BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Trần Thị Hồng Châu GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG
THÔNG QUA DẠY HỌC HÓA HỌC LỚP 10, 11
Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG
Chuyên ngành : Lí luận và phương pháp dạy học Hóa học
Mã số : 60 14 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
xin cảm ơn sự nhiệt tình giúp đỡ từ các đồng nghiệp và các em học sinh trong suốt quá trình
thực hiện đề tài nghiên cứu này.
Cuối cùng, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn đối với gia đình, nguồn động lực chính để tôi có
sức mạnh vượt qua mọi khó khăn trong quá trình thực hiệ
n luận văn.
Dù đã rất cố gắng hoàn thành luận văn bằng tất cả lòng nhiệt tình và tâm huyết, song chắc
chắn không tránh khỏi những thiếu sót, tác giả mong nhận được sự góp ý chân thành từ quý
thầy cô và đồng nghiệp. Xin chân thành cảm ơn.
Tác giả.
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ĐHSP : đại học sư phạm
GD&ĐT : giáo dục và đào tạo
GD : giáo dục
GDMT : giáo dục môi trường
GV : giáo viên
HS : học sinh
THPT : trung học phổ thông
TN : thực nghiệm
ĐC : đối chứng
ra là phải gắn liền việc học tập trên ghế nhà trường với thực tiễn. Chỉ dạy những điều cần thiết
nhất để học sinh dễ dàng tiếp cận xã hội, và dạy những gì bức thiết nhất trong xã hội mà học sinh sẽ
sống, sẽ hòa nhập, hoạt động và phát triển. Vấn đề môi trườ
ng và những ảnh hưởng của môi trường
đến cuộc sống loài người hiện đang là mối quan tâm lớn nhất của nhân loại. Đây là vấn đề đa dạng,
ngày càng trầm trọng và rất khó giải quyết, một phần cũng do ý thức của con người chưa cao và
hiểu biết của đa số người dân về vấn đề này còn hạn hẹp. Vì thế,việc đưa giáo dục môi trường vào
trong giảng dạy hóa học ở trường phổ thông là cần thiết và đáp ứng được yêu cầu xã hội đặt ra cho
giáo dục ngày nay.
- Trong chương trình giáo khoa trung học phổ thông, có tất cả 11 môn, không kể môn năng
khiếu và môn tự chọn. Theo nghiên cứu tài liệu và rút ra nhận xét của bản thân thì tôi nhận thấy
môn Hóa là môn có rất nhiều cơ hội để lồng ghép nội dung giáo dục môi trường. Vì thế, sẽ rất
thuận lợ
i cho việc giáo dục môi trường cho học sinh phổ thông khi kết hợp với môn hóa học.
Từ tất cả những lý do tôi đã phân tích như trên, tôi quyết định chọn đề tài GIÁO DỤC MÔI
TRƯỜNG THÔNG QUA DẠY HỌC MÔN HÓA HỌC LỚP 10, 11 Ở TRƯỜNG TRUNG
HỌC PHỔ THÔNG.
2. Mục đích nghiên cứu Mục đích nghiên cứu của đề tài này là đưa nội dung giáo dục môi trường vào bải giảng hóa
học lớp 10, 11 Trung học phổ thông. Bằng cách này, bài giảng hóa học sẽ dễ dàng đạt được yêu cầu
là có liên hệ thực tiễn, vừa giáo dục được ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh. Bên cạnh đó, bài
giảng có kết hợp kiến thức giáo dục môi trường sẽ tăng hứng thú học tậ
p cho học sinh, giúp tiết học
bớt căng thẳng và học sinh sẽ yêu thích môn học hơn.
3. Nhiệm vụ của đề tài
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về giáo dục môi trường.
- Nghiên cứu kiến thức cơ bản về môi trường và ô nhiễm môi trường
- Điều tra thực trạng về việc giáo dục môi trường trong dạy học môn hóa học ở trường trung
+ Xử lý số liệu điều tra
6. Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung: chương trình hóa học lớp 10, 11 – Nâng cao
- Đối tượng thực nghiệm: học sinh Trung học phổ thông tại Thành phố Hồ Chí Minh
7. Những đóng góp mới của đề tài nghiên cứu
- Cung cấp những giáo án được thiết kế dựa trên cơ sở kết quả thăm dò ý kiến giáo viên.
- Cung cấp những thông tin gần nhất về hóa họ
c môi trường để dạy môn hóa đồng thời giáo
dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh.
