BÀI TẬP NHÓM MÔN PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG : CÁC CHỈ TIÊU PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NGÀNH KHAI KHOÁNG VIỆT NAM - Pdf 14

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
ĐẠI HỌC KINH TẾ
Tiểu luận
CÁC CHỈ TIÊU PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NGÀNH
KHAI KHOÁNG VIỆT NAM
Thành viên nhóm 1:
Trịnh Phương Ngọc
Lê Thị Minh Hiền
Nguyễn Đức Anh
Đỗ Thị Phương Hoa
Phạm Huyền Trang
Nguyễn Xuân Tú
Nguyễn Thị Mai Anh
Hà Nội, tháng 4 năm 2014
1
MỤC LỤC

2
CHƯƠNG I. CÁC CHỈ TIÊU VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
1.1. Sự cần thiết của các chỉ tiêu Phát triển bền vững
Vấn đề phát triển bền vững được coi là xu thế tất yếu trong tiến trình phát
triển của xã hội loài người. Nhiều khái niệm Phát triển bền vững được đưa ra
như: “Phát triển bền vững là sự đáp ứng các nhu cầu của hiện tại mà không ảnh
hưởng đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai” (Ủy ban Môi
trường và Phát triển Thế giới, 1987) hay “Phát triển bền vững là quá trình phát
triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa ba trụ cột phụ thuộc và củng
cố lẫn nhau: phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường - ở cấp địa
phương, quốc gia, khu vực và toàn cầu” (Hội nghị Johannesburg, 2002)
Hiện nay, mặc dù phát triển bền vững là một vấn đề cấp bách, tuy nhiên do
sự cạnh tranh và sức hút của nền kinh tế thị trường, mỗi ngành, mỗi quốc gia đều
có sự phát triển riêng thiếu tính bền vững trong tương lai. Bên cạnh đó, phát

Đối với mỗi quốc gia, mỗi lĩnh vực khác nhau của một quốc gia, những
thông tin quan trọng được thể hiện thông qua các chỉ số nhằm cung cấp thông
tin về sự bền vững, phục vụ các nhà hoạch định chính sách, giúp hỗ trợ ra quyết
định và giải quyết các mâu thuẫn, xây dựng sự đồng thuận chung nhằm tìm ra
các giải pháp tối ưu cho sự phát triển.
Các mục tiêu của bộ chỉ tiêu PTBV được phân tích cụ thể như sau:
+ Cung cấp thông tin về sự bền vững: các chỉ tiêu thường cung cấp các thông tin
về xu thế, mô tả một trạng thái của một quá trình. Các chỉ tiêu có thể giúp xác
định các thành phần liên quan của sự PTBV, làm tăng cường sự hiểu biết về
trạng thái bền vững. Việc chỉ ra mối quan hệ giữa một vài chỉ tiêu hoặc sự
phát triển theo thời gian của một chỉ tiêu nào đó sẽ giúp cho nhà quản lý có
thể nhìn rõ xu hướng phát triển hiện tại và hiểu thế nào là PTBV trong tương
lai.
+ Hỗ trợ ra quyết định: từ những thông tin mà các chỉ tiêu cung cấp cho người
nhận thông tin, có thể hỗ trợ việc ra quyết định một cách hệ thống, minh bạch,
toàn diện, kịp thời… Các chỉ tiêu giúp đo được sự bền vững và nhờ đó có thể
giúp quản lý được. Ngày nay, các chỉ tiêu đang được sử dụng nhiều hơn cho
việc xác định các mục tiêu và tiêu chuẩn.
+ Xác định và kiểm soát rủi ro: những thông tin các chỉ tiêu cung cấp có thể giúp
các nhà quản lý xác định các rủi ro có thể xảy ra trong tương lai, từ đó hỗ trợ
việc kiểm soát chúng. Khi những khía cạnh liên quan của PTBV được xác định,
các chỉ tiêu được xây dựng và sử dụng nhằm cung cấp thông tin về những rủi
ro của quá trình phát triển.
+ Giải quyết các mâu thuẫn và xây dựng sự đồng thuận: các chỉ tiêu tạo nên một
ngôn ngữ chung để trao đổi và xác định các điểm giống và khác nhau của các
phương án phát triển. Các chỉ tiêu có thể chỉ ra những ưu điểm và nhược điểm
của các phương án, từ đó giúp tìm ra phương án tối ưu.
1.4. Phân loại các chỉ tiêu PTBV
Bộ chỉ tiêu PTBV thường được phân loại theo tính chất và theo lĩnh vực.
Theo tính chất, các chỉ tiêu được phân loại như sau:

