Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới lượng khách du
lịch đến Việt Nam ngày càng gia tăng. Theo con số thống kê của Tổng cục Du
lịch trong hai tháng đầu năm 2008 lượng khách đến Việt nam ước đạt 861.000
lượt người, tăng 15 % so với cùng kỳ năm 2007. Điều này cho thấy Việt Nam
ngày càng thu hút khách du lịch trong và ngoài nước đến tham quan du lịch. Nhu
cầu đi du lịch kết hợp mục đích công việc ngày càng phổ biến, tuy nhiên thì cơ
sở lưu trú của chúng ta lại vô cùng thiếu thốn, đặc biệt là những cơ sở có tiêu
chuẩn, chất lượng cao phục vụ cho khách công vụ.
Nhà khách dân tộc là một cơ sở lưu trú với tiêu chuẩn hạng 2* có vị trí
thuận tiện cho khách, đối tượng khách chủ yếu của Nhà khách là khách công vụ
và khách chính trị trong nước. Tuy nhiên sau một thời gian thực tập ở Nhà khách
thì em nhận thấy cơ sở vật chất kỹ thuật và chất lượng phục vụ sẽ thực sự thu hút
nhiều khách công vụ hơn nữa nếu được đầu tư và nâng cấp hơn. Từ suy nghĩ đó
em đã lựa chọn đề tài: Một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng thu hút
khách du lịch công vụ trong nước tại Nhà khách dân tộc. Em hy vọng rằng
những giải pháp này sẽ phần nào giúp ích được Nhà khách trong quá trình cải
tạo, nâng cấp và đào tạo đội ngũ cán bộ công nhân viên sao cho phù hợp với mức
độ cạnh tranh như hiện nay.
Để hoàn thành được bài viết này em xin chân thành cảm ơn Thầy Trương Tử
Nhân. Thầy đã giúp em rất nhiều trong quá trình làm bài, xử lý tài liệu và thu
thập thông tin. Tuy nhiên do thời gian có hạn, quá trình tìm kiếm và xử lý thông
tin hạn chế, bài viết của em còn nhiều thiếu sót, kính mong thầy cô và các bạn bổ
sung.
Cao Thị Hiền Du lịch 46B
1
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
2. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu.
Em xin cam đoan là bài viết này do em tự viết, không sao chép ở tài liệu
nào. Nếu có vấn đề gì thì em xin tự chịu trách nhiệm về bài viết của mình.
Sinh viên
Cao Thị Hiền
Cao Thị Hiền Du lịch 46B
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Chương 1. Khái quát về hoạt động kinh doanh khách sạn
1.1. Khách sạn và hoạt động kinh doanh khách sạn.
1.1.1. Khái niệm cơ bản về khách sạn.
1.1.1.1 Khách sạn và kinh doanh khách sạn
Thuật ngữ “Hotel” - khách sạn có nguốn gốc từ tiếng Pháp. Vào thời trung
cổ nó được dùng để chỉ những ngôi nhà sang trọng của các lãnh chúa. Đến thế kỷ
XX thì sự phát triển của khách sạn thay đổi cả về số lượng và chất lượng. Ngoài
ra sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động du lịch từ sau đại chiến thế giới lần thứ
hai càng tạo ra sự khác biệt trong hoạt động kinh doanh khách sạn, từ đó thì khái
niệm khách sạn đã dựa trên điều kiện và mức độ phát triển của hoạt động kinh
doanh khách sạn.
Theo nhà nghiên cứu về du lịch và khách sạn Morcel Gotie định nghĩa:
“ Khách sạn là nơi lưu trú tạm thời của du khách. Cùng với các buồng
ngủ còn có các nhà hàng với nhiều chủng loại khác nhau”
Sự nghiên cứu sơ lược về lịch sử phát triển của khách sạn và khái niệm về
khách sạn đã cho thấy các định nghĩa về khách sạn đều mang tính kế thừa. Điều
này phản ánh sự phát triển của hoạt động kinh doanh khách sạn ngày càng mở
rộng, do đó việc nghiên cứu về khách sạn cũng mang tính hệ thống và phù hợp
với mức độ phát triển của hoạt động khách sạn ở từng vùng, từng quốc gia.