- Cung cấp những giá trị cụ thể về mức độ thành công của việc đưa giáo án lồng ghép giáo dục
môi trường vào thực tiễn giảng dạy hóa học lớp 10, 11 ở trường phổ thông. Chương 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Hiện nay, vấn đề môi trường đang là vấn đề được quan tâm hàng đầu, chính vì thế, những đề
tài nghiên cứu về môi trường và giáo dục môi trường cũng trở thành vấn đề “nóng” được mọi người
đặc biệt quan tâm. Những khóa luận tốt nghiệp và luận văn thạc sỹ nghiên cứu về vấn đề giáo dục
môi trường cũng không ít và đóng góp đượ
c những giá trị nhất định. Có thể điểm qua những khóa
luận và luận văn như sau:
1. Nguyễn Thị Ngọc Hạnh (2004), Giáo dục môi trường thông qua một số bài giảng cụ thể ở
trường phổ thông, khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP TP.HCM.
2. Cao Duy Chí Trung (2005), Thiết kế trang web phục vụ công tác giáo dục môi trường trong
môn hóa ở trường THPT, khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP TP.HCM.
3. Nguyễn Trần Đông Qu
ỳ (2007), Website hóa học môi trường qua chương trình hóa học lớp
10, khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP TP.HCM.
Hiện nay có nhiều khái niệm về môi trường:
- Môi trường theo nghĩa khái quát: “Môi trường là một tập hợp tất cả các thành phần của thế
giới vật chất bao quanh có khả năng tác động đến sự tồn tại và phát triển của mỗi sinh vật. Bất cứ
một vật thể, một sự kiện nào cũng tồn tại và diễn biến trong một môi trường nhất
định”. Tiếng Anh
môi trường là “environment”, tiếng Pháp là “environnement” đều có nghĩa là “cái bao quanh”, tiếng
Trung Quốc gọi môi trường là “hoàn cảnh” cũng có nghĩa tương tự.
- Môi trường nhân văn – môi trường sống của con người hay còn gọi là môi sinh (living
environment): là tổng hợp các điều kiện vật lý, hóa học, sinh học, kinh tế xã hội bao quanh và có
ảnh hưởng tới sự sống và phát triển của từng cá nhân và cả cộng đồng. Nhìn rộng hơn, môi trường
sống củ
a con người bao gồm cả vũ trụ bao la, trong đó hệ Mặt Trời và Trái Đất là bộ phận có ảnh
hưởng trực tiếp và rõ nét nhất. Trong môi trường này luôn luôn tồn tại sự tương tác lẫn nhau giữa
các thành phần vô sinh và hữu sinh. Cấu trúc của môi trường tự nhiên gồm hai thành phần cơ bản:
môi trường vật lý và môi trường sinh vật.
- Môi trường vật lý (physical environment):
Môi trường vật lý là thành phần vô sinh của môi trường tự nhiên, bao gồm khí quy
ển, thạch
quyển, sinh quyển.
Khí quyển
(atmosphere): còn được hiểu là môi trường không khí, là lớp khí bao quanh Trái
Đất, chủ yếu ở tầng đối lưu, cách mặt đất từ 10 – 12 km. Theo chiều cao của tầng này, nhiệt độ, áp
suất giảm dần và nồng độ không khí loãng dần. Khí quyển đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc
duy trì sự sống của con người, sinh vật và quyết định đến tính chất khí hậu, thời tiết của Trái Đất.
Thủy quyển
(hydrosphere): hay còn gọi là môi trường nước là phần nước của Trái Đất, bao
gồm đại dương, biển, sông hồ, ao, suối, nước ngầm, băng tuyết, hơi nước trong đất và trong không
khí. Thủy quyển đóng vai trò không thể thiếu được trong việc duy trì cuộc sống con người, sinh vật,
cân bằng khí hậu toàn cầu, và phát triển các ngành kinh tế.
Thạch quyển
ỗ giữa các yếu tố tự nhiên với hoạt động của con người và
sinh vật.
- Hệ sinh thái (ecosystem).