bằng
Nghèo đói
1. Phần trăm DS sống dưới mức nghèo khổ
2. Chỉ số Gini về bất cân đối thu nhập
3. Tỷ lệ thất nghiệp
Công bằng về
giới
4. Tỷ lệ lương trung bình của nữ so với nam
Y tế
Dinh dưỡng 5. Tình trạng dinh dưỡng của trẻ em
Tỷ lệ chết
6. Tỷ lệ chết dưới 5 tuổi
7. Kỳ vọng sống của trẻ mới sinh
Điều kiện vệ sinh8. Phần trăm DS có thiết bị vệ sinh phù hợp
Nước sạch 9. DS được sử dụng nước sạch
Tiếp cận dịch vụ
y tế
10. Phần trăm DS tiếp cận được các dịch vụ y tế
ban đầu
11. Tiêm chủng cho trẻ em
12. Tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai
Giáo dục
Cấp giáo dục
13. Phổ cập tiểu học đối với trẻ em
14. Tỷ lệ người trưởng thành đạt mức giáo dục
cấp II
Biết chữ 15. Tỷ lệ biết chữ của người trưởng thành
Nhà ở Điều kiện sống 16. Diện tích nhà ở bình quân đầu người
5
An ninh Tội phạm 17. Số tội phạm trong 100.000 DS

bờ biển
Khu vực bờ biển
30. Mức độ tập trung của tảo trong nước biển
31. Phần trăm DS sống ở khu vực bờ biển
Ngư nghiệp
32. Loài hải sản chính bị bắt hàng năm
Nước
sạch
Số lượng
33. Mức độ cạn kiệt của nguồn nước ngầm và
nước mặt so với tổng nguồn nước
Chất lượng
34. BOD trong khối nước
35. Mức tập trung của Faecal Coliform trong
nước sạch
Đa dạng
sinh học
Hệ sinh thái
36. Diện tích hệ sinh thái chủ yếu được lựa chọn
37. Diện tích được bảo vệ so với tổng diện tích
Loài 38. Sự đa dạng của số loài được lựa chọn
K I N H T Ế
Cơ cấu
kinh tế
Hiện trạng kinh
tế
39. GDP bình quân đầu người
40. Tỷ lệ đầu tư trong GDP
Thương mại 41. Cán cân thương mại hàng hóa và dịch vụ
Tình trạng tài

T H Ể C H Ế
Khung
khổ thể
chế
Quá trình thực
hiện chến lược
PTBV
53. Chiến lược PTBV quốc gia
Hợp tác quốc tế 54. Thực thi các Công ước quốc tế đã ký
Năng lực
thể chế
Tiếp cận thông
tin
55. Số lượng người truy cập Internet/1000 dân
Cơ sở hạ tầng
thông tin liên lạc
56. Đường điện thoại chính/1000 dân
Khoa học và công
nghệ
57. Đầu tư cho nghiên cứu và phát triển tính
theo % của GDP
Phòng chống
thảm họa
58. Thiệt hại về người và của do các thảm họa
thiên nhiên
Từ bộ chỉ tiêu phân theo các lĩnh vực nêu trên, trên cơ sở tham khảo kinh
nghiệm các nước đã tham gia các chương trình thử nghiệm, các cơ quan chính
trong hệ thống của Liên Hiệp Quốc, các chuyên gia quốc tế, Hội đồng Phát triển
bền vững của Liên Hiệp Quốc khuyến khích các quốc gia lựa chọn hoặc bổ sung
thêm các chỉ tiêu mới phù hợp với đất nước mình để tiến hành xây dựng bộ chỉ

