Bài Luận
Đề Tài:
Nợ nước ngoài của Việt Nam thực
trạng và các biện pháp đề xuất
1
MỤC LỤC
Trang
Danh mục chữ viết tắt
Danh mục bảng biểu
Lời mở đầu
PHẦN 1: Khái niệm, phân loại và vai trò của nợ nước ngoài
Việt Nam 10
1.1. Khái niệm 10
1.2. Phân loại nợ nước ngoài 12
1.3. Vai trò của Nợ nước ngoài 14
1.4. Phương pháp xác định 15
PHẦN 2: Thực trạng về nợ nước ngoài ở Việt Nam nguyên nhân
và hạn chế của công tác quản lý nợ 16
2.1. Tình hình vay nợ nước ngoài của Việt Nam 16
2.1.1. Các phương thức vay nợ chủ yếu của Việt Nam 16
2.1.2. Tình hình vay nợ nước ngoài của Việt Nam 16
2.1.2.1 Tình hình chung 16
2.1.2.2 Lãi suất vay nợ của Việt Nam hiện nay 20
2.1.2.3 Cơ cấu nợ vay của Việt Nam 20
2.1.2.4 Các khoản nợ nước ngoài của việt nam một số năm gần đây 24
2.1.2.5 Hiệu quả sử dụng nợ vay 25
2.2. Tình hình quản lý nợ nước ngoài tại Việt Nam 28
2
2.2.1. Những thành tựu nổi bật của công tác quản lý nợ nước ngoài
ở Việt Nam 30
2.2.1.1 Quản lý nợ nước ngoài đã góp phần quan trọng vào phát
3.3. Các biện pháp sử dụng vốn vay hiệu quả 40
3.3.1. Kiểm soát nợ nước ngoài 41
3.3.2. Các biện pháp nhằm sử dụng nợ nước ngoài có hiệu quả 41
3.4. Các biện pháp quản lý nợ vay nước ngoài 43
3.5. Các biện pháp hỗ trợ 45
3.5.1. Ổn định môi trường thể chế 45
3.5.2. Cải thiện môi trường đầu tư 47
3.5.3. Phát triển nội lực nguồn kinh tế 47
3.5.4. Xây dựng môi trường tài chính hiệu quả 48
KẾT LUẬN 49
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 50
4
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
IMF Quỹ Tiền tệ Quốc tế
SNA Hệ thống thống kê tài khoản quốcgia
ODA Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức
OECD Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển
WB Ngân hàng Thế giới
WTO Tổ chức thương mại thế giới
JPY Đông Yên Nhật
NIB Ngân hàng đầu tư Bắc Âu
IBRD Ngân hàng quốc tế tái thiết và phát triển
IDA Hiệp hội phát triển quốc tế
IFAD Quỹ phát triển nông nghiệp quốc tế
NDF Quỹ phát triển Bắc Âu
NIB Ngân hàng đầu tư Bắc Âu
OPEC Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ
ADB Ngân hàng phát triển Châu Á
IFI Tổ chức tài chính quốc tế
GNI Tổng sản lượng quốc gia
nền kinh tế phục hồi rất chậm chạp, mong manh và đứng trước nguy cơ tiếp tục
khủng hoảng. Kinh tế thế giới vừa trải qua cơn bão khủng hoảng dữ dội nhất kể từ
sau cuộc đại suy thoái 1929-1933 và đang chật vật hồi phục. Thế nhưng, sự hồi phục
hiện nay của kinh tế thế giới rất mong manh, bấp bênh và không loại trừ khả năng
có thể bị suy thoái trở lại bởi nhiều nguyên nhân, trong đó tình trạng nợ công tràn
lan ở nhiều nước là một nguyên nhân quan trọng.
