CHƯƠNG I: Một số vấn đề lý luận chung
I . Cơ sở lý luận về đầu tư trực tiếp ra nứoc ngoài.
1. Tổng quan về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
1.1 Khái niệm đầu tư trực tiếp ra nựớc ngoài.
Đầu tư ra nước ngoài là phương thức đầu tư vốn và tài sản ở nước
ngoài ,để tiến hành sản xuất,kinh doanh ,dịch vụ với mục đích kiếm lợi
nhuận và mục tiêu kinh tế xã hội nhất định. Dưới góc độ tài chính quốc tế thì
đó là sự chuyển một luồng vốn từ quốc gia này sang quốc gia khác để kinh
doanh với mục đích là kiếm lợi nhuận cao. Quá trình đầu tư ra nước ngoài
chịu ảnh hưởng tác động rất lớn của tỷ giá hối đoái trên thị trường quốc tế và
những rủi ro của các biến động kinh tế chính trị thế giới.
Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là hình thức chủ đầu tư nước ngoài đầu tư
toàn bộ hay một phần đủ lớn vốn vào các dự án nhằm dành quyền điều hành
và trực tiếp điều hành đối tượng mà họ đã bỏ vốn .
Theo nghi định của Chính Phủ số 78/2006/NĐ-CP quy định về đầu tư trực
tiếp ra nước ngoài, thì Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là việc nhà đầu tư
chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài để thực hiện hoạt động đầu tư và trực tiếp
tham gia quản lý hoạt động đầu tư đó ở nước ngoài.
Bản chất của của đầu tư trực tiếp ra nứớc ngoài là sự di chuyển một
khối lượng nguồn vốn kinh doanh dài hạn giữa các quốc gia nhằm thu lợi
nhuận cao hơn.Đó chính là hình thức xuất khẩu tư bản để thu lợi nhuận
cao .Do đi kèm với đầu tư vốn là đầu tư công nghệ và tri thức kinh doanh
nên hình thức này thúc đẩy mạnh mẻ quá trình CNH-HĐH ở các nước nhận
đầu tư .
1.2 Đặc điểm của đầu tư trực tiếp ra nước ngoài.
Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là một hình thức đầu tư quốc tế ,tức là nó đưa
vốn ra nước ngoài tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh với nhiều
Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam. Thực trạng và giải pháp
1
mục đích khác nhau,có thể mục đích lợi nhuận,hay một mục đích chính trị
nào khác .Nó có một số đặc điểm như sau:
đồng không áp dụng đối với hợp đồng thương mại, hợp đồng giao nhận sản
phẩm, mua thiết bị trả chậm và các hợp đồng khác không phân chia lợi
nhuận. Nội dung chính của hợp đồng này bao gồm:
- Quốc tịch, địa chỉ, đại diện có thẩm quyền của các bên hợp danh.
- Mục tiêu và phạm vi kinh doanh.
- Sản phẩm tiêu thụ chủ yếu, tỷ lệ xuất khẩu và tiêu thụ sản phẩm trong
nước
- Quyền và nghĩa vụ của các bên hợp doanh.
- Đóng góp của các bên hợp doanh, phân chia kết quả kinh doanh, tiến độ
thực hiện hợp đồng.
Trong quá trình kinh doanh các bên hợp doanh được phép thỏa thuận thành
lập ban điều phối để theo dõi giám sát công việc thực hiện hợp đồng, những
ban điều phối không phải là đại diện pháp lý cho các bên hợp doanh. Mỗi
bên hợp doanh phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của mình trước pháp
luật và có nghĩa vụ tài chính tùy theo bên nước nhận đầu tư qui đình. Trong
quá trình hoạt động các bên hợp doanh được quyền chuyển nhượng vốn cho
các đối tượng khác nhưng cũng phải ưu tiên cho đối tượng đang hợp tác .
Hình thức này có đặc điểm :
- Hai bên hợp tác kinh doanh trên cơ sở văn bản hợp đồng phân định trách
nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi .
- Thời hạn hợp đồng do hai bên thõa thuận.