khăn cả về nguồn nhân lực và vốn, thường sử dụng công nghệ sơ chế, lạc hậu nên
hệ số thu hồi khoáng sản thấp, dẫn đến lãng phí tài nguyên. Tình trạng khai thác
không theo quy hoạch, không theo thiết kế mặc dù đã có xu hướng giảm nhưng
vẫn còn khá phổ biến.
Thực tiễn hoạt động ngành công nghiệp khai khoáng nước ta đã và đang
bộc lộ nhiều bất cập, thiếu tính bền vững. Tình trạng khai thác khoáng sản trái
phép diễn ra khá phổ biến ở nhiều địa phương, gây thất thoát tài nguyên khoáng
sản và nguồn thu ngân sách nhà nước. Khai thác khoáng sản theo kiểu “dễ làm –
khó bỏ”, chưa sử dụng tổng hợp các loại khoáng sản. Nguồn lợi tài nguyên
khoáng sản mà thiên nhiên ban tặng đôi khi rơi vào tay một số nhóm lợi ích thay
vì cho cả một cộng đồng do cơ chế kiểm tra giám sát của các cơ quan nhà nước
còn chưa chặt chẽ. Khai thác khoáng sản cũng đang để lại nhiều ảnh hưởng tiêu
cực, khó khắc phục về môi trường. [2]
Ngành khai khoáng là một ngành công nghiệp đặc biệt, sử dụng trực tiếp
tài nguyên thiên nhiên quốc gia, cụ thể là khoáng sản trong lòng đất. Những hoạt
động của ngành này chủ yếu gồm các hoạt động thăm dò, khai thác, chế biến, sử
8
dụng khoáng sản và những hoạt động bảo vệ môi trường trong khai thác khoáng
sản. Những hoạt động trên tác động trực tiếp tới bề mặt đất theo cả chiều rộng
và chiều sâu. Bởi vậy, bên cạnh những nguồn lợi trực tiếp được tạo ra cho doanh
nghiệp và nhà nước, những hoạt động của ngành gây nên những xáo trộn về địa
hình, cảnh quan, hệ sinh thái, môi trường, cũng như tạo nên mâu thuẫn, xung đột
trong việc sử dụng tài nguyên ở những khu vực bề mặt diễn ra hoạt động sản
xuất, sinh hoạt của người dân. Do đó, nếu không được quy hoạch và tổ chức thực
hiện hợp lý, những hoạt động của ngành khai khoáng không chỉ gây ảnh hưởng
nghiêm trọng tới môi trường tự nhiên mà còn có thể gây nên những vấn đề khó
giải quyết trong xã hội như sinh kế người dân khu vực đền bù, chênh lệch mâu
thuẫn giàu nghèo và một số tệ nạn xã hội khác tại những khu khai thác mỏ với
lực lượng lao động từ nhiều vùng miền khác nhau trong cả nước.
2.2. Các chỉ tiêu phát triển bền vững quan trọng đối với ngành khai