Trong Thông tư số 01/2002/TT – TCDL ngày 27/4/2001 của Tổng cục Du
lịch về hướng dẫn thực hiện Nghị định số 39/2000/NĐ –CP của Chính phủ về
cơ sở lưu trú du lịch đã ghi rõ:
Khách sạn là công trình kiến trúc được xây dựng độc lập, có quy mô từ 10
Cao Thị Hiền Du lịch 46B
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
khách sạn. Nhu cầu của khách hàng ngày càng cao, nhu cầu cho hoạt động vui
chơi giải trí, cho việc chữa bệnh và cho sự giao lưu mở rộng mối quan hệ. Do đó
ngoài hai dịch vụ chính là dịch vụ lưu trú và dịch vụ ăn uống thì các hoạt động
kinh doanh khách sạn cũng tạo điều kiện cho các dịch vụ bổ sung kèm theo như:
dịch vụ giải trí, thể thao, dịch vụ hội nghị hội thảo, dịch vụ chăm sóc sắc đẹp,
dịch vụ giặt là…
Kinh doanh khách sạn là hoạt động trung gian thực hiện dịch vụ tiêu thụ sản
phẩm của các ngành khác trong nền kinh tế quốc dân.. Nó không chỉ cung cấp
những dịch vụ tự mình làm ra mà còn bán cả các sản phẩm thuộc các ngành, lĩnh
vực khác của nền kinh tế: nông nghiệp, công nghiệp chế biến, công nghiệp nhẹ,
dịch vụ ngân hàng, dịch vụ bưu chính viễn thông, dịch vụ vận chuyển…
Trong kinh doanh khách sạn thì hai quá trình: sản xuất và tiêu dùng các dịch
vụ diễn ra đồng thời. Hay nói cách khác là sản phẩm khách sạn có tính “tươi
sống” cao, đa số các dịch vụ trong kinh doanh khách sạn phải trả tiền trực tiếp,
bên cạnh đó thì có một số dịch vụ không phải trả tiền trực tiếp nhằm tăng mức
độ thoả mãn yêu cầu của khách hàng, làm vui lòng họ và từ đó làm tăng khả
năng thu hút khách và khả năng cạnh tranh của mình trên thị trường. Ví dụ như
dịch vụ cung cấp thông tin, dịch vụ chăm sóc khách hàng…
Ngày nay khái niệm kinh doanh khách sạn đều bao gồm cả hoạt động kinh
doanh các dịch vụ chính và dịch vụ bổ sung. Các dịch vụ bổ sung ngày càng
nhiều về số lượng, đa dạng về hình thức, chủng loại phù hợp với vị trí, thứ hạng
quy mô và thị trường mục tiêu của từng cơ sở kinh doanh lưu trú. Do đó ta có thể
đưa ra định nghĩa chung nhất về khách sạn như sau:
Kinh doanh khách sạn là hoạt động kinh doanh trên cơ sở cung cấp các
dịch vụ lưu trú, ăn uống và các dịch vụ bổ sung cho khách hàng nhằm đáp ứng
Cao Thị Hiền Du lịch 46B
6
ăn uống công cộng có mục đích chủ yếu là phục vụ còn kinh doanh ăn uống
trong du lịch lấy doanh thu làm mục đích chính.
Do đó kinh doanh ăn uống khách sạn có 3 loại hoạt động chính là: hoạt
động chế biến món ăn, hoạt động lưu thông, hoạt động phục vụ. Các hoạt động
này có mối quan hệ mật thiết và phụ thuộc lẫn nhau.
Từ đó có thể định nghĩa kinh doanh ăn uống như sau:
Kinh doanh ăn uống trong du lịch bao gồm các hoạt động chế biến thức
ăn, bán và phục vụ nhu cầu tiêu dùng các thức ăn, đồ uống và cung cấp các
dịch vụ khác nhau nhằm thỏa mãn các nhu cầu về ăn uống và giải trí tại các
nhà hàng ( khách sạn) cho khách nhằm mục đích có lãi.
