Xây dựng hệ thống câu hỏi trấc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn - Phần hợp chất hữu cơ đa chức, tạp chức và Polime ban cơ bản ở trường Trung học phổ thông (THPT) - Pdf 14

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
______________ Đặng Ngọc Trầm XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI TRẮC
NGHIỆM KHÁCH QUAN NHIỀU LỰA CHỌN
PHẦN HỢP CHẤT HỮU CƠ ĐA CHỨC, TẠP CHỨC VÀ POLIME
BAN CƠ BẢN Ở TRƯỜNG THP
T
Chuyên ngành : Lí luận và phương pháp dạy học hóa học
Mã số : 60 14 10 LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS. TS TRẦN THỊ TỬU Thành phố Hồ Chí Minh - 2008

LỜI CẢM ƠN


NXB : Nhà xuất bản
P : Áp suất
SGK : Sách giáo khoa
t
0
: nhiệt độ
THPT : Trung học phổ thông
TN : Thực nghiệm
TNKQ : Trắc nghiệm khách quan
TNTL : Trắc nghiệm tự luận
xt : xúc tác MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đất nước ta đang bước vào giai đoạn toàn cầu hoá kinh tế, giai đoạn mà tri thức và kỹ năng của
con người được xem là yếu tố quyết định đến sự phát triển của xã hội. Trong sự nghiệp đổi mới đất
nước hiện nay, đổi mới nền giáo dục là một trong những nhiệm vụ trọng tâm. Chiến lược phát triển
giáo dục và đào tạo trong báo cáo chính trị của Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX đã xác định:
“Đổi mới toàn diện gi
áo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao thực sự là quốc sách
hàng đầu. Biện pháp cụ thể là đổi mới tư duy giáo dục một cách nhất quán, từ mục tiêu, chương trình,
nội dung, phương pháp đến cơ cấu và hệ thống tổ chức…” [10].
Muốn nâng cao chất lượng giáo dục chúng ta phải đổi mới nội dung và phương phá
p dạy học ở
các cấp học, các môn học. Trong đó việc đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá kiến thức kỹ năng
của học sinh là một khâu quan trọng. Để thực hiện nghiêm túc chế độ thi cử, tránh lối học nhồi nhét,
học vẹt học chay xu hướng hiện nay là thay trắc nghiệm tự luận bằng trắc nghiệm
khách quan trong
kiểm tra đánh giá ở một số môn học trong đó có môn hoá học. Tuy nhiên, hệ thống ngân hàng câu hỏi

+
Nghiên cứu lí luận về câu hỏi, bài tập trắc nghiệm khách quan.
+ Nghiên cứu lí luận về đánh giá câu trắc nghiệm: thống kê căn bản, độ tin cậy của câu trắc
nghiệm, phân tích câu trắc nghiệm…
- Nghiên cứu nội dung, cấu trúc chương trình hoá học hữu cơ phần hợp chất đa chức, tạp chức và
polime.
- Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm
khách quan nhiều lựa chọn chương trình hoá học hữu cơ
phần hợp chất đa chức, tạp chức và polime.
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm. Xử lí kết quả thực nghiệm để xác định độ tin cậy của câu trắc
nghiệm, loại bỏ, chỉnh sửa những câu trắc nghiệm chưa đạt yêu cầu.
- Đề xuất hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan có độ tin cậy cao phần hợp c
hất đa chức, tạp
chức và polime chương trình hoá học hữu cơ.
6. Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng và kiểm tra được độ tin cậy của hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều
lựa chọn phần hợp chất hữu cơ đa chức, tạp chức và polime thì sẽ góp phần nâng cao hiệu quả phương
phá
p kiểm tra, đánh giá kết quả học tập và chất lượng giảng dạy ở trường THPT, đồng thời góp phần
xây dựng ngân hàng câu hỏi có độ tin cậy cao ở chương trình hoá học hữu cơ.
7. Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện các nhóm phương pháp sau:
7.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Nghiên cứu các vấn đề lí luận có liên quan đến đề tài.
- Nghiên cứu tài liệu lí luận dạy học có liên quan đến phương pháp kiểm tra, đánh giá.
- Nghiên cứu lí luận về câu hỏi trắc nghiệm
khách quan.
- Nghiên cứu lí luận về đánh giá câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn.
- Nghiên cứu nội dung cấu trúc chương trình hoá học hữu cơ phần hợp chất đa chức, hợp chất
tạp chức và polime.
Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1.1. Kiểm tra, đánh giá trong dạy học
1.1.1. Khái niệm kiểm tra, đánh giá
1.1.1.1. Khái niệm kiểm tra
Theo Từ điển Giáo dục học, “kiểm tra là một bộ phận của quá trình hoạt động dạy- học, nhằm
nắm được thông tin về trạng thái và kết quả học tập của học sinh về những nguyên nhân cơ bản của
thực trạng đó để tìm ra những biện pháp khắc phục những lỗ hỏng, đồng thời củng cố và tiếp tục nâng
cao hiệu quả của hoạt động dạy- học” [19]