7) Tỷ lệ lao động làm việc trong ngành đã qua đào
tạo
8) Mức thu nhập bình quân hàng tháng của lao động
trong ngành
9
9) Tỷ lệ tai nạn lao động trên GDP của ngành
T À I N G U Y Ê N & M Ô I T R Ư Ờ N G
Trữ lượng 10) Trữ lượng thăm dò tăng thêm
Khai thác
11) Mức độ tổn thất tài nguyên trong khai thác, chế
biến khoáng sản
12) Tỷ lệ số lượng khoáng sản khai thác vượt quá
nhu cầu của thị trường
13) Hệ số thu hồi khoáng sản
Đất 14) Tỷ lệ suy thoái đất/GDP trong ngành khai khoáng
Rừng
15) Tỷ lệ suy thoái rừng/GDP trong ngành khai
khoáng
16) Mức độ cạn kiệt nguồn nước ngầm và nước mặt
so với tổng nguồn nước
Không khí
17) Phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính từ hoạt động
khai thác, chế biến khoáng sản
T H Ể C H Ế
Khung khổ thể
chế
18) Hệ thống văn bản pháp luật ngành khai khoáng
Năng lực thể chế
19) Hoạt động kiểm toán và công bố thông tin về hoạt
động của ngành khai khoáng

Chỉ tiêu 2000 2008
1. Đầu tư 6 5
2. Đóng góp vào GDP 4 4
3. Việc làm 11 11
4. Hiệu quả đóng góp tăng GDP 6 8
11
3) Cơ cấu tổng sản phẩm trong nước
Chỉ tiêu này cho biết mức độ đóng góp của ngành trong tổng sản phẩm
trong nước. Có thể thấy mặc dù hoạt động khai thác khoáng sản hiện nay diễn ra
ở nhiều nơi với nhiều hình thức khai thác khác nhau, quy mô sản xuất được mở
rộng và ứng dụng nhiều công nghệ mới, nhưng mức đóng góp của ngành trong
tổng sản phẩm trong nước không biến động nhiều, từ năm 2005 đến năm 2012
chỉ giao động từ 9,7 đến 11,9% (bảng 4). Đây có thể là kết quả của quá trình thu
hẹp và thắt chặt quản lý trong hoạt động cấp phép khai thác khoáng sản ở nước
ta thời gian qua. Ngoài ra, lượng sản phẩm khai thác còn phụ thuộc vào nhu cầu
sử dụng trong nước và nhu cầu xuất khẩu.
Bảng 4. Cơ cấu tổng sản phẩm trong nước theo giá thực tế năm 2012
%
Năm 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011
Sơ bộ
2012
Khai khoáng 9,73 9,39 8,96 9,07 9,14 9,97 10,34 11,91
4) Chỉ số phát triển tổng sản phẩm trong nước
Chỉ số phát triển tổng sản phẩm trong nước cho biết mức độ phát triển tăng
hay giảm theo phần trăm của năm sau so với năm trước, từ đó có thể thấy được
xu hướng phát triển tổng sản phẩm của ngành khai khoáng trong một giai đoạn
nhất định. Từ bảng số liệu dưới có thể thấy biến động của chỉ số phát triển tổng
sản phẩm trong nước qua các năm là không nhiều và tương đối ổn định.
Bảng 5. Chỉ số phát triển tổng sản phẩm trong nước theo giá so sánh 2010
(Năm trước = 100)

