Đề án xây dựng vùng nuôi trồng thủy sản tập trung an toán dịch bệnh và vệ sinh thực phẩm - Pdf 14

UỶ BAN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH QUẢNG NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

ĐỀ ÁN
XÂY DỰNG VÙNG NUÔI TRỒNG THỦY SẢN TẬP TRUNG
AN TOÀN DỊCH BỆNH VÀ VỆ SINH THỰC PHẨM
(Ban hành kèm theo Quyết định số: 1652 /QĐ-UBND ngày 21/5/2010 của
UBND tỉnh Quảng Nam)

PHẦN I
SỰ CẦN THIẾT PHẢI XÂY DỰNG ĐỀ ÁN
1. Mở đầu:
Trong những năm qua Ngành thuỷ sản Việt Nam đã có những bước phát
triển mạnh mẽ và đưa Việt Nam trở thành 1 trong 10 nước xuất khẩu thuỷ sản
hàng đầu trên thế giới với kim ngạch xuất khẩu trên 4 tỷ USD/năm. Tuy nhiên,
sản xuất và xuất khẩu càng tăng thì thách thức càng lớn vì đối với thực phẩm nói
chung, thuỷ sản nói riêng yêu cầu rất quan trọng là sản phẩm phải đảm bảo an
toàn cho sức khoẻ người tiêu dùng, cụ thể là trong thực phẩm thuỷ sản không có:
- Mối nguy vật lý: bao gồm những vật cứng, sắc, nhọn, có thể gây thương
tích cho hệ tiêu hoá của người tiêu dùng.
- Mối nguy sinh học: bao gồm các loại ký sinh trùng, virút, các loại vi
khuẩn gây bệnh.
- Mối nguy hoá học: là các hoá chất độc hại trong thực phẩm có thể gây
hại đến sức khoẻ người tiêu dùng.
Trong các loại mối nguy trên, mối nguy hoá học là nguy hiểm nhất, bởi vì
nguy cơ gây hại đến tính mạng người tiêu dùng cao, mặt khác cũng không có
biện pháp hiệu quả để loại trừ chúng trong quá trình chế biến. Trong đó thuỷ sản
nuôi luôn là đối tượng có độ rủi ro cao vì có khả năng bị nhiễm các hoá chất độc
hại trong quá trình nuôi lớn hơn nhiều so với thủy sản tự nhiên.
Cùng với nhu cầu sử dụng thủy sản ngày càng tăng và sự phát triển của
khoa học công nghệ cũng như việc nâng cao nhận thức của người tiêu dùng về

- Quy phạm thực hành quản lý tốt hơn (BMP- Better Management
Practices) là quy phạm thực hành ứng dụng trong NTTS tại các cơ sở nuôi có cơ
sở hạ tầng còn hạn chế, nhỏ lẻ nhằm đảm bảo an toàn thực phẩm đồng thời giảm
thiểu dịch bệnh và ô nhiễm môi trường.
- Quy phạm thực hành NTTS tốt (Good Aquaculture Practices, viết tắt là
GAqP) là quy phạm thực hành ứng dụng trong nuôi trồng thủy sản nhằm đảm
bảo an toàn thực phẩm đồng thời giảm thiểu dịch bệnh và ô nhiễm môi trường.
- Quy phạm thực hành NTTS bền vững, còn gọi là NTTS có trách nhiệm
(Code of Conduct for Responsible Aquaculture, viết tắc là CoC) là quy phạm
thực hành ứng dụng trong NTTS nhằm đảm bảo an toàn thực phẩm; giảm thiểu
dịch bệnh, không gây ô nhiễm môi trường, không ảnh hưởng đến hệ sinh thái và
đảm bảo trách nhiệm xã hội.
- HACCP (Hazard Analysis and Critical Control Point) - Phân tích mối
nguy và kiểm soát điểm tới hạn, là hệ thống các biện pháp mà cơ sở áp dụng
nhằm đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm và chất lượng sản phẩm, được xây
dựng trên quan điểm phân tích và kiểm soát mối nguy trước khi chúng xảy ra.
- Nuôi thủy sản an toàn: là quá trình nuôi thủy sản có áp dụng các biện
pháp kỹ thuật phù hợp nhằm đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm của sản phẩm
nuôi, an toàn về dịch bệnh cho động vật nuôi, thân thiện với môi trường và đảm
bảo có hiệu quả kinh tế cho người nuôi.
2
- Cơ sở nuôi thủy sản an toàn: là cơ sở nuôi thủy sản áp dụng một trong
các bộ tiêu chuẩn quốc tế như BMP, GAqP, CoC hoặc tiêu chuẩn nuôi an toàn
khác và được tổ chức ban hành tiêu chuẩn tương ứng cấp giấy chứng nhận cơ sở
nuôi đạt tiêu chuẩn.
- Nuôi tôm thâm canh: là hình thức nuôi tôm với cơ sở hạ tầng, trang thiết
bị và qui trình kỹ thuật nuôi phù hợp, có khả năng đạt năng suất trên 3 tấn/ha/vụ.
- Nuôi tôm bán thâm canh là hình thức nuôi với cơ sở hạ tầng và qui trình
kỹ thuật nuôi phù hợp, có khả năng đạt năng suất từ trên 1,5 tấn đến 3 tấn/ha/vụ.
- Nuôi tôm quảng canh cải tiến: là hình thức nuôi với cơ sở hạ tầng và qui