Hệ sinh thái là đơn vị tự nhiên bao gồm các quần xã sinh vật (thực vật, động vật bậc thấp bậc
cao, vi sinh vật) và môi trường trong đó chúng tồn tại và phát triển (sinh cảnh sinh vật và sinh cảnh
có mối liên quan chặt chẽ với nhau, tương tác hỗ trợ nhau, nhưng giữa chúng còn tồn tại mộ
t mức
độc lập tương đối, cùng sống trong một số điều kiện ngoại cảnh nhất định – mà điều kiện ngoại cảnh
đó có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự tồn tại, phát triển của quần thể sinh vật sống. môi trường sinh vật
trong hệ sinh thái bao gồm các sinh vật sản xuất, sinh vật tiêu thụ và sinh vật phân hủy liên hệ với
nhau qua các dây chuyền th
ực phẩm, theo đó năng lượng từ các chất dinh dưỡng được truyền từ
sinh vật này đến sinh vật khác. Ví dụ: hệ sinh thái đồng cỏ: cỏ mọc nhờ có đạm, dinh dưỡng, xác
thực vật trong đất. Cỏ lại cung cấp thức ăn cho động vật ăn cỏ. Động vật ăn cỏ lại là thức ăn cho
động vật ăn thịt 1, động vật ăn thị
t 1 lại là thức ăn cho động vật ăn thịt 2, …Năng lượng sinh học
cũng được sinh ra trong quá trình đó và khả năng trao đổi cung cấp cho nhau. Trong tự nhiên tồn tại nhiều hệ sinh thái:
+ Hệ sinh thái cạn (hệ sinh thái đất, hệ sinh thái rừng, hệ sinh thái sa mạc…)
+ Hệ sinh thái nước (hệ sinh thái biển, hệ sinh thái cửa sông, hệ sinh thái hồ, đầm…).
Các hệ sinh thái cũng còn có thể do con người tạo ra như các hệ sinh thái nông nghiệp, hệ sinh
thái đô thị,…Các hệ sinh thái có thể trải qua sự chọn lọc tự nhiên mà hình thành. Hệ sinh thái tự
nhiên thì bền vững, vì nó tuân theo quy luật ch
ọn lọc tự nhiên, hợp với thiên nhiên. Các hệ sinh thái
nhân tạo thì kém bền vững.
- Cân bằng sinh thái (ecological balance)
Sự cân bằng sinh thái, hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm không chỉ là sự cân bằng giữa các loài,
như sự cân bằng giữa sinh vật săn mồi và vật mồi, hay giữa vật chủ và vật ký sinh mà còn là sự cân
2
, CO
2
, NO
2
, CO……) - Kim loại nặng (chì, đồng, thủy ngân…..)
Ngoài những tác nhân trên, môi trường còn có thể bị ô nhiễm bỏi tiếng ồn quá mức cho phép
hoặc các chất phóng xạ do ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp.
1.1.1.1. Ô nhiễm môi trường khí (khí quyển)
Ô nhiễm môi trường khí là sự làm biến đổi toàn thể hay một phần khí quyển theo hướng
tiêu cực bởi các chất gây tác hại được gọi là chất gây ô nhiễm. Vậy gây ô nhi
ễm là khái niệm chỉ
các phần tử bị thải vào không khí có thể là do tự nhiên hoặc do kết quả hoạt động của con người (ví
dụ như khí CO
2
).
- Nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường không khí
Ô nhiễm do thiên tai gây ra: Rất nhiều các hiện tượng của thiên nhiên gây ra hoặc góp phần
vào quá trình gây ô nhiễm không khí. Gió bão cuốn theo đất, cát… gây ra lũ lụt. Núi lửa phun ra
nham thạch cũng gây nên bụi và các khí thải như oxit của lưu huỳnh. Nước biển bốc hơi cùng với
sóng biển tung bọt mang theo bụi muối biển lan truyền vào không khí. Xác động vật, thực vật chết
trong quá trình phân hủy cũng tạo ra các chất gây ô nhiễ
m. Song nguồn ô nhiễm này không phải là
nguyên nhân chính.
Ô nhiễm trong không khí do các hoạt động do con người gây nên:
Hoạt động sản xuất công nghiệp: ống khói của các nhà máy, đặc biệt là nhà máy hóa chất,
, CH
4
, CFC…). Theo nghiên cứu thì
chất khí quan trọng gây hiệu ứng nhà kính là CO
2
, nó đóng góp 50% vào việc gây hiệu ứng nhà
kính, CH
4
đóng góp 13%, ozon tầng đối lưu đóng góp 7%, nitơ 5%, CFC: 22%, hơi nước ở tầng
bình lưu là 3%... Nếu như chúng ta không ngăn chặn được hiện tượng hiệu ứng nhà kính thì trong
vòng 30 năm tới mặt nước biển sẽ dâng lên từ 1,5 – 3,5 m (Stepplan Keckes). Có nhiều khả năng
lượng CO
2
sẽ tăng gấp đôi vào nửa đầu thế kỷ sau. Điều này sẽ thúc đẩy quá trình nóng lên của Trái
Đất diễn ra nhanh chóng. Nhiệt độ trung bình của Trái Đất sẽ tăng khoảng 3,60°C (G.I.Plass), và
mỗi thập kỷ sẽ tăng 0,30°C.