chỉ tiêu được xác định cho biết phần trăm khu vực khai thác có cơ hội được trở
12
lại với điều kiện vốn có ban đầu và tiến hành phục hồi môi trường trở lại. Do vậy,
phần trăm càng cao thì càng thể hiện tính bền vững.
Những năm gần đây, vấn đề hoàn thổ môi trường được các nhà khoa học
đề cập nhiều và cũng được quy định trong các văn bản pháp luật của nhà nước,
tuy nhiên, cho đến nay ở nước ta vẫn chưa có mỏ khai thác khoáng sản nào hoàn
thổ môi trường đúng quy định. Vấn đề xử lý ô nhiễm trong và sau khai thác vẫn
chưa thực sự được coi là hoạt động của quá trình sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp, mà vẫn chỉ là những quy định và yêu cầu của các cơ quan nhà nước.
→ Có thể thấy, tổng vốn đầu tư cho ngành khai thác khoáng sản chiếm vị trí cao
so với nhiều ngành và lĩnh vực kinh tế khác nhưng hiệu quả đóng góp vào tăng
trưởng GDP (tỷ số giữa đóng góp vào GDP của ngành khai khoáng/tổng đầu tư
cho khai khoáng) chưa cao. Cụ thể là tổng vốn đầu tư cho ngành khai khoáng từ
năm 2005-2008 đứng vị trí thứ 5/18 ngành và lĩnh vực, nhưng hiệu quả đóng
góp cho nền kinh tế chỉ đứng thứ 8 so với các ngành kinh tế và lĩnh vực khác.
Các chỉ tiêu phát triển bền vững ngành khai khoáng về xã hội
6) Lượng lao động làm việc trong ngành
Lượng lao động làm việc trong ngành thể hiện lượng công ăn việc làm mà
ngành mang lại cho xã hội. Trong giai đoạn 2005-2012, lượng lao động trong
ngành khai khoáng chiếm khoảng 0,6% lượng lao động cả nước, tỷ lệ này có xu
hướng tương đối ổn định. (bảng 5)
7) Tỷ lệ lao động làm việc trong ngành đã qua đào tạo
Lao động đã qua đào tạo là những người đã học và tốt nghiệp ở một
trường lớp đào tạo chuyên môn kỹ thuật của cấp học hoặc trình độ đào tạo
tương đương thuộc Hệ thống giáo dục quốc dân từ 3 tháng trở lên (có văn bằng
hoặc chứng chỉ công nhận kết quả đào tạo). Tỷ lệ lao động làm việc trong ngành
khai khoáng đã qua đào tạo thể hiện chất lượng lao động làm việc trong ngành,
tỷ lệ cao tương ứng với chất lượng lao động cao.
Trong số hơn 280.000 lao động làm việc trong ngành khai khoáng hàng

Bảng 7. Thu nhập bình quân hàng tháng của lao động theo giá năm 2012

Nghìn
đồng
Ngành kinh tế 2005 2009 2010 2011 Sơ bộ 2012
Nông nghiệp, lâm nghiệp và
thủy sản 1130,4
2688,
3
3125,
2
4165,
7 5199,0
Khai khoáng
3504,
0
6439,
9
4453,
2
4852,
8 5532,9
Công nghiệp chế biến, chế tạo 1777,4
2742,
2
3280,
0
3955,
6 4472,3
Xây dựng 1566,9

2563,
2
2524,
4
2507,
5 3090,8
9) Tỷ lệ tai nạn lao động trong ngành/mức đóng góp GDP của ngành
Chỉ tiêu này thể hiện mức độ thiệt hại về con người so với mức độ đóng
góp vào nền kinh tế của ngành khai khoáng. Số lượng tai nạn lao động thể hiện
chất lượng môi trường làm việc của người lao động. Tai nạn lao động ít thể hiện
một quá trình sản xuất an toàn và hiệu quả. Chỉ tiêu tính toán được theo các năm
có thể cho thấy xu hướng hoạt động của ngành khai khoáng.
Đối với chỉ tiêu này, hiện nay chưa có số liệu thống kê để xác định.
→ Nhìn chung, dù tạo được nhiều việc làm cho xã hội, nhưng so với số lượng việc
là của các ngành kinh tế khác thì số lượng việc làm trong ngành khai khoáng
cũng chưa tương xứng với vốn đầu tư và chỉ đứng thứ 11/18 so với các ngành
kinh tế và lĩnh vực khác (giai đoạn 2002-2012). Hơn nữa, chỉ có dưới 50% lao
14
động trong ngành khai khoáng có việc làm ổn định trong các doanh nghiệp, số
còn lại chỉ có việc làm ngắn hạn và thu nhập bấp bênh.
15
Các chỉ tiêu phát triển bền vững ngành khai khoáng về tài nguyên và môi
trường
10) Trữ lượng thăm dò tăng thêm
Việc thăm dò tài nguyên khoáng sản trong lòng đất góp phần giải quyết
vấn đề khan hiếm tài nguyên của hiện tại, Đồng thời, hướng tới việc thỏa mãn
những nhu cầu của thế hệ tương lai. Việc quan trắc, thăm dò trữ lượng tài
nguyên khoáng sản cần được đầu tư và tiến hành một cách hiệu quả. Đồng thời,
lên kế hoạch cho việc khai thác những mỏ đã thăm dò và đủ điều kiện nguồn lực
để có thể khai thác và chế biến sâu, giữ lại những mỏ khoáng sản mới phát hiện

