Báo cáo nghiên cứu khoa học " " doc - Pdf 14


35
TỪ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC CHƯƠNG TRÌNH HÓA
ĐẾN PHƯƠNG PHÁP HỌC CHƯƠNG TRÌNH HÓA
Hà Viết Hải
Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế
I. MỞ ĐẦU
Trước đây, phương pháp dạy học chương trình hóa được đề cập khá nhiều
và cũng đã có khá nhiều người cố gắng áp dụng nó. Tuy nhiên, bên cạnh các ưu
điểm về mặt lý thuyết, phương pháp này đặt ra một số vấn đề khó khăn khi sử
dụng nên nó không được dùng nhiều trong thực tế và dần dần bị lãng quên. Cùng
với sự ứng dụng ngày càng rộng rãi máy tính vào cuộc sống nói chung và vào
công việc giảng dạy, học tập nói riêng, một phương pháp học tập mới được ra đời
và hiện đang được sử dụng nhiều hơn là phương pháp học chương trình hóa, với
dạng thể hiện thường gặp nhất là các trang web tự học. Bài viết này trình bày
nhận xét của tác giả về hai phương pháp dạy và học nói trên cũng như mối liên
quan giữa chúng cùng với phần phân tích lý do tại sao bài giảng chương trình hóa
thường được biên soạn ở dạng trang web.
II. PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC CHƯƠNG TRÌNH HÓA
Theo phương pháp này, một bài học lớn được chia thành nhiều phần, mỗi
phần được gọi là một liều kiến thức. Giáo viên tổ chức và điều khiển lớp học
không theo kiểu đồng nhất đối với tất cả học sinh như trong lớp học bình thường
mà cá biệt hóa cho từng học sinh. Mỗi học sinh, sau khi học xong một liều kiến
thức thì ngay lập tức được kiểm tra và diễn tiến học tập tiếp theo của người này
xảy ra thế nào tùy thuộc vào kết quả kiểm tra của mình. Nếu kết quả kiểm tra là

36
tốt thì tiếp tục học liều kiến thức tiếp theo, nếu kém thì phải quay lại học liều
kiến thức vừa học, thậm chí có trường hợp phải học lại những kiến thức bổ sung.
Phương pháp dạy học chương trình hóa có hai ưu điểm chủ yếu là thể hiện
được quan điểm đặt trọng tâm của quá trình dạy học vào người học và cá biệt hóa

cách dùng sách bài tập, sách giáo khoa hoặc các công cụ điện tử khác trong đó
thông tin được cung cấp theo từng bước rời rạc, kiểm tra việc học sau mỗi bước
và cung cấp ngay thông tin phản hồi về kết quả.
(
2.Ví dụ:
Ta hãy xem xét một ví dụ dưới đây để có thể hiểu rõ hơn về cách thức thực
hiện bài học chương trình hóa. Đây là một trích đoạn (dịch theo nguyên bản tiếng
Anh) về bài học vận tốc tại website ThinkQuest, nơi cung cấp các bài học vật lý
về cơ học, quang học, sóng và điện học. Độc giả có thể xem nội dung đầy đủ của
nó theo địa chỉ a, Bài học
VẬN TỐC
Tác giả Keiji Oenoki []

38
Chúng ta sẽ bắt đầu học vật lý với việc học về sự chuyển động.
Hãy nhìn xung quanh mình, và bạn sẽ thấy rằng hầu như mọi vật đều đang
chuyển động: chim bay, người chạy, quyển sách rơi… Chúng ta sẽ phân tích các
chuyển động này và suy nghĩ về việc các vật chuyển động nhanh chậm thế nào và
đi được bao xa.

Mục 1. Khoảng cách và độ dịch chuyển
Khoảng cách khác với độ dịch chuyển. Khi bạn di chuyển 50 km về
phía Đông và sau đó là 20 km về phía Tây, tổng khoảng cách là 70
km, nhưng độ dịch chuyển của bạn là 30 km về phía Đông.



(displacement: độ dịch chuyển, time: thời gian dịch chuyển)
Ví dụ, khi một chiếc xe di chuyển được 50 km trong 2 giờ, vận tốc
trung bình là 25.5 km/h bởi vì hkm
h
km
V /5.25
2
50

Vận tốc tức thời biểu diễn vận tốc của một vật tại một thời điểm. Ví
dụ, khi bạn lái một chiếc xe và đồng hồ tốc độ chỉ 90km/h thì vận tốc
tức thời của chiếc xe là 90km/h.
CÂU HỎI: Một chiếc xe đi 20 km về phía Đông và 60 km về phía
Tây trong 2 giờ. Vận tốc trung bình của nó là
km/h CÂU HỎI: Một chiếc xe di chuyển được bao nhiêu trong vòng 15
phút với vận tốc 20 m/s? km
(tiếp theo 2 mục vừa trình bày trên là 3 mục khác của bài học, sau đó là liên kết
đến bài kiểm tra tổng quát dưới đây)
b, Bài kiểm tra tổng hợp sau khi học xong toàn bộ bài học
Sau đây là trích phần đầu của bài kiểm tra tổng hợp.