Hiện tượng lỗ thủng tầng ozon: CFC là "kẻ phá hoại" chính của tầng ozon. Sau khi chịu tác
động của khí CFC và một số loại chất độc hại khác thì tầng ozon sẽ bị m
ỏng dần rồi thủng, không
còn làm tròn trách nhiệm của một tấm lá chắn bảo vệ mặt đất khỏi bức xạ tia cực tím, làm cho lượng
bức xạ tia cực tím tăng lên, gây hậu quả xấu cho sức khoẻ của con người và các sinh vật sống trên
mặt đất.
- Các giải pháp cho vấn đề ô nhiễm không khí
Các giải pháp cho vấn đề ô nhiễm không khí đòi hỏi sự hợp tác chặt chẽ toàn c
ầu. Chính phủ
của nhiều nước đã thảo luận và đưa ra cho giải pháp cho vấn đề này cùng những cam kết về giảm
lượng không khí độc hại thải ra môi trường
Về kinh tế, kỹ thuật và luật pháp: loại bỏ những dây chuyền sản xuất cũ kỹ và lạc hậu gây ô
nhiễm; xử phạt những nhà máy vi phạm việc thải ra quá mức cho phép các khí độc, có quy định chặt
ch
Anhidrit Sunfurơ
Tetracloruacacbon
Benzen
Cacbon oxit
Ammoniac
Hg
Pb
Cl
2
, Br
2
H
2
SO
4
SO
3
N
x
O
y
CS
2
H
2
S
SO
2
7.00
7.27
14.00
24.00
26.0014
Metanol CH
3
OH
0.05 35.00 1.2.2.3. Ô nhiễm môi trường đất (thạch quyển)
Ô nhiễm đất được xem là tất cả các hiện tượng làm nhiễm bẩn môi trường đất bằng các tác
nhân gây ô nhiễm. Có rất nhiều nguồn mà qua đó đất nhận được những đơn chất hoặc hợp chất lạ có
tác dụng làm giảm độ phì nhiêu của nó.
- Nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường đất
Do các vi sinh vật gây bệnh do sử dụng phân tươi ch
ưa xử lí, do đổ rác và nước thải chưa
được xử lí và đất nên trong đất chứa nhiều vi sinh vật gây bệnh cho người, gia súc và cả cây trồng…
Do các chất hóa học chất hóa học thất thoát , rò rỉ, thải ra trong quá trình hoạt động sản xuất
công nghiệp: đặc biệt là hóa chất độc và kim loại nặng.
Do các chất phóng xạ và các chất độc hại khác: tia thoát ra từ máy chụp X – quang, các
máy móc y tế dùng để chẩ
n đoán và điều trị, các thiết bị thăm dò….. và hóa chất đã sử dụng trong
các cuộc chiến tranh (như dioxin ….)
Chống ô nhiễ
m đất.
Nâng cao nhận thức về bảo vệ đất
1.2.2.4. Ô nhiễm môi trường nước (thủy quyển)
Ô nhiễm môi trường nước là hiện tượng trạng thái cân bằng, chất lượng nước bị biển đổi
đột ngột. Các sản phẩm phế thải từ các lĩnh vực khác nhau đã đưa vào nước, làm ảnh hưởng xấu đến
giá trị sử dụng của nướ
c, cân bằng sinh thái tự nhiên phá vỡ và nước bị ô nhiễm
- Nguyên nhân ô nhiễm môi trường nước
Ô nhiễm hóa học: là dạng ô nhiễm gây nên do các chất có protein, chất béo và chất hữu cơ
khác có trong chất thải từ các khu công nghiệp và dân cư như xà phòng, các loại thuốc nhuộm, các
chất tẩy giặc tổng hợp, các loại thuốc sát trùng, dầu mỡ và một số chất thải hữu cơ khác. Ngoài ra,
các chất vô cơ như
axit, kiềm, muối các kim loại nặng, các muối vô cơ hòa tan và không tan, các
loại phân bón hóa học cũng gây ra ô nhiễm hóa học.