khoáng, nước nóng thiên nhiên và các trường hợp còn lại K = 1,0;
16
Phương pháp và công nghệ sử dụng càng hiện đại thì hệ số thu hồi khoáng
sản càng cao, và ngược lại. Nếu hệ số thu hồi khoáng sản tương ứng với phương
thức khai thác trên nhỏ hơn mức quy định thể hiện sự lãng phí tài nguyên, dẫn
đến xu hướng phát triển không bền vững.
14) Tỷ lệ suy thoái đất khu vực khai thác khoáng sản/mức đóng góp GDP của ngành
15) Tỷ lệ suy thoái rừng khu vực khai thác khoáng sản/mức đóng góp GDP của
ngành
16) Mức độ cạn kiệt nguồn nước ngầm và nước mặt so với tổng nguồn nước khu vực
có hoạt động khai thác khoáng sản
17) Phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính từ hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản
Chỉ tiêu 14-17 thể hiện mức độ suy thoái về môi trường so với mức độ
đóng góp vào nền kinh tế của ngành khai khoáng. Tỷ lệ suy thoái, mức độ cạn kiệt
tài nguyên đất, nước, rừng và sự phát thải khí nhà kính khu vực khai thác
khoáng sản cao thể hiện sự thiếu quan tâm tới môi trường trong hoạt động sản
xuất, dẫn đến những suy thoái và ô nhiễm gây ảnh hưởng tới môi trường tự
nhiên, để lại hậu quả cho hiện tại và tương lai. Nếu các chỉ tiêu trên có xu hướng
cao, sự phát triển thể hiện xu hướng không bền vững.
Trong quá trình hoạt động, ngành khai khoáng đã gây ra nhiều hậu quả về
tài nguyên môi trường, ảnh hưởng đến kinh tế xã hội, và cũng phải đối mặt với
những vấn đề và thách thức liên quan đến nền quản trị thiếu bền vững. Điều này
được thể hiện ở những điểm sau:
+ Từ năm 2005, quyết định phân cấp phê duyệt khai thác khoảng sản đã
hình thành cơ chế “xin-cho” trong ngành khai khoáng. Một số lượng lớn
giấy phép khai thác khoáng sản đã được thông qua nhanh chóng đi kèm
với tình trạng hỗn loạn và thiếu điều kiện giám sát hoạt động ở cấp tỉnh.
+ Tình trạng truy thu và nộp thuế tài nguyên không được tuân thủ nghiêm
ngặt vì hoàn toàn dựa trên khai báo của doanh nghiệp. Do vậy, có những
doanh nghiệp khai thác 10 phần, thì chỉ khai báo và đóng thuế cho nhà