40
Đây là cơ hội để bạn áp dụng kiến thức đã học trong chương này.
Khoảng cách và độ dịch chuyển là khác nhau. Khoảng cách là vô hướng còn
độ dịch chuyển là vector. Bạn đã biết cách để tính tốc độ trung bình. Bạn sẽ làm

cứu xong từng mục (một liều kiến thức), người học trả lời câu hỏi bằng cách gõ
vào ô trả lời và bấm nút để xem kết quả. Lúc này chương trình (viết
bằng mã JavaScript) ẩn đằng sau bài học sẽ xử lý câu trả lời, so sánh với đáp án
và hiển thị kết quả lên trên ô trả lời mà người học vừa sử dụng. Tương tự, đối với
bài kiểm tra tổng hợp (Quiz), người học trả lời tất cả các câu hỏi vào các ô dành
sẵn và nhấn nút , kết quả sẽ được chương trình tự động hiển thị trong
ô dành sẵn ở dưới nút này. Đối với nút “Kiểm tra”, tuỳ thuộc vào câu trả lời của
người đọc mà kết quả khi nhấn nút là khác nhau. Nếu trả lời đúng sau 1 hoặc 2
hoặc 3,… lần trả lời thì sẽ nhận được kết quả “Đúng” hoặc “Xuất sắc!” hoặc
“Làm tốt!” hoặc “Tốt!” hoặc ‘Hoàn toàn đúng!”. Tương tự như vậy, khi trả lời
sai thì người học cũng nhận được các thông báo thích ứng tuỳ vào số lần trả lời.
đối với nút “Xem điểm”, người học sẽ biết được mình đã trả lời đúng được bao
nhiêu câu trong số tất cả các câu hỏi được đặt ra cùng với một lời bình luận về
mức độ điểm đạt được.
3. Nhận xét:
Bài học chương trình hóa rõ ràng có ưu điểm rất lớn. Trước hết, nó là một
dạng để tổ chức bài học theo kiểu tự học, một dạng bài học ngày càng trở nên cần
thiết trong một xã hội tri thức, với yêu cầu học tập suốt đời. Thứ hai, nó giúp

42
người học nhanh chóng biết được mức độ tiếp thu kiến thức của mình, từ đó làm
chủ quá trình học. Điều này giúp tránh những trường hợp người học do chủ quan,
chỉ học một cách nông cạn bài học, không đạt được độ sâu cần thiết. Một điểm
nữa là bài học được tổ chức theo kiểu này làm cho quá trình học trở nên thú vị
hơn, yêu cầu người học luôn phải suy nghĩ tích cực và vì thế phát huy tốt hơn trí
tuệ của họ.
IV. MỐI LIÊN QUAN GIỮA PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
CHƯƠNG TRÌNH HÓA VÀ PHƯƠNG PHÁP HỌC CHƯƠNG TRÌNH
HÓA
Điểm giống nhau giữa hai phương pháp này rất dễ được nhận ra. Cả hai loại

phân tích sơ bộ về những hình thức có thể thực hiện và đánh giá chúng theo các
tiêu chí cơ bản vừa đề cập.
1. Biểu diễn trên giấy
Bài học được biên soạn và sử dụng ở hình thức trên giấy.
Ưu điểm:
 Có khả năng biểu diễn dễ dàng các thông tin tĩnh: văn bản, ảnh tĩnh…
 Dễ biên soạn và sử dụng.
 Không cần có thiết bị khi sử dụng.
 Dễ phân phối nếu số lượng người học là ít và gần nơi phân phối.