Trong lí luận dạy học, kiểm tra là giai đoạn kết thúc một quá trình dạy học, đảm nhận một chức
năng lí luận dạy học cơ bản, chủ yếu không thể thiếu được của quá trình này [25].
1.1.1.2. Khái niệm đánh giá
Đánh giá là quá trình hình thành những nhận định, phán đoá
n về kết quả của công việc trên cơ
sở các thông tin thu được và so sánh đối chiếu với các mục tiêu đề ra trước. Từ đó đề xuất những quyết
định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc [18].
Theo Từ điển Giáo dục học, đánh giá kết quả học tập là “xác định mức độ nắm được k
iến thức,
kĩ năng, kĩ xảo của học sinh so với yêu cầu của chương trình đề ra” [19].
Đánh giá kết quả học tập là một quá trình đo lường mức độ đạt được của học sinh về các mục
tiêu và nhiệm vụ của quá trình dạy học. Mô tả một cách định tính và định lượng: tính đầy đủ, tính đúng
đắn, tính chính xác, tính vững chắc của kiến thức, mối liên hệ của kiến thức với đời sống, các khả năng
vận dụng kiến thức vào t
hực tiễn, mức độ thông hiểu, khả năng diễn đạt bằng lời nói, bằng văn viết,
bằng chính ngôn ngữ chuyên môn của học sinh…và cả thái độ của học sinh trên cơ sở phân tích các
thông tin phản hồi từ việc quan sát, kiểm tra, đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ được giao, đối
chiếu với những chỉ ti

Đây là chức năng phổ biến của hoạt động kiểm t
ra, đánh giá. Thông qua kiểm tra, đánh giá,
người học được phân loại về trình độ nhận thức, năng lực tư duy hoặc kĩ năng, kĩ xảo…
1.1.2.6. Duy trì và nâng cao chất lượng của cơ sở đào tạo
Kiểm tra, đánh giá còn giúp xem xét một cơ sở đào tạo có đạt được các yêu cầu tối thiểu đã
được xác định hay không. Việc kiểm tra đánh giá nà
y thường được tiến hành bởi các nhà quản lí giáo
dục.
1.1.3. Các yêu cầu cơ bản của việc kiểm tra, đánh giá
Chúng tôi đã tham khảo một số tài liệu [18], [20], [25] và tổng kết một số yêu cầu cơ bản đối
với việc kiểm tra, đánh giá như sau:
1.1.3.1. Đảm bảo sự thống nhất giữa mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức kiểm tra
Giữa mục tiêu, nội dung, phương phá
p, hình thức kiểm tra phải có sự thống nhất. Không thể với
mục tiêu là kiểm tra toàn diện mà đề chỉ nhằm vào một phần của nội dung chương trình, không thể với
mục tiêu là kiểm tra toàn diện mà đề lại quá dễ…
1.1.3.2. Đảm bảo độ tin cậy
Một đề kiểm tra được coi là có độ tin cậy cao nếu:
- Dùng cho các đối tượng khác nhau mà vẫn có kết quả ổn định.
- Nếu tiến hà
nh kiểm tra một tập thể vào hai thời điểm khác nhau, mà điểm thi và thứ bậc của học
sinh là tương đương nhau.
- Điểm bài thi không phụ thuộc vào người chấm.
- Kết quả phản ánh đúng trình độ người làm bài.
1.1.3.3. Đảm bảo tính khách quan, chính xác