( Trích Giáo trình Quản trị kinh doanh khách sạn – Trang 19)
Kinh doanh lưu trú: Là một trong hai hoạt động chính của kinh doanh khách
sạn, đem lại nguồn doanh thu lớn cho khách sạn. Kinh doanh lưu trú bao gồm
việc kinh doanh hai dịch vụ chính là dịch vụ lưu trú và dịch vụ bổ sung. Các
dịch vụ này không tồn tại ở dạng vật chất, khách hàng chỉ có thể cảm nhận sau
khi tiêu dùng dịch vụ này. Đối tượng chủ yếu sử dụng dịch vụ này chiếm tỷ
trọng lớn hơn vẫn là khách du lịch.
Kinh doanh lưu trú là hoạt động kinh doanh ngoài lĩnh vực sản xuất vật
chất, cung cấp các dịch vụ cho thuê buồng ngủ và các dịch vụ bổ sung khác
cho khách trong thời gian khách lưu lại tạm thời tại các điểm du lịch nhằm
mục đích có lãi.
( Trích Giáo trình Quản trị kinh doanh khách sạn – Trang 16)
Trong quá trình sản xuất và bán các dịch vụ thì cơ sở kinh doanh không tạo
ra giá trị mới và sản phẩm mới, sản phẩm có như thế nào thì sẽ cung cấp cho
Cao Thị Hiền Du lịch 46B
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
khách như vậy. Hoạt động của các cơ sở thông qua việc sử dụng cơ sở vật chất
kỹ thuật của khách sạn và hoạt động phục vụ của nhân viên. Sự tham gia đóng
góp của người lao động trong quá trình khách tiêu dùng sản phẩm là vô cùng
lao động trong khách sạn. Đặc biệt sự sang trọng của các trang thiết bị lắp đặt
bên trong khách sạn chính là nguyên nhân đẩy chi phí đầu tư ban đầu của công
trình khách sạn lên cao. Do đó kinh doanh khách sạn đòi hỏi dung lượng vốn đầu
tư lớn và phải có sự tính toán chi tiết trước khi bước vào hoạt động kinh doanh
khách sạn.
1.1.2.3 Kinh doanh khách sạn đòi hỏi dung lượng lao động trực tiếp tương đối lớn.
Thời gian phục vụ trong khách sạn đi liền với thời gian tiêu dùng dịch vụ
của khách , kéo dài 24/24 h mỗi ngày. Ngoài ra thì hoạt động phục vụ trong
khách sạn cũng không thể cơ giới hoá, máy móc không thể thay thế người phục
vụ trong khách sạn, lao động trong khách sạn còn mang tính chuyên môn hoá
cao. Do vậy mà cần phải sử dụng một lượng lớn lao động trực tiếp trong khách
sạn. Đặc biệt hoạt động khách sạn đi kèm với hoạt động của ngành du lịch do đó
nó chịu ảnh hưởng của tính mùa vụ tương đối cao. Vào mùa du lịch thì kinh
doanh thuận lợi đòi hỏi chi phí về lao động cũng tăng lên, kinh doanh khách sạn
không có ngày lễ hay ngày nghỉ như kinh doanh thông thường, ngược lại chính
vào những dịp nghỉ lễ thì hoạt động lại càng phát triển.
Chính từ những yếu tố trên mà nhà quản lý cần phải cân nhắc và phân bổ
lượng lao động hợp lý phù hợp trong từng mùa vụ.
1.1.2.3 Kinh doanh khách sạn mang tính quy luật.
Chúng ta đã đề cập kinh doanh khách sạn phụ thuộc vào tài nguyên du
Cao Thị Hiền Du lịch 46B
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
lịch tại các điểm du lịch. Đặc biệt là tài nguyên thiên nhiên thì luôn thay đổi theo
quy luật với những biến động lặp đi lặp lại của thởi tiết khí hậu trong năm. Ngoài
chịu chi phối của quy luật tự nhiên, kinh doanh khách sạn còn chịu chi phối nặng
của quy luật kinh tế - xã hội, quy luật tâm lý con người…Mỗi quy luật đều có thể
gây ra những tác động tiêu cực và tích cực cho hoạt động kinh doanh khách sạn.