Trong những năm gần đây, sự quan tâm của thế giới đang đổ vào Hy Lạp,
nơi mà núi nợ đang đè lên lưng nước này. Nó đã đẩy nền kinh tế nước này vào nguy
cơ sụp đổ với tổng số nợ công lên tới 300 tỷ Euro (chiếm 124% GDP năm 2009) và
mức thâm hụt ngân sách hai con số, trong khi tăng trưởng kinh tế tiếp tục âm. Hiện
nay, Hy Lạp là nước có mức nợ công thuộc loại nhiều nhất tại châu Âu so với quy
mô nền kinh tế và được ví như “một người bệnh đang trong thời kỳ nguy kịch”.
Mức độ tín nhiệm tài chính của nước này đã bị tụt xuống hạng BBB Điều này đồng
nghĩa với khả năng đi vay tiền từ bên ngoài trở nên khó khăn. Nếu không trả được,
7
Hy Lạp sẽ trở thành nước bị vỡ nợ, các chủ nợ sẽ tìm cách siết nợ, và như vậy, nền
kinh tế nước này sẽ rơi vào khủng hoảng khi mà các nhà đầu tư tìm cách tháo chạy
khỏi Hy Lạp. Tình trạng nợ công chồng chất không chỉ là hiện tượng đơn lẻ diễn ra
ở Hy Lạp hay Băng Đảo và Đu-bai gần đây, mà đã trở thành hiện tượng khá phổ
biến trên thế giới. Không riêng các nước đang phát triển mới đi vay, mà cả những
nước phát triển giàu có cũng mắc nợ.
Hiện nay, Mỹ là con nợ lớn thuộc loại hàng đầu thế giới với tổng số nợ lên
tới 13.000 tỷ USD, chiếm khoảng 93% GDP. Mức thâm hụt ngân sách của Mỹ năm
2010 dự kiến là 9,9%. Điều này báo hiệu núi nợ của Mỹ sẽ tăng lên tới mức xấp xỉ
100% GDP vào cuối năm nay.
Kể cả Nhật Bản, đã từng có thời người ta tưởng có thể sẽ “mua hết nước
Mỹ”, vậy mà bây giờ cũng trở thành một con nợ “cỡ bự” với mức nợ tương đương
với 227% GDP và thâm hụt ngân sách dự kiến 10,2 % năm 2010.
Rồi đến Trung Quốc, nước hiện được coi là chủ nợ nước ngoài lớn của Mỹ
và nhiều nước khác với nguồn dự trữ quốc gia trên 2000 tỷ USD, song cũng không
làm ăn kém hiệu quả và khả năng trả nợ ngày càng khó khăn hơn. Điều đó càng
khiến nợ nước ngoài ở Việt Nam tăng cao và tiến tới mức nguy hiểm. Đối với Việt
Nam, việc vay mượn vốn nước ngoài để đáp ứng yêu cầu tăng mức đầu tư trong
nước nhằm nâng cao năng lực sản xuất trong tương lai là một giải pháp hợp lý. Bởi
vì Việt Nam cần nguồn lực con người và vốn cao hơn nữa để cạnh tranh trên thị
trường thế giới với các sản phẩm có giá trị gia tăng cao hơn, ví dụ như sản phẩm
điện tử. Mặt khác, Việt Nam vẫn là nền kinh tế đang phát triển nên có thu nhập
tương đối thấp cần phải đầu tư lớn vào cơ sở hạ tầng và con người để nâng tỷ lệ giá
trị gia tăng trong dài hạn với dự kiến chỉ tiêu tăng trưởng GDP bình quân 7,5%-
8,5%/năm trong giai đoạn 2011-2015. Song song với đó, Việt Nam đang cần đầu tư
vào các lĩnh vực như bệnh viện, trường học, dạy nghề, phát triển hạ tầng giao thông,
9
giảm bớt chi phí dịch vụ tiện ích và viễn thông, củng cố môi trường kinh doanh và
tăng cường trình độ các trung tâm nghiên cứu phát triển, xây dựng các công trình
phúc lợi nhằm nâng cao đời sống nhân dân hơn nữa và làm cho bộ mặt kinh tế đất
nước ngày càng thay đổi tốt hơn. Nợ nước ngoài đang làm nóng nghị trường Quốc
hội, mà trong đó gây tranh cãi nhiều nhất là quy mô, tính an toàn và tài trợ nợ nước
ngoài.
