây là vấn đề nóng, không chỉ ở Việt Nam mà còn ở hầu hết các nước đang
phát triển khác. Tình trạng vi phạm SHTT tràn lan ở Việt Nam có nhiều nguyên
nhân. Trước hết, cho đến đầu thế kỷ XX Việt Nam là nước nông nghiệp lạc hậu,
23
ĐHBKHN VĂN HOÁ KINH DOANH. NHÓM 11.
những thành tựu về các sản phẩm cần bảo hộ như kiểu dáng công nghiệp, phát
minh,… hầu như chưa có, nên không có các quy định về bảo hộ SHTT. Hơn nữa,
là nước có nền văn hóa trọng tập thể, người Việt Nam không có truyền thống bảo
hộ sở hữu cá nhân. Trong thời phong kiến và cả thời kỳ trước hội nhập ở Việt Nam,
các nhà nghiên cứu, văn nghệ sĩ, đều sống bằng lương chứ luật pháp không quy
định chế độ bản quyền tác giả, thù lao cho tác giả rất ít ỏi vì quan niệm là phải
phục vụ tập thể. Vấn đề này chỉ được thật sự đặt ra sau năm 1991, khi Việt Nam
tham gia vào tiến trình hội nhập và nhất là sau năm 1997, khi Việt Nam ký Hiệp
giải ở Việt Nam trong thời gian tới.
3. Mối quan hệ giữa vệ sinh an toàn thực phẩm và đạo đức kinh doanh ở Việt
Nam hiện nay:
- An toàn thực phẩm cần đạo đức kinh doanh:
Mấu chốt của vấn đề đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm hiện nay là trách
nhiệm và đạo đức từ phía doanh nghiệp. Những năm gần đây, các cơ quan quản lý,
ban ngành chức năng, dù rất cố gắng với nhiều giải pháp, nhưng tình trạng mất an
toàn vệ sinh thực phẩm ở nước ta vẫn tăng cao về cả số lượng và mức độ.
Hàng loạt vụ việc gây bất bình trong dư luận như: nguyên liệu làm mứt Tết có
dòi, mỡ thối được dùng làm bánh trung thu, cháo dinh dưỡng sử dụng Natri
Benzoat, hạt dưa dùng phẩm chứa aRhodamin B – một chất có thể gây ung thư để
nhuộm màu, chế biến mỡ động vật kém chất lượng, nước khoáng đóng chai, nước
tinh khiết đóng bình nhiễm khuẩn, nước sinh hoạt nhiễm Amoni vượt quá mức quy
định cho phép, các loại sữa nghèo đạm, rau củ quả không an toàn…
25