Ô nhiễm vật lý học: do nhiều loại chất thải công nghiệp có màu và các chất lơ lửng làm
nước thay đổi màu sắc, tăng độ đục và hấp dẫn đến ô nhiễm nhiệt của nguồn nước… Nhiệt độ nước
cao làm tăng cường độ hoạt động của vi khuẩn và hệ
động vật nước, từ đó hàm lượng oxi hòa tan bị
giảm sút quá trình phân hủy háo khí của các chất hữu cơ bị trở ngại nên quá trình phân hủy yếm khí
các chất hữu cơ sẽ tăng, tạo ra những sản phẩm độc hại và hôi thối dẫn đến hiện tượng ô nhiễm
nước trầm trọng hơn.
Ô nhiễm sinh học: hiện tượng ô nhiễm này được gây ra bởi nướ
c thải cống rãnh gồm các vi
khuẩn gây bệnh, tảo, nấm và ký sinh trùng, các động vật nguyên sinh… Ngoài việc làm cho nước
trở nên có mùi hôi thối còn có thể gây nên một số bệnh nghiêm trọng đối với người và vật nuôi.
Ngoài ra ở những nơi có nhiều nước bẩn, ruồi muỗi sẽ sinh sản nhanh, nhiều gây ra những nạn dịch
và các bệnh truyền nhiễm khác rất nguy hiểm.
Thông tin về nguyên nhân gây ô nhiễm tại Việt Nam
Sự bùng nổ dân s
- Giải pháp cho vấn đề ô nhiễm nước
Phải ban hành những quy định về quản lý và sử dụng nguồn nước.
Có bộ máy nhà nước quản lý và bảo vệ nguồn nước. Phải nắm chắc về số lượng và chất
lượng nước để có những biện pháp giải quyết phù hợp và kịp thời.
Tăng cường nhận thứ
c về môi trường cho cộng đồng. làm cho mọi người thấy được về vấn
đề nguồn tài nguyên nước là có giới hạn, không phải vô tận như nếp nghĩ vốn có. Mọi người phải ý
thức được những ảnh hưởng của nguồn nước bị ô nhiễm đến đời sống của bản thân họ…
Bên cạnh đó, ngoài chiến dịch truyền thông nâng cao nhận thức, cũng cần ph
ải áp dụng những
quy định nghiêm ngặt hơn đối với vấn đề kiểm soát ô nhiễm, buộc tất cả mọi doanh nghiệp - từ quy
mô nhỏ đến lớn - phải đáp ứng được những tiêu chuẩn tối thiểu. Xét cho cùng, nước sạch và không
khí trong lành là những điều thiết yếu để có được một cuộc sống khỏe mạnh.
Bảo vệ lớp phủ thự
c vật (có vai trò quan trọng trong hệ thống lọc nước vào đất, điều hòa
dòng chảy, chống xói mòn, cân bằng chế độ nước….): nghiên cứu kỹ về giải pháp phòng chống, bảo
vệ và hạn chế cháy rừng để tránh tình trạng lớp thực bì bảo vệ bị tiêu diệt, khiến cho đất bị rửa trôi
và sau dó là cạn kiệt nguồn tài nguyên nước.
Xây dựng hồ, đập chứa nước để di
ều chỉnh dòng chảy của các sông, hạn chế lũ lụt, thỏa mãn
nhu cầu điện năng, sin hoạt và cung cấp nước tưới.
Chống ô nhiễm nguồn nước, tái sử dụng nước thải.
Cần có những biện pháp để tách nước nhiễm bẩn ra khỏi nguồn nước cung cấp (sông, hồ,
nguồn nước tự nhiên): lọc thấm, pha loãng và oxi hóa…… Điều quan trọng nhất là chính phủ cần đầu tư và xây dựng những dự án nước sạch cũng như
các công trình xử lý nước thải để hỗ trợ cho chiến dịch này và thu hút người dân tham gia.
Bảng 1.2 : Các phương pháp xử lý nước thải
Chất bẩn Các phương pháp xử lý
1.2.2.5. Ô nhiễm phóng xạ: Là sự xâm nhập vào môi trường của các chất phóng xạ bằng nhiều
con đường khác nhau, gây ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến con người.