Do đó nhóm 14 chọn chủ đề :
“ Nợ nước ngoài của Việt Nam thực trạng và các biện pháp đề xuất .”
Nội dung bài gồm 3 phần chính :
Phần 1: Khái niệm, phân loại và vai trò nợ nước ngoài của Việt Nam
Phần 2: Thực trạng nợ nước ngoài và công tác quản lý về vay nợ của Việt Nam.
Phần 3: Các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả vay nợ và quản lý nợ nước ngoài.
Mặc dù cũng rất cố gắng để thực hiện đề tài song do còn là sinh viên nên kiến thức
và lý luận vẫn còn yếu do đó bài làm không sao tránh khỏi những lỗi sai và sự thiếu
sót. Nhóm 14 rất mong nhận được sự góp ý chân thành của cô giáo hướng dẫn để đề
tài đem lại nhiều lợi ích trong thực tế hơn. Nhóm em xin chân thành cảm ơn!
Nhóm thực hiện : Nhóm 14
10
các khoản đầu tư này thường là các khoản cho vay không lãi suất hoặc lãi suất thấp
với thời gian vay dài. Đôi khi còn gọi là viện trợ. Gọi là Phát triển vì mục tiêu danh
nghĩa của các khoản đầu tư này là phát triển kinh tế và nâng cao phúc lợi ở nước
được đầu tư. Gọi là Chính thức, vì nó thường là cho Nhà nước vay.
Ta có các quan niệm về nợ nước ngoài cụ thể như sau :
Theo khoản 8 điều 2 quy chế vay và trả nợ nước ngoài (Ban hành kèm
theo Nghị định số 134/2005/NĐ-CP ngày 1 tháng 11 năm 2005 của Chính
phủ) thì: “Nợ nước ngoài của quốc gia là số dư của mọi nghĩa vụ hiện
hành (không bao gồm nghĩa vụ nợ dự phòng) về trả nợ gốc và lãi tại một
thời điểm của các khoản vay nước ngoài tại Việt Nam. Nợ nước ngoài của
quốc gia bao gồm nợ nước ngoài của khu vực công và nợ nước ngoài của
khu vực tư nhân”. Như vậy, theo cách hiểu này nợ nước ngoài là tất
cả các khoản vay mượn của tất cả các pháp nhân Việt Nam đối với nước
ngoài và không bao gồm nợ của các thể nhân (nợ của cá nhân và hộ gia
đình).
Trong cuốn Thống kê nợ nước ngoài : Hướng dẫn tập hợp và sử dụng do
nhóm công tác liên ngành của IMF thì khái niệm nợ nước ngoài được
hiểu như sau: “Tổng nợ nước ngoài tại bất kỳ thời điểm nào là số
dư nợ của các công nợ thường xuyên thực tế, không phải công nợ
bất thường, đòi hỏi bên nợ phải thanh toán gốc và/hoặc lãi tại một
(số) thời điểm trong tương lai, do đối tượng cư trú tại một nền
kinh tế nợ và đối tượng không cư trú”. Theo khái niệm này, khái
niệm nợ nước ngoài không tách rời khái niệm đối tượng cư trú. Như vậy
xét về bản chất không có sự khác biệt đáng kể trong định nghĩa nợ nước
ngoài của quốc gia và quốc tế. Tuy nhiên định nghĩa về nợ nước
ngoài của quốc tế rõ ràng hơn. Khái niệm nợ nước ngoài của quốc
12
tế về cơ bản mang ý nghĩa thống kê và nhất quán với SNA. Để
đảm bảo tính nhất quán trong cách phân loại nợ nước ngoài, trong
phần dưới đây chúng tôi sử dụng phần định nghĩa chuẩn quốc tế về nợ
hoặc đã gia hạn kéo dài trên một năm tính từ ngày ký kết vay nợ cho tới ngày
đến hạn khoản thanh toán cuối cùng. Nợ dài hạn là loại nợ được quan tâm quản lý
nhiều hơn do khả năng tác động lớn đến nền tài chính quốc gia.