Do đó vấn đề đặt ra là phải nghiên cứu rõ các quy luật và sự tác động
của chúng đến kinh doanh khách sạn, từ đó chủ động tìm kiếm các biện pháp
năng thanh toán cao, họ sử dụng tất cả các dịch vụ của khách sạn, dịch vụ thuê
phòng hội nghị, hội thảo là cần thiết đối với đối tượng khách này. Ngoài ra khi
phục vụ khách công vụ cũng cần lưu ý đến nhiều các dịch vụ bổ sung bởi vì sau
những công việc căng thẳng họ muốn tìm đến những cảm giác được thư giãn giải
trí như: dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, karaoke, massage, xông hơi...
- Khách đi với mục đích thân
Chuyến đi tham quan du lịch kết hợp với việc thăm người thân, gia đình bạn
bè. Thường thì đối tượng khách này ở nơi xa điểm du lịch, tuy vậy thì họ ít sử
dụng dịch vụ lưu trú. Họ thường ở nhà người thân, bạn bè, các dịch vụ họ sử
dụng thường là các dịch vụ đặc trưng, mới lạ ở các điểm du lịch để thoả mãn trí
tò mò, và sự hiểu biết.
- Khách đi với mục đích khác: tham dự các sự kiện, đi chữa bệnh. Thường thì
đối tượng khách này họ không sử dụng nhiều dịch vụ tại điểm du lịch, điều họ
quan tâm chủ yếu là vẻ đẹp tại điểm du lịch và phong tục, tập quán ở nơi đến.
1.1.3.3 Căn cứ vào tổ chức tiêu dùng của khách
Cao Thị Hiền Du lịch 46B
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Khách tiêu dùng sản phẩm của khách sạn thông qua sự giúp đỡ của các tổ
chức trung gian như các công ty lữ hành, khách phải thanh toán một phần hoặc
toàn phần cho công ty lữ hành trước khi thực hiện chuyến đi.
- Khách tự tổ chức tỉêu dùng sản phẩm của khách sạn.Những khách này
thường tự tìm hiểu về khách sạn, tự đăng ký buồng của khách sạn trước khi tới
khách sạn hoặc có thể là khách vãng lai tình cờ vào thuê buồng của khách sạn.
Họ có thể là khách lẻ hoặc khách đi theo nhóm.
1.2. Khách du lịch công vụ và đặc điểm tiêu dùng của khách du lịch công vụ
1.2.1. Khái niệm khách du lịch công vụ
1.2.1.1. Khách du lịch
Trong nền kinh tế thị trường xét dưới góc độ là người sản xuất, thị trường là
toàn bộ các khách hàng tiềm ẩn cùng có một nhu cầu mong muốn cụ thể, sẵn
công vụ như sau: Khách du lịch công vụ là khách du lịch mà mục đích chính
của chuyến đi là tham gia một hoạt động hoặc sự kiện nào đó kiên quan đến
công việc của đối tượng khách này.
Tuy nhiên ở Việt Nam thì chưa có định nghĩa thống nhất về đối tượng
khách này, theo giáo trình kinh tế du lịch ( Trường Đại học Kinh tế quốc dân,
Khoa Du lịch khách sạn) cho biết: Du lịch công vụ - mục đích chính của hình
thức du lịch này là nhằm thực hiện nhiệm vụ công tác hoặc nghề nghiệp nào
đó. Với mục đích này, khách đi tham dự các cuộc hội nghị, hội thảo, kỷ niệm các
ngày lễ lớn, các cuộc gặp gỡ, các cuộc triển lãm hàng hoá, hội chợ…
Cao Thị Hiền Du lịch 46B
14
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Trong sơ đồ thống kê, khách công vụ được xếp vào khách du lịch gồm
khách đi vì mục đích họp mặt, hội nghị, công vụ, khuyến thưởng và mục đích
khác…Bên cạnh đó còn một đối tượng khách khác là khách thương gia. Đó là
những người đi tìm hiểu thị trường, nghiên cứu thị trường, nghiên cứu các dự án
đầu tư và ký kết hợp đồng.
Ngoài ra theo “ Giải thích thuật ngữ Du lịch Khách sạn” trường ĐHKTQD
đưa ra hai định nghĩa:
Khách công vụ: là những người đi du lịch với những mục đích chính liên
quan đến nghề nghiệp của mình.