- Chất phóng xạ xâm nhập môi trường bằng những con đường sau:
Khai thác quặng tự nhiên
Mưa phóng xạ do các vụ nổ của vũ khí hạt nhân
Việc sử dụng các đồng vị phóng xạ trong đi
ều trị bệnh và nghiên cứu khoa học
Sử dụng đồng vị phóng xạ làm nguyên tử đánh dấu trong nông nghiệp và công nghiệp.
Lò phản ứng hạt nhân.
Máy gia tốc thực nghiệm
- Ảnh hưởng của ô nhiễm phóng xạ đến sức khỏe con người:
Tăng xác suất mắc bệnh ung thư và chết do ung thư.
Gây ra những bệnh liên quan đến bộ máy di truyền (quái thai).
1.2.2.6. Ô nhiễm tiếng ồn
Ô nhiễm tiếng ồn là hiện tượng các âm thanh có cường độ và tần số khác nhau tập hợp lại một
cách hỗn độn, không trật tự, không theo nhu cầu…… gây khó chịu cho con người.
Tác động gây ô nhiễm của tiếng ồn: làm giảm sự chú ý, gây mệt mỏi, tăng cường ức chế hệ
thần kinh trung ương, làm chậm nhịp tim, ảnh hưởng xấu đến huyết áp, rách màng nhĩ, chảy máu
tai..……
Một số biện pháp chống tiếng ồn: yêu cầu các nhà máy sử dụng thiết bị cách âm, hấp thụ tiếng
ồn; quy hoạch khu dân cư xa khu công nghiệp, bến xe, sân bay, …. 1.3. Giáo dục môi trường ở trường phổ thông
1.3.1. Khái niệm
Từ trước đến nay, có rất nhiều định nghĩa về giáo dục môi trường. Nhưng có thể nói, giáo dục
môi trường không nhất thiết là một môn học chứa đựng các hệ thống khái niệm khoa học, giáo dục
môi trường mang đặc trưng của một chương trình hành động. Trong khuôn khổ của việc giáo dục
môi trường thông qua các môn học ở nhà trường thì có thể
hiểu giáo dục môi trường “là quá trình
c. Thái độ và hành vi
- Biết đánh giá, quan tâm và lo lắng đến môi trường và đời sống của các sinh vật. - Biết khoan dung và cởi mở.
- Tôn trọng, niềm tin và quan điểm của người khác.
- Biết tôn trọng những luận điểm và luận cứ đúng đắn.
- Có ý thức phê phán và thay đổi những thái độ không đúng về môi trường.
- Có mong muốn tham gia vào việc giải quyết môi trường, các hoạt động cải thiện môi trường.
Như vậy, Giáo dục môi trường nhằm mụ
c đích cuối cùng là trang bị cho người học:
- Một ý thức trách nhiệm sâu sắc đối với sự phát triển bền vững của Trái đất.
- Một khả năng cảm thụ, đánh giá vẻ đẹp của nền tảng môi trường.
- Một nhân cách được khắc sâu bởi nền tảng đạo lý môi trường.
1.3.3. Mô hình dạy và học giáo dục môi trường
Việc dạy và học trong giáo dụ
c môi trường diễn ra theo mô hình dưới đây với ba khía cạnh
giáo dục môi trường luôn tồn tại song song:
Giáo dục về môi trường (education about the environment): Xem môi trường là một đối
tượng khoa học, người dạy truyền đạt cho người học các kiến thức của bộ môn khoa học và môi
trường, cũng như phương pháp nghiên cứu về đối tượng đó. Cụ thể:
- Cung cấp những hiểu biết về hệ thố
ng tự nhiên và hoạt động của nó.
- Cung cấp những hiểu biết tác động của con người đến môi trường.
Giáo dục trong môi trường (education in the environment): Xem môi trường thiên nhiên hoặc
nhân tạo như một địa bàn, một phương tiện để giảng dạy, học tập, nghiên cứu. Với cách tiếp cận này
môi trường sẽ trở thành “phòng thí nghiệm thực tế, đa dạng, sinh động cho người dạy và người
học”.
Giáo d
ục vì môi trường (education for the environment): Truyền đạt kiến thức về bản chất,
người, bất kể thuộc màu da hay tín ngưỡng nào, đều có quyền sống trong môi trường lành mạnh, có
nước sạch để dùng và không khí sạch để thở.
