Tác hại của nhện trắng và các biện pháp phòng trừ - Pdf 14

Tác hại của nhện trắng và
các biện pháp phòng trừ

Nhện trắng gây ra một loạt các triệu
chứng trên nhiều loại cây khác nhau.
Một số triệu chứng do nhện trắng gây
ra trước đây được xem là do các bệnh
khác, như bệnh ‘Tambera’ trên khoai
tây và ‘Murda’ trên ớt ở Ấn Độ,
‘Bergonia Rust’ trên thu hải đường ở
Anh và các loại virus trên thực vật.
Các tác hại gây ra bởi loài này c
ũng bị
nhầm lẫn là do hormone, các lo
ại chất
trừ cỏ hoặc do sự thiếu hụt
magnesium.

Nhện trắng làm cho các lá ngọn và
chồi hoa bị biến dạng. Nước bọt có
chứa độc tố của nhện làm cho ngọn
cây bị xoắn, cứng và phát triển méo
mó. Nhện thường được nhìn thấy trên
các lá mới và trái non. Các lá cong
xuống và có màu đồng hay tía. Các

tổn thương gây ra bởi thuốc trừ cỏ, sự
thiếu hụt dinh dưỡng (Bo) hay sự rối
loạn sinh lý. Ví dụ, trong giai doạn
cuối mùa đông, với nhiệt độ lạnh và
ẩm độ cao, một số hiện tượng quăn v
à
xoắn lá thường thấy ở cây bóng nước
New Guine là do sự rối loạn về sinh
lý và không phải là sự tổn thương do
nhện trắng.

Các biện pháp phòng trừ nhện trắng
bao gồm: sử dụng cây kháng, thuốc
hóa học (biện pháp hóa học) hay các
loài thiên địch của nhện (biện pháp
sinh học).

Sử dụng cây kháng:
S
ự kháng của khoai tây với nhện trắng
đã được tìm thấy trong khoai tây
hoang dại (Solanum berthaultii) cũng
như ở một số loài khoai tây khác.
Trong đó chỉ có khoai tây hoang dại
và lòai khoai tây Solanum
polyadenium
có ít hơn 10% bộ lá bị
phá hại bởi loài côn trùng này. Sự
kháng của khoai tây hoang dại có liên
quan đến các túm lông có chứa chất

Pyrethroids được khuyến cáo là
không an toàn. Heungmens và
Degheele (1986) thông báo rằng
Avermectin B1 có hiệu lực kiểm soát
nhện kéo dài trên cây thầu dầu. Chất
điều hoà tăng trưởng thực vật
chlomequat được oliveira và Dojas
(1982) áp dụng trên bông vãi đã làm
giảm sự nhiễm nhện trắng khoảng
37%.
Hugon và Chaupin (1986) đã đưa ra
hai chiến lư
ợc khác nhau để kiểm soát
nhện trắng trên trái cam quýt: phun
ngừa 15-20 ngày một lần trong thời
gian nhện hoạt động mạnh hay xử lý
theo sự thay đổi của quần thể loài gây
hại, được xác định bằng việc kiểm tra
liên tục. Trong mọi trường hợp, do sự
phát tri
ển nhanh chóng của nhện trắng
bắt buộc phải phun thuốc trên toàn
cây (đối với cam quýt, liều lượng
khuyến cáo là 15l/cây). Hai tác giả
này cũng đề nghị rằng nên áp dụng
liên tiếp hai cách xử lý đã nêu trên
trong mùa mưa.
Ngoài một số thuốc trừ nhện đư
ợc chỉ
định cho việc kiểm soát loài gây hại

ện ăn thịt (predatory
mite). Ngoài ra, việc xử lý bằng nước
nóng (43-49
0
C trong 15 phút) có thể
được sử dụng để kiểm soát nhện mà
không làm tổn thương cây.

Xuân Dũng

TÀI LIỆU THAM KHẢO
Gerson U, 1992. Biology and control
of the broad mite,
polyphagotarsonemus latus (Banks)
(Acari:Tarsonemidae). Experimental
& Applied Acarology, 13(1992), p.
163-178. Elsevier Science Publishers
B.V., Amsterdam.
Fasulo T. R., 2007. Broad mite,
Polyphagotarsonemus latus (Banks)
(Arachnida: Acari: Tarsonemidae).
EENY183. p. 1-5.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status