nuôi tôm của Bộ nông nghiệp và PTNT, Cục Nuôi trồng thủy sản và Cục Quản
lý chất lượng nông lâm sản và thủy sản;
- Các tiêu chuẩn ngành thủy sản về cơ sở chế biến, thu mua sản phẩm;
- Công văn số 02/BC-UBND ngày 07/01/2009 của UBND tỉnh Quảng
Nam về Ban hành Chương trình công tác năm 2009 của UBND tỉnh.
3
II. CƠ SỞ VỀ THỰC TRẠNG NUÔI TRỒNG THỦY SẢN TRÊN ĐỊA
BÀN TỈNH
1. Kết quả nuôi trồng thủy sản trong những năm qua
Chỉ tiêu ĐVT
Năm
2003
Năm
2004
Năm
2005
Năm
2006
Năm
2007
Năm
2008
Năm
2009
Tổng diện tích NTTS Ha 5.80
6
6.774 7.306 7.479 7.121 7.395 7.480
Tổng sản lượng Tấn 3.20
0
5.746 9.167 9.550 13.585 20.000 21.500

lợ), tuy nhiên sản lượng tăng hàng năm, đặc biệt trong 3 năm (2006-2008) do các
doanh nghiệp, hộ gia đình đã chuyển sang nuôi tôm thẻ chân trắng, cá tra, đây là
các đối tượng nuôi cho năng suất rất cao.
Cụ thể, trên từng lĩnh vực như sau:
1.1. Về nuôi thủy sản nước lợ
* NTTS nước lợ trong ao đất:
4
Đối tượng nuôi gồm tôm sú, tôm thẻ chân trắng, cua xanh, rô phi, cá
chẽm, trong đó nuôi tôm sú, tôm thẻ chiếm diện tích lớn. Năm 2003, diện tích
nuôi nước lợ là 2.326 ha, sản lượng thu hoạch 1.800 tấn; năm 2006, tổng diện
tích nuôi là 2.598 ha, với sản lượng thu hoạch là 3.550 tấn, trong đó diện tích
nuôi tôm sú là 2.337 ha (chiếm trên 90% tổng diện tích nuôi thủy sản nước lợ),
sản lượng 3.405,7 tấn (chiếm khoảng 96% sản lượng).
Năm 2008, do năng suất cao, thị trường tiêu thụ tốt, hiệu quả kinh tế cao
từ nuôi tôm thẻ chân trắng và việc nuôi tôm sú ngày còn gặp nhiều khó khăn do
giá bán thấp, bệnh tôm nuôi thường xuyên xảy ra, người nuôi bị thua lỗ nhiều
năm liền, nên nhiều nông hộ đã chuyển sang nuôi tôm thẻ chân trắng từ diện tích
ao nuôi tôm sú; diện tích nuôi tôm thẻ năm 2007 là 200 ha với sản lượng trên
1.000 tấn; đến năm 2008, diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng là 880 ha và sản
lượng đạt được 7.500 tấn, chiếm trên 88% tổng sản lượng thủy sản nước lợ. Năm
2009, diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng là 1.510 ha, sản lượng đạt 12.440 tấn.
* Nuôi tôm trên cát:
Được thực hiện từ năm 2001 với con tôm sú, qui mô khoảng 2 ha nhưng
không có hiệu quả kinh tế; đến năm 2004, các ao nuôi này được chuyển sang
nuôi tôm thẻ chân trắng và đạt được hiệu quả rõ rệt. Năm 2004, diện tích nuôi
trên cát chỉ có 5 ha, đến đầu năm 2009 diện tích này đã tăng lên 30 ha, với năng
suất bình quân đạt từ 12-15 tấn/ha/vụ (mỗi năm nuôi từ 2-3 vụ). Nuôi tôm trên
cát đã đem lại hiệu quả cao, thời gian nuôi ngắn (trung bình 3 tháng/vụ), tôm
nuôi ít bệnh (nếu chọn đàn giống có chất lượng); trung bình mỗi ha nuôi cho lãi
ròng từ 120-150 triệu đồng/ha/vụ. Tuy nhiên, việc nuôi đối tượng này đòi hỏi