Phân loại theo loại hình vay gồm: vay hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vay
thương mại.
Vay hỗ trợ phát triển chính thức ODA
Theo định nghĩa của OECD, hỗ trợ phát triển chính thức bao gồm các
chuyển khoản song phương (giữa các Chính phủ) hoặc đa phương (từ các
tổ chức quốc tế cho Chính phủ), trong đó ít nhất 25% tổng giá trị chuyển khoản là
cho không. Tính ưu đãi của vay hỗ trợ phát triển chính thức. Vay hỗ trợ
phát triển chính thức là loại nợ có nhiều điều kiện ưu đãi, ưu đãi về lãi suất, về
thời gian trả nợ và thời gian ân hạn. Lãi suất của vay hỗ trợ phát triển chính thức
thấp hơn nhiều so với vay thương mại. Thời gian cho vay hỗ trợ phát triển chính
thức dài (có thể từ 10, 15 hay 20 năm) và thời gian ân hạn dài, do vậy các
nước đang phát triển thường hướng tới và tận dụng tối đa nguồn vốn này cho
quá trình xây dựng và phát triển đất nước. Tuy nhiên, vay hỗ trợ phát triển chính
thức cũng có những mặt trái của nó. Tính ưu đãi của vay hỗ trợ phát triển chính
thức rất rõ rệt, bên cạnh đó, việc vay nợ hỗ trợ phát triển chính thức đôi
khi kèm theo những điều kiện ràng buộc khiến cái giá phải trả tăng lên đáng kể.
Vay thương mại
14
Khác với vay hỗ trợ phát triển chính thức, vay thương mại không có ưu đãi cả
về lãi suất và thời gian ân hạn, lãi suất vay thương mại là lãi suất thị trường
tài chính quốc tế và thường thay đổi theo lãi suất thị trường. Chính vì vậy, vay
thương mại thường có giá khá cao và chứa đựng nhiều rủi ro. Việc vay thương mại
của Chính phủ phải được cân nhắc hết sức thận trọng và chi quyết định
vay khi không còn cách nào khác.
Phân loại nợ theo chủ thể cho vay gồm : nợ đa phương và nợ song phương.
Nợ đa phương: đến chủ yếu từ các cơ quan của Liên hợp quốc, WB, IMF,
các ngân hàng phát triển trong khu vực, các cơ quan đa phương như OPEC
PHẦN 2: THỰC TRẠNG VỀ NỢ NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM
NGUYÊN NHÂN VÀ HẠN CHẾ CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ NỢ
2.1. Tình hình vay nợ nước ngoài của Việt Nam
2.1.1. Các phương thức vay nợ chủ yếu của Việt Nam
Ngoài yếu tố tiết kiệm trong nước, các quốc gia đang phát triển – có thể cho là
các quốc gia thiếu vốn - cần sự “giúp đỡ” từ yếu tố “ngoại sinh”, Chính phủ
cần phải huy động các nguồn lực từ bên ngoài nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn
phục vụ cho quá trình xây dựng và phát triển đất nước. Nợ của Chính phủ chủ yếu
xuất phát từ ba nguồn chủ yếu sau đây:
- Nợ ODA (Nguồn vốn vay phát triển chính thức - phần cho vay ưu đãi trong
khoản hỗ trợ phát triển chính thức ODA).
- Vay thương mại qua các hợp đồng song phương và đa phương.
- Phát hành trái phiếu quốc tế (một hình thức vay nợ nước ngoài vừa mới
được Chính phủ áp dụng).