Kiểm tra, đánh giá phải phản ánh đúng kết quả học tập so với yêu cầu do chương trình quy định,
phản ánh đúng đắn những tiến bộ, những thiếu sót của học sinh. Kiểm tra đánh giá một cách khách
quan, chính xác sẽ làm cho học sinh thỏa mãn về mặt tinh thần, kích thích tính tích cực học tập, củng
cố uy tín, lòng tin yêu của học sinh đối với giáo viên.

tra và đánh giá tổng kết cuối học kì hoặc cuối năm, cuối khoá học.
Đánh giá học tập không chỉ là một bộ phận hợp thành cùa quá trình dạy học mà còn là quá trình
liên tục không ngừng. Qua đó cung cấp định kì các t
hông tin phản hồi cho người học, giúp các em biết
có sự tiến bộ hay thụt lùi, từ đó duy trì được động cơ, cố gắng vươn lên trong học tập.
1.1.3.5. Đảm bảo tính phát triển

Quá trình dạy học luôn vận động và phát triển. Kiểm tra, đánh giá kiến thức của học sinh là một
khâu của quá trình dạy học, cho nên khi tiến hành quy trình kiểm tra, đánh giá cần xem xét cả quá trình
và hướng phát triển trong tương lai của học sinh. Trong quá trình dạy học, giáo viên luôn phải xem xét,
kịp thời phát hiện các động lực phát triển và đánh giá được sự tiến bộ của học sinh, tạo điều kiện cho
học sinh phát triển.
1.1.3.6. Đảm bảo
tính công khai dân chủ
Việc kiểm tra, đánh giá phải được tiến hành công khai, theo một kế hoạch đã định sẵn từ đầu
năm học. Kết quả đánh giá phải được công bố kịp thời.
Ngày nay trong xu thế dạy học mới, học sinh đóng vai trò chủ thể tích cực, giáo viên phải tạo
điều kiện cho học sinh được góp ý, tham gia vào quá trình đánh giá và tự đánh giá.
1.1.3.7. Đảm bảo tính hiệu quả
Để đảm bảo tính hiệu quả thì phương pháp,
hình thức kiểm tra phải sát với điều kiện thực tế.
Mặt khác, nội dung kiểm tra cũng cần phải phù hợp với mục tiêu đã định. Cần phải tính toán với cùng
thời gian, công sức, chi phí bỏ ra, kiểm tra, đánh giá như thế nào để được kết quả cao nhất.
1.1.4. Các hình thức kiểm tra, đánh giá
Có nhiều cách phân loại hình thức kiểm tra, đánh giá, c
húng tôi đã tham khảo các tài liệu [18],
[20], [25], [32], [34] và tóm tắt các hình thức kiểm tra, đánh giá theo bảng sau:

tiếp với giáo viên, qua câu trả lời đó cho phép giáo viên nắm được mức độ lĩnh hội tài liệu học tập của
học sinh. Kiểm tra nói có thể tiến hành cho từng cá nhân hay đồng loạt một số học sinh. Phương pháp
kiểm tra này được sử dụng phổ biến và rộng rãi trong các hình t
hức kiểm tra và tất cả các khâu của quá
trình dạy học như: kiểm tra bài cũ, giảng bài mới hay củng cố bài học…
b. Ưu, nhược điểm
Kiểm
tra
thường
xuyên
Kiểm
tra
định
kỳ
Kiểm
tra
tổng
kết
Kiểm
tra
toàn
lớp
Kiểm
tra
nhóm
Kiểm
tra