2008
Năm
2009
I. Tổng số cơ sở sản xuất
giống thủy sản, trong đó:
Cơ sở 277 228 230 165 90
Số cơ sở tôm sú giống Trại 264 264 264 213 213 150 45
Số cơ sở lưu giữ tôm thẻ
chân trắng
31
Số cơ sở sản xuất giống
TS nước ngọt
cơ sở 13 13 13 15 17 14 14
Số cơ sở sản xuất giống cá
tra, rô phi đơn tính
cơ sở 2 2 2 1 1
II. Sản lượng, trong đó: Triệu
con
840 865
1010
970 1174 471,5 1.974
- Sản lượng tôm sú giống
P.15
Tr.con 825 850 1000 950 1150 450 450
- Sản lượng tôm thẻ Tr.
con
1.500
- Sản lượng cá tra
- Sản lượng cá rô phi tr.con 3 5 6 1,5 2
- Các loại cá khác tr.con 15 15 10 15 18 20 22

* Đối với các đối tượng nuôi nước lợ:
Trước tình hình dịch bệnh trên tôm nuôi từ những năm 2003 trở về trước,
Sở Thủy sản (nay là Sở Nông nghiệp và PTNT) đã phối hợp với trường Đại học
thủy sản Nha trang nghiên cứu và tham mưu UBND tỉnh ban hành lịch mùa vụ
nuôi tôm nước lợ năm 2003 và những năm đến trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.
Nhờ đó, từ sau những năm 2003, dịch bệnh và thiệt hại trên tôm nuôi giảm rõ rệt.
Tuy vậy, hàng năm vẫn còn nhiều nông hộ thả tôm nuôi trước lịch thời vụ quy
hoạch đã ảnh hưởng đến công tác quản lý, phòng ngừa dịch bệnh chung.
Tình hình bệnh tôm nuôi qua 7 năm (2003 - 2009):
Các giá trị ĐVT
Năm
2003
Năm
2004
Năm
2005
Năm
2006
Năm
2007
Năm
2008
Năm
2009
Diện tích tôm
thả nuôi
ha
2326 2386 2500 2337 2561 1998 1.690
Diện tích tôm
nuôi bị bệnh

4. Tình hình thành lập và hình thành các tổ nuôi tôm nước lợ theo
hướng quản lý cộng đồng tại Quảng Nam
Để xây dựng các vùng nuôi an toàn dịch bệnh, bên cạnh việc nâng cấp cơ
sở hạ tầng thì cần sắp xếp lại các vùng nuôi, hình thành các tổ tự quản, các nhóm
cộng đồng, tạo sự liên kết trong sản xuất nhằm đem lại hiệu quả cao trong quá
trình nuôi, nhất là ở các vùng nuôi thủy sản tập trung. Việc thành lập các tổ nuôi
tôm nước lợ theo hướng quản lý cộng đồng cũng nhằm mục đích xây dựng
thương hiệu vùng nuôi sinh thái, vùng nuôi sạch để góp phần cùng nhau tạo sức
mạnh trong việc tiêu thụ sản phẩm có tính cạnh tranh cao. Đồng thời là cơ sở để
xây dựng các vùng nuôi an toàn dịch bệnh và an toàn môi trường.
Từ năm 2006 đến nay, trên địa bàn tỉnh đã xây dựng được 48 tổ cộng
đồng trong lĩnh vực nuôi tôm nước lợ với 1.200 hộ tham gia. Các tổ này đã phát
huy hiệu quả rõ rệt trong việc tổ chức sản xuất, góp phần nâng cao năng suất,
chất lượng tôm nuôi, cụ thể như: Tổ cộng đồng vùng Hóc Rộ - Cẩm Thanh (Hội
An), Bản Long - Tam Tiến (Núi Thành), các tổ ở Duy Vinh, Duy Thành (huyện
Duy Xuyên),...và thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về vệ sinh an toàn
thực phẩm (viết tắt là VSATTP) năm 2009 của Bộ Nông nghiệp và PTNT, Chi
cục NTTS đã xây dựng thí điểm 02 vùng nuôi tôm áp dụng GaqP, với diện tích
30 ha. Trong đó có 04 tổ nuôi tôm cộng đồng tại Tam Tiến và Duy Vinh được
tham gia. Các tổ tham gia được tư vấn chọn con giống, giám sát môi trường, dịch
bệnh, hướng dẫn các biện pháp kỹ thuật nuôi tôm theo một số tiêu chí GaqP. Kết
quả bước đầu cho thấy, tôm nuôi phát triển tốt, ít xảy ra bệnh và đảm bảo
VSATTP theo các tiêu chí đã đề ra.
Khi tham gia vào tổ nuôi tôm cộng đồng, người dân phối hợp với nhau
trong việc kiểm tra, xét nghiệm con giống, cải tạo ao, hỗ trợ kỹ thuật trong sản
xuất liên kết nhau trong việc mua nguyên liệu đầu vào và bán sản phẩm... Ngoài
ra, các hộ trong tổ có tính giác ngộ rất cao, khi có trường hợp tôm nuôi bị bệnh,
chủ hộ đóng cống, giam nước và báo cho các hộ nuôi tôm lân cận để phòng ngừa
đồng thời báo cho cơ quan chức năng để xử lý. Ngoài ra, các tổ còn được Nhà
nước hỗ trợ một số thiết bị đo môi trường, hướng dẫn các biện pháp kỹ thuật


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status