6.Tri
ển khai giáo dục môi trường bằng các hoạt động mà học sinh là người thực hiện, học sinh
bằng các hoạt động của chính mình mà thu được hiệu quả thực tiễn. Thầy giáo là người tổ chức hoạt
động bảo vệ môi trường dựa trên chương trình quy định và tìm cách vận dụng phụ hợp với địa
phương.
1.3.4.2. Nguyên tắc dành cho giáo viên giảng dạy nội dung hóa học môi trường
1. Nên dựa trên các cứ liệu ch
ắc chắn và có tính thực tế.
2. Nên huy động nhiều người tham gia và dựa trên tinh thần hợp tác.
3. Nên dựa trên sự phân tích, nhận xét.
4. Nên dựa trên nền tảng đời sống cộng đồng ở địa phương.
1.3.4.3. Nguyên tắc về phương pháp giáo dục môi trường
(1) Giảm bớt diễn giảng, tăng cường thảo luận, tranh cãi
(2) Giảm giờ giảng trong lớp, tăng giờ học ngoài hiện trườ
ng và ở trong phòng thí
nghiệm.
(3) Giảm bớt nhớ thuộc lòng, tăng cường khảo sát, nghiên cứu.
(4) Giảm trả lời theo sách, tăng độc lập tư duy, giải quyết vấn đề.
(5) Vận dụng nguyên lý, tránh tiếp cận xuôi chiều lý thuyết sẵn có.
(6) Tập trung xem xét tính hệ thống của vấn đề, tránh sa vào hiện tượng, vụn vặt (7) Chú ý kinh nghiệm thực tế và kỹ năng vận dụng.
(8) Tăng cường làm việc tập thể.
(9) Chú ý khóa luận, dự án và đề tài khảo sát nghiên cứu..
1.3.5. Các hình thức triển khai giáo dục môi trường
Hình thức 1: Giáo dục môi trường thông qua chương trình giảng dạy của môn học trong nhà
Hình thức 2: giáo dục môi trường được triển khai như một hoạt động độc lập ở ngoài lớp
Nghe báo cáo các chuyên dề về môi trường
Tranh luận, hùng biện
Nghiên cứu về môi trường
Khảo sát thực địa tìm hiểu vấn đề bảo vệ môi trường ở địa phương Tham gia tuyên truyền, vận động bảo vệ môi trường.
Tham gia chương trình “Xanh hóa trường học”
Xây dựng dự án và thực hiện.
Câu lạc bộ môi trường.
Thi sáng tác (tranh, tượng, ảnh, thơ, nhạc…)
Triển lãm
Biểu diễn văn nghệ…
Hoạt động dã ngoại, tham quan, cắm trại, trò chơi…
Hoạt động phối hợp gia đình, nhà tr
ường và xã hội
1.3.6. Các phương pháp, hình thức giáo dục môi trường
1.3.6.1. Phương pháp nghiên cứu tình huống( case study)
Phương pháp Nghiên cứu tình huống là một kỹ thuật giảng dạy trong đó những thành tố chính
của một tình huống nghiên cứu được trình bày cho học sinh với mục đích minh họa hoặc tạo kinh
nghiệm giải quyết vấn đề.
Phương pháp Nghiên cứu tình huống là một phương pháp giảng dạy dựa vào những ví dụ th
ực
tế (Marsick, 1990), được dùng để thúc đẩy hành động, tăng trưởng và phát triển (Galbraith &
Zelenak, 1991).
Trong luận văn này, tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu tình huống nhằm khắc sâu kiến thức
cho học sinh thông qua việc giao cho học sinh một đề tài nhỏ, để học sinh cùng nhau (hoạt động
theo nhóm) tìm hiểu bản chất của tình huống trong đề tài, từ đó tự đưa ra kế hoạch để giải quyết vấn
Phương tiện trực quan bao gồm mọi dụng cụ, đồ dùng, thiết bị kỹ thuật từ đơn giản đến phức
tạp dùng trong quá trình dạy học, với tư cách là mô hình đại diệncho hiện thực khách quan (sự vật à
hiện tượng), nguồn phát ra thông tin về sự vật và hiện tượng đó, làm cơ sở tà tạ
o thuận lợi cho sự
lĩnh hội kiến thức, kĩ năng, kỹ xảo về hiện thực đó cho học sinh.
1.3.6.6. Hoạt động ngoại khóa
Giáo viên tổ chức với sự tham gia của học sinh trình diễn ảo thuật, đố vui hóa học, kịch vui
hóa học,…
Tác dụng:
- Ôn lại và vận dụng một số kiến thức hóa học gắn với cuộc sống.