nhân
Kiểm

Theo chủ thể
kiểm tra
Theo cách thức
kiểm tra
Kiểm
tra
TNKQ
Kiểm
tra
TNTL

Ưu điểm: giúp cho giáo viên thu được tín hiệu ngược một cách nhanh chóng và kịp thời ở nhiều
loại học sinh khác nhau để điều chỉnh việc giảng dạy tiếp theo. Từ đó thúc đẩy học sinh học tập thường
xuyên, có hệ thống và phát triển kĩ năng diễn đạt bằng ngôn ngữ nói.
Hạn chế: chỉ kiểm tra được một số ít học sinh, hơn nữa hiệu quả của phương pháp kiểm tra nó
i
phụ thuộc nhiều vào yếu tố như: câu hỏi kiểm tra như thế nào? sự chuẩn bị của học sinh ra sao? thái độ
của giáo viên như thế nào?.... Do vậy, người giáo viên cần biết cách sử dụng mới đạt hiệu quả mong
muốn.
1.1.4.2. Phương pháp kiểm tra viết
a. Khái niệm
Kiểm tra viết là cách thức học sinh làm bài kiểm tra viết trong các khoảng thời gian khác nhau
tuỳ theo yêu cầu của người ra đề đối với các môn học (15- 20 phút hay cả giờ học). Kiểm tra v
iết được
sử dụng sau khi học một bài, phần, chương hay nhiều chương, hoặc toàn bộ giáo trình.
b. Ưu, nhược điểm
Ưu điểm: trong cùng một thời gian nhất dịnh kiểm tra được toàn lớp, do đó dễ dàng thống nhất
yêu cầu kiểm tra đồng thời có thể đánh giá, đối chiếu, so sánh được trình độ học sinh t
rong lớp với
nhau. Phương pháp kiểm tra này có khả năng kiểm tra từ một vấn đề nhỏ đến một vấn đề lớn có tính

Hiện nay, việc kiểm tra vẫn còn nhiều vấn đề phải bàn cả về phương pháp tổ chức và cả nội
dung thực hiện. Trong xu thế phát
triển của khoa học giáo dục nói chung, lí luận dạy học nói riêng, vấn
đề cấp bách nhất được đặt ra là cần đổi mới và hoàn thiện các hình thức và phương pháp kiểm tra đánh
giá. Một trong những hướng tìm tòi mới là sử dụng trắc nghiệm khách quan.
Thông thường trắc nghiệm được hiểu là những bài tập nhỏ hoặc câu hỏi có sẵn các phương án
trả lời, yêu cầu học sinh suy nghĩ và chọn phương á
n trả lời đúng nhất bằng một kí hiệu đã quy ước.
b. Ưu, nhược điểm
* Ưu điểm
- Có thể đo lường một cách đa dạng và khách quan với nhiều mức độ nhận thức.
- Trong thời gian tương đối ngắn có thể kiểm tra được một lượng đáng kể các kiến thức cần
thiết.
- Chấm điểm được thực hiện khách quan vì không cần diễn dịch ý tưởng của học sinh như trong
bài viết.
- Lượng t
hông tin phản hồi rất lớn, nếu biết xử lí sẽ giúp điều chỉnh và cải thiện tình hình chất
lượng giáo dục.
* Nhược điểm
- Soạn đề thi tốn kém, khó khăn, lâu.
- Không rèn luyện được khả năng nói, viết.
- Không kiểm tra được kĩ năng thực hành, thí nghiệm.
- Học sinh có thể chọn đúng ngẫu nhiê
n.
1.1.5. Định hướng đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá
Qua việc tìm hiểu thực trạng kiểm tra, đánh giá ở một số trường THPT và qua tham khảo một số
tài liệu [40], [44], chúng tôi đã tổng những ưu điểm, tồn tại và định hướng đổi mới như sau
1.1.5.1. Thực trạng kiểm tra, đánh giá môn hoá học trong trường THPT hiện nay
a. Ưu điểm
-

vận dụng kiến thức vào đời sống sản xuất.
-
Kiểm tra kĩ năng : viết công thức và phương trình hoá học phải giải bài toán hoá học, thực
hành, vận dụng các kiến thức cơ bản…
b. Về mức độ
Bài kiểm tra, đánh giá phải thoả các tiêu chuẩn về quá trình nhận thức với các mức độ đi từ thấp
đến ca
o của hoạt động tư duy. Ở trường THPT cần đạt được các mức độ: biết; hiểu; vận dụng; và tư
duy suy luận có mức độ.
- Biết (hay còn gọi là nhớ lại): đây là khả năng thấp nhất trong hoạt động tư duy.
- Hiểu: là kĩ năng học sinh hiểu được vấn đề họ biết, có khả năng áp dụng những kiến thức đã
biết vào việc giải quyết những vấn đề mới.