2.1.2. Tình hình vay nợ nước ngoài của Việt Nam
2.1.2.1 Tình hình chung
Báo cáo của Chính phủ về tình hình kinh tế, xã hội năm 2010 và
nhiệm vụ năm 2011 tại Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khoá XII, cho biết: “Đến hết
năm 2010, dư nợ Chính phủ tương đương khoảng 44,5% GDP, dư nợ nước ngoài
của quốc gia khoảng 42,2% GDP tăng so với con số 39% của năm 2009 và cao nhất
kể từ năm 2006 tương đương 32,5 tỷ USD tăng 4,6 tỷ USD so với năm trước, và dư
nợ công bằng 56,7% GDP ”. Do dư nợ tăng, tổng lượng tiền mà ngân sách phải dành
để trả các đối tác nước ngoài trong năm 2010 là 1,67 tỷ USD (riêng tiền lãi và phí là
hơn 616 triệu USD), tăng gần 30% so với con số 1,29 tỷ USD của năm 2009.
17
Trong khi đó, theo cảnh báo của Bộ Tài chính, dự trữ ngoại hối của Việt Nam
trong năm 2010 chỉ còn tương đương 187% tổng dư nợ ngắn hạn, giảm mạnh so với
con số 290% và 280% của các năm 2009 và 2008.
Quy mô nợ nước ngoài c%a Việt Nam tăng nhanh hơn d+ báo
Theo Bản tin nợ nước ngoài -Bộ Tài chính, đến 31/12/2009, tổng nợ nước
cuộc khủng hoảng kinh tế và xảy ra nhiều biến động trên thế giới thì nợ nước ngoài
của Việt Nam không những không tăng mà còn có xu hướng giảm.
Cơ cấu nợ của Việt Nam năm 2006 - 2010 gồm nợ chính phủ chiếm
78,1%, còn lại là nợ được chính phủ bảo
lãnh
và
nợ chính quyền địa phương.
Trong nợ chính phủ, nợ nước ngoài chiếm 61,9%; nợ trong nước chiếm 38,1%.
Trong nợ nước ngoài, ODA chiếm tỷ trọng lớn. Cụ thể, năm 2009, nợ của Việt
Nam gồm nợ chính phủ chiếm 79,2%, nợ được chính phủ bảo lãnh chiếm 17,6%
19
và nợ chính quyền địa phương chiếm 3,1%; trong nợ chính phủ, nợ nước ngoài
chiếm 60%, trong đó có 85% là ODA.
Bảng 1: Cơ cấu nợ của Việt Nam năm 2006 - 2010
Đơn vị 2006 2007 2008 2009 2010 Bình
quân
Nợ chính
phủ
Tỷ
USD
23,7 24,1 31,2 37,8 45,3 32,4
Nợ chính
phủ
%GDP
39,0 33,8 36,5 40,4 44,6 38,9
Nợ chính
phủ
% Nợ
công
vực
công
% Nợ
công
58,2 56,9 52,4 57,5 N/A
(Nguồn: Bộ Tài Chính, Bản tin nợ nước ngoài số 6)
Chú thích: *, **: Số liệu 6 tháng đầu năm 2010
20
2.1.2.2 Lãi suất vay nợ v điu kin vay nợ của Vit Nam hin nay
Theo báo cáo của Bộ Tài chính, lãi suất vay nợ của Việt Nam đang có xu
hướng tăng lên. Điều này có thể là hệ quả của việc Việt Nam đã gia nhập nhóm
nước có thu nhập trung bình cũng như việc uy tín nợ quốc gia bị ảnh hưởng do một
số bất ổn của kinh tế vĩ mô và sự kiện Vinashin.
Sang năm 2010, vay nợ với lãi suất thấp 1 - 2,99%/năm chiếm khoảng 65,5%
tổng dư nợ. Đặc biệt, các khoản vay có lãi suất cao từ 6 - 10%/ năm trong năm 2010
cũng đã lên tới 1,89 tỷ USD, gấp hơn 2 lần năm 2009. Hiện các chủ nợ chính của
Việt Nam vẫn là Nhật Bản, Pháp, ADB, WB Các chủ nợ này đã nâng lượng nắm
giữ trái phiếu Chính phủ Việt Nam lên hơn 2 tỷ USD trong năm 2010 (so với con số
hơn 1 tỷ USD của năm 2009).
Theo Cục Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại, lãi suất trung bình nợ nước
ngoài của Chính phủ đã tăng từ 1,54%/năm vào năm 2006 lên 1,9%/năm trong năm
2009 và năm 2010 đạt tới 2,1%/năm.