Khách thương gia: là khách du lịch công vụ với những mục đích của chuyến
đi là nghiên cứu thị trường, tìm hiểu cơ hội đầu tư, ký kết hợp đồng kinh tế.
Tại một số khách sạn việc phân chia khách công vụ thành 2 đối tượng khách
trên dựa vào sự khác nhau về giấy đi đường. Khách công vụ được cơ quan,
doanh nghiệp cử đi vì công việc, họ có giấy đi đường kèm theo. Mọi dịch vụ
khách sử dụng trong khách sạn cho công việc đều được công ty thanh toán.
Ngoài ra còn khách đến Hà Nội tìm kiếm cơ hội làm ăn, ký kết hợp đồng…được
gọi là khách thương gia, họ tự thanh toán tất cả các khoản chi phí đã sử dụng.
Đây là đối tượng mặc dù chưa phát triển mạnh ở Việt Nam nhưng sẽ là một thị
lượng cao.
Ngoài ra thì khả năng thanh toán cao nên nhu cầu sử dụng các dịch vụ tại
phòng cũng tương đối lớn như dịch vụ masage tại phòng, dịch vụ thẩm mỹ, dịch
vụ chăm sóc sức khoẻ…
+ Khách có khả năng thanh toán trung bình:
Cao Thị Hiền Du lịch 46B
16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Đối tượng khách này cũng rất thực tế và sành điểu trong việc tiêu dùng các
dịch vụ trong khách sạn. Họ sẵn sàng chi trả cho các dịch vụ mà họ cảm thấy cần
thiết nhưng trong chi tiêu có sự cân nhắc. Họ cũng thường sử dụng những phòng
lớn có tương đối đầy đủ các trang thiết bị nhưng không nhất thiết phải là hiện đại
nhất, mà chỉ cần đáp ứng đủ nhu cầu của bản thân, họ chỉ chi trả những dịch vụ
mà họ cảm thấy là cần thiết và có chất lượng tương ứng với chi phí. Điều này
khác với khách có khả năng thanh toán cao, có thể chi trả cho những dịch vụ mà
không cần tìm hiểu trước chất lượng dịch vụ, và chỉ cần họ cảm thấy thích và
thoả mãn.
+ Khách có khả năng thanh toán thấp:
Vì khả năng tài chính của đối tượng khách này là hạn chế nên du khách có
khả năng chi tiêu thấp thiên về sử dụng những sản phẩm, dịch vụ có chất lượng
vừa phải, giá cả hợp lý và ít chú ý về những dịch vụ cao cấp. Thường thì họ chỉ
sử dụng các dịch vụ đảm bảo cho nhu cầu thiết yếu của họ như: dịch vụ nghỉ
ngơi và ăn uống. Nói như vậy không có nghĩa là những trang thiết bị cần thiết
trong phòng đối với những khách du lịch công vụ họ ít sử dụng mà ngược lại
những trang thiết bị này là cần thiết đối với tất cả những du khách đi du lịch
nhằm mục đích kinh doanh.
- Theo quốc tịch:
Mỗi đất nước có những nét văn hoá, phong tục tập quán tâm lý và khẩu vị
ăn uống khác nhau. Do đó việc phân chia khách công vụ theo quốc tịch sẽ giúp
nhà quản lý rất nhiều để biết chính xác về nhu cầu sử dụng các loại dịch vụ của
vị trí chắc chắn trong xã hội, có thu nhập và gia đình ổn định, nhu cầu đi du lịch
Cao Thị Hiền Du lịch 46B
18
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
của họ thiên về mục đích đi thư giãn, nghỉ ngơi, giải trí…Họ là những người đã
từng trải và có rất nhiều kinh nghiệm nên khó tính trong việc tiêu dùng dịch vụ,
yêu cầu đòi hỏi khắt khe hơn 2 nhóm khách ở độ tuổi trên, Họ thích sử dụng các
dịch vụ chăm sóc sức khoẻ và các dịch vụ thư giãn…
- Theo tính chất nghề nghiệp:
Nghề nghiệp của khách có ảnh hưởng trực tiếp đến đặc điểm tiêu dùng của
khách, mỗi nghề nghiệp có tính chất và mức độ công việc khác nhau:
+ Khách là người quản lý: Bao gồm các nhà quản lý cấp trung và cấp cao
của các cơ quan kinh doanh và phi kinh doanh, động cơ chính của chuyến đi là
tìm kiếm cơ hội kinh doanh kết hợp tham quan, nghỉ ngơi, giải trí. Loại khách
này có khả năng thanh toán cao quyết định tiêu dùng nhanh. Cách nói chuyện
của họ mang phong cách của nhà quản lý nên thường mang tính chỉ huy, gia
trưởng, và hay thích được đề cao. Tính phô trương và kiểu cách thể hiện rõ nét ở
loại khách này. Họ có cách ứng xử và hành động theo lý trí, ít khi hành động
theo tình cảm. Do vậy phục vụ đối tượng khách này phải khéo léo, và gây được
ấn tượng với họ.