- Vận dụng: là khả năng vận dụng các kiến thức quy luật, khái niệm, định luật… nhằm giải
quyết những vấn đề cụ thể. Học sinh có khả năng tư duy tốt sẽ vận dụng kiến thức tốt.
- Mức độ tư duy suy luận gồm các kĩ năng: phân tích, tổng hợp, đánh giá. Tuỳ theo đối tượng và
trình độ học sinh mà có các yêu cầu với mức độ phù hợp.

+ Phân tích: là khả năng tách ra từng vấn đề để nghiên cứu, để tìm hiểu rõ đối tượng hay hiện
tượng. Phân tích còn là sự phân biệt các dấu hiệu, các đặc tính riêng biệt của đối tượng hay hiện tượng
đó theo một hệ thống nhất định.
+ Tổng hợp: là khả năng kết hợp các yếu tố riêng biệt để rút ra những cái chung, cái bản chất
nhất của đối tượng hay hiện tượng.
+ Đánh giá: có thể coi là mức độ cao nhất của sự phát triển các kĩ năng về trí tuệ. Dựa trên sự
hiểu biết những phân tích và tổng hợp để rú
t ra kết luận đúng nhất, chính xác nhất, xem xét kết luận
này có ưu nhược điểm gì, có vai trò ra sao, tiến trình áp dụng nó thế nào.
c. Về hình thức
- Thay hình thức kiểm tra trắc nghiệm tự luận bởi trắc nghiệm khách quan. Có thể kết hợp trắc
nghiệm tự luận với trắc nghiệm

nhiều thời gian chấm bài.
- Đề thi chỉ dùng được một lần.
- Tốn nhiều thời gian để có
một ngân hàng nhiều câu hỏi
trắc nghiệm tốt . Nhưng việc
chấm bài lại khá nhanh chóng
và chính xác.
- Đề thi có thể dùng nhiều lần.
Phạm vi kiến thức Số lượng câu hỏi ít, phạm vi
kiến thức hẹp.
Trong một thời gian nhất định,
trả lời nhanh nhiều câu hỏi,
phạm vi kiến thức rộng
Kỹ năng, hiệu quả
đối với việc học tập
- Ghi nhớ, hiểu, vận dụng, phân
tích, tổng hợp, suy luận, phê
phán, đánh giá được khả năng
diễn đạt.
- Học sinh dễ học tủ, học lệch.
- Ghi nhớ, hiểu, vận dụng,
phân tích, tổng hợp, suy luận,
khả năng phân tích, lựa chọn,
khả năng giải nhanh.
- Ít rủi ro trúng tủ, lệch tủ.
Đánh giá - Chủ quan trong việc chấm
điểm, độ tin cậy không cao.

Theo tiến sĩ Giáo dục Dương Thiệu Tống [34] và một số chuyê
n gia [32], có 4 hình thức trắc
nghiệm thông dụng, chúng tôi đã tổng kết qua bảng sau:
Bảng 1.3: Các hình thức trắc nghiệm khách quan
Hình
thức
Mô tả Ưu điểm Nhược điểm
Câu
hỏi hai
lựa
chọn
Phần trả lời gồm hai lựa
chọn: đúng /sai, có /không

Đơn giản, dễ soạn. Có độ phân cách
thấp, nghĩa là khả
năng phân biệt học
sinh giỏi và học sinh
kém thấp, vì độ may
rủi cao.
Câu
hỏi
nhiều
lựa
chọn
Phần trả lời gồm nhiều
lựa chọn, trong đó chỉ có
một đáp án chính xác, các
câu còn lại có vẻ như đúng
nhưng thực sự không đúng

mà vẫn hợp lí.
Câu
hỏi
ghép
đôi
Gồm hai cột từ/ ngữ xếp
lộn xộn, nhưng những
từ/ngữ của cột này có thể
ghép với một hay nhiều
từ/ngữ của cột kia một
cách có ý nghĩa, hợp logic.
Ngắn gọn. Số lượng câu ở hai
cột phải không bằng
nhau để học sinh suy
nghĩ lựa chọn. Thực
chất đây cũng là hình
thức câu hỏi nhiều
lựa chọn.