44
Nhược điểm:
 Không có khả năng biểu diễn những dạng thông tin động như âm thanh,
ảnh động, phim…
 Khó tổ chức tốt việc đưa thông tin phản hồi khi người đọc trả lời câu hỏi.
Nếu viết sẵn câu trả lời lên giấy thì dễ làm người học đọc trước (hoặc đọc
sau lần trả lời câu hỏi đầu tiên), do đó không đạt được mục tiêu đề ra khi
đặt câu hỏi là để đánh giá thực chất mức độ tiếp thu kiến thức của người
học.
 Khó có thể nhanh chóng tính điểm sau khi người học làm bài kiểm tra
tổng hợp. Trường hợp này, thường yêu cầu người học tự xem đáp án và tự
tính điểm lấy. Có lẽ nếu thực hiện theo phương án này thì hiệu quả của
việc phản hồi kết quả không còn được cao. Vả lại, sau lần thử kiểm tra kết
quả thứ nhất, nếu người học trả lời sai, họ sẽ biết được đáp án và vì thế, họ
không còn tích cực suy nghĩ để thử trả lời lại nữa.
 Khó phân phối cho người học ở xa, tốn kém nếu phân phối với số lượng
lớn.
2. Biểu diễn trên máy tính:
Có thể chia làm hai nhóm cơ bản, một là sử dụng các văn bản tĩnh và hai là
sử dụng các dạng động khác như trang web, chương trình hoặc các dạng phim,

Ưu điểm:
 Dễ tạo và dễ sử dụng.
 Biểu diễn được hầu hết các dạng dữ liệu tĩnh và động.
Nhược điểm:
 Việc viết trình để thực hiện phản hồi thông tin là khó khăn.
 Kích thước bé của từng trang trình diễn không thuận lợi để bố trí các phần
kiến thức dài.
 Để sử dụng cần có phần mềm và máy tính thích hợp.
 Chỉ giữ lại được các phần trình bày tĩnh của bài giảng khi được in ra giấy.
d, Dạng trình diễn cấp cao (ví dụ trên Flash)
Ưu điểm:
 Thể hiện rất tốt các dạng dữ liệu tĩnh và động.
 Khả năng lập trình để phản hồi thông tin khá mạnh.
Nhược điểm:
 Mất nhiều công sức để tạo bài học.
 Khả năng lập trình tuy tốt nhưng khó thực hiện.

47
 Để học, cần có phần mềm và máy tính thích hợp.
 Không in được bài giảng ra giấy.
e, Dạng trang web:
Bài giảng được biên soạn ở dạng các trang web (HTML, DHTML, JSP,
ASP, Servlet…), người học dùng máy tính với trình duyệt web bất kỳ để xem.
Ưu điểm:
 Rất dễ tạo bài giảng bằng các phần mềm soạn thảo văn bản mạnh (như
MS Word) hoặc bằng các phần mềm soạn thảo web chuyên nghiệp như
FrontPage, Dream Weaver…
 Khả năng thể hiện các dạng dữ liệu khác nhau rất mạnh, từ các dạng dữ
liệu tĩnh như chữ, ảnh tĩnh đến các dạng dữ liệu động như ảnh động, âm
thanh, phim… đều có thể được trình bày trên trang web.

trang web nói riêng và công nghệ phần mềm dựa trên nền tảng web nói chung
đang là tiêu điểm của giới tin học nên các khả năng của chúng đang được phát
triển rất nhanh và rất mạnh. Vì vậy, dạng trang web là thích hợp nhất để biên
soạn các bài học chương trình hóa, đặc biệt là với khả năng phân phối dễ và rộng
thông qua mạng Internet, dạng bài học này là lựa chọn hữu hiệu nhất để tổ chức
bài học cho dạng hình đào tạo từ xa.

49
VI. KẾT LUẬN
Phương pháp học chương trình hóa đã kế thừa và phát huy được những ưu
điểm cũng như khắc phục được những nhược điểm của phương pháp dạy học
chương trình hóa. Các bài học được tổ chức theo dạng này có thể trình bày dưới
nhiều hình thức khác nhau nhưng tốt nhất là ở dạng các trang web. Đối với loại
hình đào tạo từ xa thì đây là một phương pháp tổ chức bài học rất tốt để người
học có thể dễ dàng truy cập, học và đánh giá quá trình tiếp thu kiến thức của
mình, một điểm rất quan trọng trong quá trình học nhưng lại rất khó để thực hiện
khi không có sự điều khiển, kiểm tra, theo dõi trực tiếp của giáo viên. Cùng với
sự phổ cập ngày càng rộng khắp của mạng Internet, phương pháp này cần được
nghiên cứu và sử dụng nhiều hơn nữa để đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu học
và tự học, một nhu cầu tất yếu sẽ được phát triển mạnh mẽ trong nền kinh tế tri
thức tương lai.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. />9.htm
2. 50
FROM THE PROGRAMMED TEACHING METHOD
TO THE PROGRAMMED LEARNING METHOD
Ha Viet Hai


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status