Thực tế cũng cho thấy, lãi suất vay nợ của Việt Nam đang có xu hướng tăng
lên cả do Việt Nam đã bị giảm mức nhận ưu đãi vì gia nhập nhóm nước có thu nhập
trung bình, cũng như do ít nhiều giảm cả mức tín nhiệm quốc gia (theo một vài đánh
giá cá biệt là từ BB+ xuống BB) vì những e ngại bất ổn của kinh tế vĩ mô và sự kiện
Vinashin
Theo quan điểm của IMF thì tiêu chí đánh giá an toàn nợ nước ngoài đối với
các quốc gia có thu nhập thấp dựa vào hiện giá thuần của nợ và dịch vụ nợ,
một chính sách nợ yếu đồng nghĩa an toàn về nợ và một chính sách nợ mạnh
tăng gần 30% so với con số 1,29 tỷ USD của năm 2009
Theo đại biểu quốc hội Trần Du Lịch, Nợ nước ngoài của Việt Nam hiện
tương đương 50 tỉ USD, lớn gấp 3 lần so với dự trữ ngoại hối (khoảng 14-15 tỉ
USD). Năm 2011, dự kiến trả nợ 86.000 tỉ đồng, chiếm 12,5% tổng thu NSNN;
23
năm 2012 sẽ phải trả 100.000 tỉ đồng, chiếm 13,5% tổng thu NSNN-Một con số
không hề nhỏ trong quy mô khiêm tốn của NSNN hiện nay (trong khi Nợ công của
Thái Lan chỉ có 44,1% GDP và dự trữ ngoại hối là 176 tỉ USD; Indonesia, Malaysia
nợ công chỉ có 26,9% GDP, Philippines 47,3% ).
Theo Bộ trưởng Tài chính Vương Đình Huệ, hiện nay tổng số dịch vụ nợ (trả
nợ cả gốc và lãi) của Chính phủ chiếm khoảng 14% - 16% tổng ngân sách nhà nước.
Trong khi đó, theo thông lệ quốc tế, mức dịch vụ nợ an toàn là không quá 30% tổng
thu ngân sách.
Đặc biệt, theo cảnh bảo của Bộ Tài chính, dự trữ ngoại hối của Việt Nam
trong năm 2010 chỉ còn tương đương 187% tổng dư nợ ngắn hạn, giảm mạnh so với
con số 290% và 2.808% của các năm 2009 và 2008; trong khi mức khuyến nghị của
Ngân hàng thế giới WB là trên 200%.
Cần nhấn mạnh rằng, việc mua vào thêm 4-7 tỷ USD trong những tháng đầu
năm 2011 ít nhiều đã cải thiện tỷ lệ an toàn nợ/dự trữ ngoại hối của Việt Nam. Song,
việc mua vào này không phải là giải pháp bền vững xét dưới góc độ chống lạm phát
tiền tệ, vì nó dễ trở thành nguồn xung lực làm tăng lạm phát tiền tệ ở nước ta, nhất là
khi chậm thu hồi các khoản tiền đã chi thông qua bán trái phiếu Chính phủ .
Ngoài ra, cần thấy rằng khả năng trả nợ từ nguồn thu NSNN đang và sẽ có thể
gặp căng thẳng trong bối cảnh mà, khác với thông lệ hằng năm đều vượt thu, dự
toán thu ngân sách năm 2011 được Bộ trưởng Bộ Tài chính đánh giá là "chưa năm
nào khả năng tăng thu căng thẳng như năm nay và có dấu hiệu chững lại từ tháng 7-
2011". Đặc biệt, nguồn thu thuế từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI)
trong quý II/2011 giảm 83% so với quý I, quý III dự kiến giảm 40% so với 6 tháng
đầu năm với 50% số doanh nghiệp khai lỗ. Trong khi đó, theo Bộ KH&ĐT, với
khu vực kinh tế tư nhân trong nước thì số doanh nghiệp giải thể, phá sản và dừng