Có nhiều hình thức câu hỏi trắc nghiệm khách quan, mỗi hình thức có những ưu và nhược điểm
riêng, nhưng hình thức phổ biến nhất hiện nay là trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn. Do câu hỏi
TNKQ nhiều lựa chọn có nhiều ưu điểm: độ tin cậy cao, độ phân cách lớn, tính may rủi thấp.
1.2.1.4. Kĩ thuật soạn thảo một bài trắc nghiệm khách quan [32], [34]
a. Giai đoạn chuẩn bị
-
Xác định mục tiêu: muốn xác định mục tiêu kiểm tra, đánh giá cho rõ ràng cần phân chia
chương trình thành các nội dung cụ thể và xác định tầm quan trọng của từng nội dung đó để phân bố
trọng số. Các mục tiêu phải được phát biểu dưới dạng những điều có thể quan sát được, đo được để đặt
ra các yêu cầu về mức độ đạt được của kiến thức, kĩ năng ….
-


- Trước khi loại bỏ câu hỏi bằng phương pháp phân tích thống kê, phải kiểm tra lại câu hỏi cẩn
thận, tham khảo ý kiến đồng nghiệp, chuyên gia vì đôi khi câu hỏi đó cần kiểm tra, đánh giá một mục
tiêu quan trọng nào đó mà chỉ số thống kê không thật sự buộc phải tuân thủ loại bỏ câu hỏi đó.
1.2.1.5. Những điều cần lưu ý khi soạn câu hỏi TNKQ nhiều lựa chọn [32], [34]
a. Số lựa chọn

Thường từ 4 đến 5 (càng nhiều lựa chọn thì tính may rủi càng thấp) nhưng chỉ có một đáp án
đúng.
b. Đáp án đúng và mồi nhử
- Chỉ được có 1 đáp án đúng.
- Vị trí đáp án đúng được sắp xếp ngẫu nhiên (để tránh trường hợp học sinh làm không suy nghĩ
mà cũng đúng được nhiều câu).
- Mồi nhử phải có sức hấp dẫn nga
ng nhau, muốn vậy phải chọn mồi nhử từ những sai lầm
khách quan thường gặp của học sinh chứ không phải do người ra đề tự nghĩ ra hay tưởng tượng ra,
tránh những mồi nhử quá ngây ngô dễ lựa chọn.
- Các lựa chọn phải ngắn gọn và đồng nhất về mặt ngữ pháp. Tránh việc vô tình tiết lộ đáp án do
đáp án dài hơn các mồi nhử hay trong mồi nhử có các từ có ý nghĩa tuyệt đối như “tất cả …”, “không
bao giờ …”
, làm như vậy học sinh có nhiều kinh nghiệm về từ ngữ có thể làm đúng mà không cần hiểu
bài.
c. Phần gốc
- Phần gốc dù là câu hỏi hay câu bỏ lửng cũng phải tạo cơ sở cho sự chọn lựa bằng một ý tưởng
rõ ràng.
- Nếu phần gốc là câu phủ định thì phải in nghiêng hay tô đậm để tránh cho học sinh vô tình
nhầm lẫn.

- Phần gốc và mỗi lựa chọn phải phù hợp, ăn khớp với nhau về mặt ngữ pháp và về mặt logic.
Nghĩa là khi ghép phần gốc với phần lựa chọn sẽ thành một câu hoàn chỉnh (nếu phần gốc là câu hỏi

Độ khó câu trắc nghiệm i = x 100%
số người làm bài trắc nghiệm
100% + % may rủi
Độ khó vừa phải của câu trắc nghiệm =
2