+ Khách là thương gia: Đây là những người buôn bán, mục đích chính của
chuyến đi là tìm kiếm thị trường và mua hàng kết hợp với việc nghỉ ngơi, giải
trí…Đối tượng khách này ưa hoạt động và khả năng săn lùng thông tin, khảo sát
giá cả nhanh nhạy với thị trường, ngôn ngữ phong phú,ngôn ngữ của họ mang
tính chất buôn bán do vậy có thể có nhiều từ ngữ gọi là tiếng “lóng”. Khách này
có nhiều thủ thuật trong giao tiếp, ứng xử nhanh nhạy với tình huống. Có khả
năng và phương pháp thuyết phục cao. Họ là dân buôn bán cho nên rất tin cậy
vào “số trời” và may rủi…
+ Khách là nghệ sỹ:
Cao Thị Hiền Du lịch 46B
có lợi rất nhiều cho doanh nghiệp, biết đâu ngày mai doanh nghiệp sẽ lên một
trang báo nào đó!
1.2.3 Một số biện pháp thu hút khách du lịch công vụ trong hoạt động kinh
doanh khách sạn.
1.2.3.1 Kinh nghiệm một số nước trên thế giới
Việt Nam có tiềm năng rất lớn về phát triển du lịch MICE- câu nói của
đoàn chuyên gia WTO. Nếu Việt Nam biết cách đầu tư thì có thể sẽ là đối thủ
đáng ngại của Singapore. Hiện nay Singapore là trung tâm thu hút MICE lớn
nhất Đông Nam Á với cảnh quan thiên nhiên ưu đãi, nhiều di sản văn hoá, thiên
nhiên thuộc hàng kỳ quan thế giới, bãi biển đẹp, hệ thống khách sạn và resort
phát triển...Nói như vậy về cảnh quan thiên nhiên, các di sản văn hóa, các bãi
biển. Việt Nam không thua kém Singapore chỉ có điều chưa được đầu tư đúng
cách. Do đó trong hoạt động kinh doanh khách sạn cần có những giải pháp cụ thể
nhằm thu hút khách công vụ trong và ngoài nước.
Theo báo Kinh tế và đô thị, vừa qua đã có sự trao đổi giữa ông Donald
Lim Siang Chai, Thứ trưởng Bộ du lịch Malaysia, ông đã cho biết về kinh
nghiệm thu hút khách du lịch của Malaysia và những bài học kinh nghiệm mà
ngành du lịch Việt Nam nên học hỏi.
Năm 2007 vừa qua du lịch Malaysia đã thu hút được khoảng 20 triệu lượt
khách quốc tế với doanh thu 12,6 tỷ USD.
Ông cho rằng: “Việt Nam và Malaysia đều có điểm chung là đất nước có môi
trường chính trị ổn định, điểm đến an toàn cho mọi du khách. Đây là một lợi thé
để thu hút khách du lịch đến Việt Nam, Việt Nam có điều kiện tự nhiên, danh lam
thắng cảnh tuyệt vời không thua kém gì Thái Lan, Malaysia...ẩm thực Việt
Cao Thị Hiền Du lịch 46B
21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nam cũng rất đa dạng, phong phú, đây là những lợi thế quan trọng cho sự phát
triển du lịch”.