Nam.
Hoạt động thu - chi các khoản thuế, phí và lệ phí, hoạt động kiểm toán,
minh bạch thông tin ngành công nghiệp khai khoáng ở nước ta hiện đang tồn tại
những vấn đề sau:
+ Những thông tin về các nguồn thu chi còn nhiều điểm thiếu minh bạch và
không nhất quán do không có hệ thống pháp lý đầy đủ về quy định trách
nhiệm công bố thông tin.
+ Phương thức xác định giá thuế để tính thuế tài nguyên dựa theo hóa đơn
xuất của doanh nghiệp, có thể dẫn đến hiện tượng doanh nghiệp khai
khoáng thỏa thuận với đối tác ghi giá trên hóa đơn thấp hơn so với giá
trên thị trường nhằm trốn một phần thuế tài nguyên. (hiện tượng doanh
nghiệp khai báo không đúng sản lượng đã diễn ra ở nhiều địa phương
khai thác khoáng sản như than, titan )
+ Việc sử dụng nguồn phí bảo vệ môi trường không được thông báo rộng
rãi, vấn đề ô nhiễm môi trường không được giải quyết, nhưng thực tế
doanh nghiệp đã nộp phí bảo vệ môi trường. Ở nhiều địa phương, phí bảo
vệ môi trường được sử dụng chưa đúng mục đích, chẳng hạn dùng để xây
dựng cơ sở hạ tầng như nhà văn hóa, giao thông không mang tính chất
bảo vệ môi trường gây nên sự thiếu rõ ràng trong việc phân bổ nguồn chi
18
phí kết hợp với tình trạng thiếu công khai thông tin, ảnh hưởng không tốt
trong hoạt động quản lý nguồn thu từ khoáng sản.
+ Do có khá nhiều quy định pháp lý nhưng nhìn chung, giữa những quy định
pháp luật và thực thi pháp luật trong công tác thu ngân sách và công bố
thông tin của ngành công nghiệp khai khoáng ở Việt Nam còn nhiều
khoảng trống. Mặt khác, do thiếu công cụ giám sát và quản lý chặt chẽ,
nhà nước đã và đang mất đi một số khoản thu đáng kể.
+ Thông tin về các nguồn thu chi còn thiếu minh bạch, chỉ có các doanh
nghiệp đã niêm yết trên sàn chứng khoán là thường xuyên công khai
thông tin chi tiết về nguồn thu-chi, những doanh nghiệp còn lại và các cơ

điều chỉnh cho phù hợp.
3.3. Sử dụng công nghệ khai thác hiện đại, thân thiện với môi trường
Công nghệ khai thác là yếu tố rất quan trọng quyết định quá trình sản
xuất. Cần có những nghiên cứu về sử dụng công nghệ sản xuất sạch, thân thiện
với môi trường. Đồng thời đầu tư nâng cấp trang thiết bị máy móc để hạn chế
các tác động tới môi trường từ hoạt động sản xuất
3.4. Sáng kiến minh bạch ngành công nghiệp khai khoáng (EITI)
Sáng kiến minh bạch ngành công nghiệp khai khoáng là một sáng kiến
toàn cầu. Sáng kiến này xây dựng những nội dung, nguyên tắc và cách thức giúp
đạt được sự cân bằng giữa các nhóm lợi ích: chính phủ, doanh nghiệp và cộng
đồng.
Trong những năm gần đây, Việt Nam đang xem xét tham gia EITI. Thực
hiện EITI có thể giúp cải thiện tình trạng tham nhũng hiện nay trong nền kinh tế,
giúp cộng đồng được tiếp cận các nguồn thông tin một cách dễ dàng hơn, đồng
20
thời góp phần cải thiện hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp khai thác
khoáng sản.
3.5. Định hướng nghiên cứu khoa học và đào tạo phục vụ phát triển bền
vững ngành công nghiệp khai khoáng
Nghiên cứu về phát triển bền vững ở nước ta hiện nay vẫn còn là một
ngành nghiên cứu mới. Cần có những định hướng nghiên cứu cụ thể hơn trong
tương lai để giúp đo lường, đánh giá và có những biện pháp kịp thời điều chỉnh
hoạt động phát triển theo hướng bền vững trong tương lai.
Tài liệu tham khảo
1. Phát triển bền vững, Lý thuyết và khái niệm, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Dự án
VIE/01/021.
2. Sáng kiến minh bạch ngành công nghiệp khai khoáng – EITI và khả năng
tham gia của Việt Nam, CODE, 2011.
3. Một số tài liệu thu thập tại website Tổng cục thống kê và website Bộ Tài
nguyên và Môi trường.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status