- Loại câu trắc nghiệm điền khuyết: % may rủi là 0% thì độ khó vừa phải là 50% , nghĩa là câu
này có độ khó vừa phải nếu 50% học sinh trả lời đúng câu đó.
c. Độ phân cách câu trắc nghiệm
- Độ phân cách là khả năng của câu hỏi trắc nghiệm có thể giúp giáo viên phân loại được học
sinh giỏi và học sinh kém.
- Tính độ phân cách (D) của từng câu: lấy 27% số bài có điểm cao nhất xếp vào nhóm giỏi
(nhóm cao) và 27% số bài có điểm thấp nhất xếp vào nhóm
kém (nhóm thấp), tính độ phân cách câu
theo công thức sau:
Để tính độ phân cách câu trắc nghiệm, ngoài phương pháp như trên, ta có thể tính toán một cách
nhanh chống và dễ dàng hơn với máy vi tính bằng phương pháp tính hệ số tương quan câu hỏi- tổng
điểm hay hệ số tương quan điểm nhị phân. Với phương pháp này, ta tính tương quan cặp giữa tổng
điểm (điểm toàn bài trắc nghiệm) của học si
nh trong nhóm với điểm số về mỗi câu trắc nghiệm (đúng
là 1, sai là 0) của các học sinh trong nhóm ấy.
* Ý nghĩa của độ phân cách:
Ta thấy số người làm đúng ở nhóm cao hay số người làm đúng ở nhóm thấp đều nhỏ hơn hoặc
bằng số người một nhóm, như vậy D có giá trị nằm trong khoảng +100% đến – 100%.
- D = +100% nếu tất cả những người ở nhóm cao đều làm đúng câu đó và tất cả những người ở
nhóm
thấp đều làm sai câu đó. D= - 100% nếu tất cả những người ở nhóm cao đều làm sai câu đó và

+ Tăng độ dài của bài trắc nghiệm (bài càng dài độ tin cậy càng cao).
+ Tăng độ khó của bài trắc nghiệm (kết quả bài làm phải có đủ các loại điểm số thì ta mới phân
loại được trình độ học sinh).
+ Tránh tạo cho học sinh cơ hội đoán mò (bằng cách dùng câu hỏi có nhiều lựa chọn có % m
ay
rủi thấp).
- Viết lời chỉ dẫn thật rõ ràng để học sinh khỏi nhầm lẫn.
- Chuẩn bị trước bảng chấm điểm, ghi rõ câu đúng. Đáp án cần có sự bàn bạc giữa các giáo viên
để có kết luận thống nhất.
Tính giá trị của bài trắc nghiệm
Tính giá trị của bài trắc nghiệm cho ta biết mức độ mà một bài trắc nghiệm đo được đúng cái nó
định đo, nghĩa là bài trắc nghiệm đó có đáp
ứng được mục đích đo lường đối với nhóm người muốn
khảo sát không.
b. Độ tin cậy của bài trắc nghiệm
Khái niệm
Độ tin cậy của bài trắc nghiệm là hệ số tương quan của tỉ lệ trả lời đúng/ sai giữa các lần trắc
nghiệm bằng các đề trắc nghiệm tương đương.

Phương pháp xác định độ tin cậy
Có nhiều phương pháp xác định độ tin cậy của bài trắc nghiệm: trắc nghiệm hai lần, trắc nghiệm
tương đương, phương pháp phân đôi bài trắc nghiệm, dùng công thức Kuder- Richardson.
Trong các phương pháp trên, mỗi phương pháp đều có những ưu điểm và hạn chế, nhưng
phương pháp xác định độ tin cậy áp dụng công thức của Kuder- Richardson vẫn được thông dụng cho
đến ngày nay.
Công thức căn bản của Kuder- Richardson để xác định độ tin cậy là [34]
:
r =
)
σ