Hoạt động quảng bá du lịch của chúng ta chưa rầm rộ song đã có rất nhiều
Thứ ba,vị trí địa lý của quốc gia trong khu vực. Nếu như quốc gia nằm
trong vành đai kinh tế, nằm ở nút giao thông quan trọng của khu vực thì chắc
chắn sẽ là nơi gặp gỡ của nhiều thương gia, của nhiều nền văn hóa,…do đó cũng
thuận tiện cho việc kinh doanh khách sạn.
Thứ tư, tính mùa vụ trong kinh doanh du lịch. Hoạt động kinh doanh
khách sạn nói riêng và hoạt động kinh doanh trong du lịch nói chung có một đặc
điểm khác biệt với hoạt động kinh doanh khác. Đó là nó phải chịu sự chi phối
của tính mùa vụ. Đây là yếu tố khách quan ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh
của khách sạn, vào mùa du lịch dù muốn hay không thì khách sạn cũng không
thể làm tăng quy mô lên để tăng thêm thu nhập và ngược lại vào mùa vắng khách
thì khách sạn cũng không thể bỏ bớt số phòng để giảm thiểu chi phí.
Nhóm các yếu tố bên trong.
Đây là nhóm yếu tố chủ quan mà doanh nghiệp tạo lên. Nhóm yếu tố thuộc
môi trường vi mô này cũng có ảnh hưởng mạnh mẽ đến hoạt động thu hút khách
tới khách sạn.
Thứ nhất, vị trí của khách sạn, đây là nhân tố chủ quan bởi vì do chính
các nhà kinh doanh có thể khống chế được. Nếu ở thành phố thì càng gần trung
tâm nơi có giao thông liên lạc, hàng hóa dịch vụ thuận lợi thì được coi là hấp
dẫn. Còn tại nơi du lịch thì khách sạn càng gần khu tài nguyên du lịch thì được
đánh giá càng cao. Vị trí của khách sạn có tính hấp dẫn thu hút du khách đến với
Cao Thị Hiền Du lịch 46B
23
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
mình. Du khách thường lựa chọn sao cho thuận lợi cho quá trình sinh hoạt và di
chuyển của họ. Một điều cho thấy rằng ở đâu có cơ sở vật chất kỹ thuật tốt thì
nơi đó có khả năng thu hút khách cao.
Thứ hai, danh tiếng và uy tín của khách sạn.danh tiếng và uy tín
chính là sự quảng cáo có giá trị nhất, có sức hút lớn nhất hơn hẳn các loại quảng
cáo khác. Bởi vì đặc tính của du khách trước khi đi du lịch nơi nào đó thường
quan tâm nơi ăn chốn ở, điểm đến du lịch thông qua các công ty lữ hành, thông
Khách công vụ đỏi hỏi chất lượng dịch vụ cung cấp cao, đối với họ mọi
dịch vụ cung cấp phải hoàn hảo, đảm bảo chất lượng. Do đó yêu cầu đối với dịch
vụ lưu trú: ngoài việc có đầy đủ hệ thống trang thiết bị phục vụ cho công việc
như điện thoại, máy fax, hệ thống internet…thì cơ sở lưu trú cũng cấn phải có
các phòng họp, phòng tổ chức hội nghị hội thảo nhằm phục vụ mục đích chính
của đối tượng khách này. Không những thế khách công vụ là những doanh nhân
vì vậy họ không tiếc khi phải chi tiêu những dịch vụ đáp ứng cho công việc, cho
dù nhiều người họ thích cuộc sống bình dân nhưng trong những cuộc nói chuyện
bàn bạc với đối tác thì họ luôn muốn thể hiện mình vì vậy việc đòi hỏi về các
dịch vụ lại ngày cao hơn.
Đó là về yêu cầu các trang thiết bị, ngoài ra thì chất lượng đội ngũ phục vụ
cũng không kém phần quan trọng. Thường thì đối tượng khách công vụ ở độ tuổi
trung niên là phần đông, họ đã có kinh nghiệm nhiều trong cuộc sống cũng như
trong công việc, họ rất kỹ tính và thường đòi hỏi với mức độ chất lượng cao.
Lựa chọn một khách sạn phù hợp với túi tiền mà họ bỏ ra cũng là một cách để họ
thể hiện đẳng cấp và địa vị của mình.
Cao Thị Hiền Du lịch 46B
25