- Kích thích sự sáng t
ạo của học sinh sáng tác các kịch bản để trình diễn.
- Rèn luyện cho học sinh cách thức tổ chức các sinh hoạt khoa học.
Giáo viên nên đóng vai trò cố vấn, còn để học sinh tự động thiết kế.
1.3.6.7. Phương pháp lập dự án
Dạy học dự án là một hình thức dạy học, trong đó học sinh thực hiện một nhiệm vụ học tập
phức hợp, gắn với thự
c tiễn, kết hợp lý thuyết với thực hành, tự lực lập kế hoạch, thực hiện và đánh
giá kết quả. Hình thức làm việc chủ yếu là theo nhóm, kết quả dự án là những sản phẩm hành động
có thể giới thiệu được.
1.3.6.8. Thiết kế modun giáo dục môi trường
Mô – đun giáo dục môi trường là một chuỗi các việc làm được thiết kế nhằm khai thác nội
dung bài giảng
để đạt được mục tiêu giáo dục môi trường đề ra trong khi vẫn tuân thủ các tiến trình
của một bài giảng thông thường.
1.3.6.9. Thiết kế website giáo dục môi trường
Thiết kế websites có nội dung giáo dục môi trường. Website có nhiều điểm mạnh, giúp bổ sung kiến thức học sinh, linh động, hấp dẫn, tiện dụng,
Nguyễn Du
Hồ Chí Minh
2 Đặng Ngọc Xuân Thu Hồ Chí Minh
3 Nguyễn Ngọc Hiệp Hồ Chí Minh
4 Phan Minh Trí Hồ Chí Minh
5 Nguyễn Lê Đăng Duy Hồ Chí Minh
6 Đặng Thị Hồng Thủy Hồ Chí Minh
7 Du Lê Hoàng Hồ Chí Minh
8 Võ Thị Trúc Quỳnh Hồ Chí Minh
9 Cù Tiến Thành Hồ Chí Minh
10 Trần Bảo Ngọc Lê Hồng Phong Hồ Chí Minh
11 Nguyễn Võ Thu An Hồ Chí Minh
12 Nguyễn Lê Văn Nguyễn Khuyến Hồ Chí Minh
13 Nguyễn Thị Hồng Châu Thanh Đa Hồ Chí Minh
14 Nguyễn Thị Hồng Ngọc Trần Hưng Đạo Hồ Chí Minh
Mạc Đĩnh Chi
Hồ Chí Minh
28 Nguyễn Thị Bích Thảo Hồ Chí Minh
29 Phan Thị Ngọc Mai Hồ Chí Minh
30 Cô Thu Nguyệt Hồ Chí Minh
31 Lại Thị Thủy Hồ Chí Minh
32 Lê Thị Thu Trang Hồ Chí Minh
33 Nguyễn Thị Mỹ Duyên Hồ Chí Minh
34 Lương Thị Vinh Hồ Chí Minh
35 Vũ Thị Phương Linh Dân lập Quốc tế Hồ Chí Minh
36 Ngô Thanh Huyền Nguyễn Hữu Tiến Hồ Chí Minh
37 Nguyễn Thị Ngọc Hạnh Nguyễn Huệ Hồ Chí Minh
38 Nguyễn Văn Linh Bình Thuận
39 Đinh Tiên Hoàng Vũng Tàu
40 Nguyễn Thị Bích Duyên Phước Thiền
Đồng Nai
41 Nguyễn Ngọc Bảo Trân Lương thế Vinh
Bảng 1.4. Các lớp tham gia điều tra thực trạng kiến thức môi trường
thanh, truyền hình, mạng Internet…..liên tục đưa thông tin về môi trường, cách xử lý và tuyên
truyền ý thức bảo vệ môi trường nhưng theo nhận định của giáo viên, hiệu quả thấy được ở học sinh
là thấp.
- Về việc đánh giá mứ
c độ hiệu quả của việc thực hiện công tác giáo dục môi trường, kết quả
thu được như sau:
Bảng 1.5. Kết quả đánh giá mức độ hiệu quả của công tác giáo dục môi trường
Không hiệu quả Hiệu quả ít Khá hiệu quả Rất hiệu quả
Số
phiếu
% Số
phiếu
% Số
phiếu
% Số
phiếu
%
Gia đình 5 12.2 24 58.5 9 22 3 7.3