dữ liệu. Các câu hỏi được phân thành các mức độ khác nhau. Đồng thời chọn ngẫu nhiê
n theo yêu cầu
để tạo ra các đề thi để thi trực tiếp trên máy mạng hoặc in đề thi ra giấy (kèm answers key). Khả năng
xáo trộn câu hỏi và thứ tự đáp án: a, b, c, d... rất tốt. Nội dung câu hỏi trắc nghiệm cho phép chèn vào
hình ảnh, âm thanh, phim, mục tự luận; tiện dụng cho mọi lĩnh vực: toán, hóa học, ngoại ngữ, tin
học,...
Chương trình có đặc điểm như sau:
- Giao diện như một phần mềm soạn thảo văn bản.
- Giúp soạn t
hảo kho câu hỏi trắc nghiệm và lưu trữ chúng vào các tập tin.
- Làm đề thi trắc nghiệm từ các tập tin câu hỏi trắc nghiệm một cách tự động.
- Kết xuất đề thi trắc nghiệm dưới nhiều dạng khác nhau: lưu trữ thành tập tin đề thi, sử dụng cho
hình thức làm bài trên máy; đưa lên Web Server, sử dụng cho hình thức làm bài trên máy qua
mạng internet; in đề th
i ra giấy, sử dụng cho hình thức làm bài trên giấy; in bảng đáp án để
chấm thủ công hoặc nạp vào chương trình MarkScaner chấm tự động; in bảng trả lời (answer-
sheet) cho thí sinh…
Hạn chế của chương trình này là trong trình diện soạn thảo tập tin dữ liệu, câu hỏi được mặc
định trước, việc soạn thảo hệ thống câu hỏi được thực hiện trực tiếp trên chương trình. Nếu có hệ thống
câu hỏi được soạn t
hảo trong các trình soạn thảo văn bản khác như Ms.Word, WordPad thì việc chuyển
hệ thống câu hỏi từ này file Word sang sẽ mất nhiều thời gian, do phải chuyển từng câu, mỗi câu phải
chuyển trình tự phần gốc và từng đáp án.
b. Chương trình của ông Phạm Văn Trung
Tiện ích của chương trình:
- Trắc nghiệm trực tiếp trên máy tính: đảo ngẫu nhiên ngân hàng câu hỏi, sử dụng cho các môn
kể cả các môn khoa học, có thể sử dụng m
áy tính trong quá trình trắc nghiệm.

- Soạn thảo ngân hàng câu hỏi: hỗ trợ soạn ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm để thi trắc nghiệm, hỗ

Commander hay Notepad trong windows để nhập các bài làm của học sinh theo chỉ dẫn của chương
trình.
Hạn chế của phần mềm này là chỉ cung cấp kết quả đúng khi bài trắc nghiệm được soạn đồng
nhất một loại câu hỏi (ví dụ chỉ một loại là 2 lựa chọn, hoặc 3, hoặc 4, hoặc 5 lựa chọn), chứ không pha
tạp nhiều loại câu trắc nghiệm với
các hình thức khác như ghép hợp hay điền thế.

Kết luận chương 1

Trong chương này chúng tôi đã trình bày những vấn đề thuộc về cơ sở lí luận và thực tiễn của
đề tài luận văn.
Trước hết, chúng tôi trình bày lí luận về kiểm tra, đánh giá trong dạy học, trong đó chú trọng
đến khái niệm, chức năng, các yêu cầu cơ bản và các hình thức kiểm tra, đánh giá.
Chúng tôi nghiên cứu, tìm hiểu thực tiễn về kiểm tra, đánh giá ở một số trường THPT và nghiên
cứu định hướng đổi mới hình t
hức, phương pháp kiểm tra, đánh giá hiện nay, đó là đưa hình thức
TNKQ vào kiểm tra, đánh giá ở một số môn học ở trường THPT, trong đó có môn hoá học.
Chúng tôi nghiên cứu, trình bày về trắc nghiệm và TNKQ để thấy được những ưu điểm của
TNKQ so với TNTL và việc sử dụng hình thức TNKQ là phù hợp với định hướng đổi mới nội dung,
phương pháp kiểm tra, đánh giá. Tiếp tục, nghiê
n cứu, trình bày về các hình thức câu hỏi TNKQ, kĩ
thuật soạn thảo bài TNKQ và những điều cần lưu ý khi soạn thảo câu hỏi TNKQ nhiều lựa chọn.
Phần cuối chương 1, chúng tôi trình bày về phương pháp phân tích câu, bài TNKQ, đây là cơ sở
để đánh giá độ tin cậy của câu, bài TNKQ. Giới thiệu một số phần mềm lưu trữ tạo đề TNKQ, phần
mềm đánh giá câu, bài TNKQ.
Tất cả những vấn đề trên là cơ sở lí luận và thực tiễn giúp c
húng tôi quyết định chọn phương án
xây dựng hệ thống câu hỏi TNKQ nhiều lựa chọn vận dụng trong kiểm tra, đánh giá, trước hết ở phần
hợp chất hữu cơ đa chức, tạp chức và polime, ở trường THPT ban cơ bản.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status