- Vấn đề nguồn vốn kinh doanh không nhất thiết phải đề cập trong bản hợp
đồng.
1.3.2 Hình thức Doanh Nghiệp liên doanh.
Hình thức Doanh Nghiệp liên doanh là một tổ chức kinh doanh quốc
tế của các bên tham gia có quốc tịch khác nhau.Trên cơ sở góp vốn cùng
Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam. Thực trạng và giải pháp
3
kinh doanh, nhằm thực hiện cam kết trong hợp đồng liên doanh và điều lệ
doanh nghiệp liên doanh, phù hợp với khuôn khổ luật pháp nước nhận đầu
quốc tế có tư cách pháp nhân, trong đó nhà đầu tư nước ngoài đóng góp
100% vốn pháp định, tự chịu trách nhiệm hoàn toàn về kết quả kinh doanh
của doanh nghiệp .
Đặc điểm cơ bản của hình thức này là :
- Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là một pháp nhân của nước
nhận đầu tư nhưng toàn bộ doanh nghiệp lại thuộc sở hữu của người nước
ngoài. Hoạt động sản xuất kinh doanh theo nước nhận đầu tư và điều lệ của
doanh nghiệp . Hình thức pháp lý của Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
do nhà đầu tư nước ngoài lựa chọn trong khuôn khổ của pháp luật .Quyền
quản lý doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài hoàn toàn chịu trách nhiệm .
- Nhà đầu tư tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh của doanh
nghiệp .Phần kết quả của doanh nghiệp sau khi hoàn thành nghĩa vụ tài
chính với nước sở tại là thuộc sở hữu hợp pháp của nhà đầu tư nước ngoài .
- Nhà đầu tư nước ngoài tư nước ngoài tự quyết định các vấn đề các
vấn đề trong doanh nghiệp và các vấn đề liên quan để kinh doanh đạt hiệu
quả cao nhất trong khuôn khổ của pháp luật cho phép .
1.3.4 Ngoài ra, tùy từng quốc gia có thể có các hình thức đầu tư trực tiếp
khác như hình thức BOT;BTO; BT ; Hình thức cho thuê – bán thiết bị ; công
ty cổ phần ; công ty quản lý vốn.
1.4 Vai trò của đầu tư trực tiếp ra nước ngoài.
1.4.1 Một số mô hình đầu tư ra nước ngoài:
a. Mô hình MacDougall-Kempt
Mục tiêu của mô hình chỉ ra rằng. Khi thực hiện đầu tư ra nước ngoài,
năng suất cận biên của việc sử dụng vốn giữa các nước chủ nhà có xu hướng
cân bằng . Kết quả là các nguồn lực kinh tế được sử dụng có hiệu quả, tổng
sản phẩm gia tăng và đem lại sự giàu có cho các nước tham gia đầu tư .
Mô hình được xây dựng dựa trên giả định sau:
Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam. Thực trạng và giải pháp
5
+ Nền kinh tế thế giới được thực hiện bởi nước đầu tư và nước chủ nhà,
2
mUQ. Giá cả sử dụng vốn ở nước nhận đầu tư là QT thấp hơn ở
nước chủ nhà là QU, do đó vốn đầu tư sẽ chảy tư nước đi đầu tư sang nước
tiếp nhận đầu tư (Q → S) cho đến khi năng suất cận biên của hai nước là
bằng nhau:
Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam. Thực trạng và giải pháp
6
T
P
U
SP = O
1
E = O
2
e
Tổng sản phẩm của hai nước là:
O
1
MTQ + O
2
MUQ
• Sau khi có đầu tư trực tiếp nước ngoài:
Tổng sản phẩm của nước đi đầu tư là O
1
MPS và của nước tiếp nhận đầu
tư là O
2
MPm. Lợi ích thu được từ hoạt động đầu tư nước ngoài :
- Tổng sản phẩm của hai nước sau khi có đầu tư nước ngoài là ( O
1
1.4.2 Vai trò của đầu tư ra nước ngoài.
Đầu tư ra nước ngoài là một lĩnh vực mới trong chiến lược đầu tư ở nước ta.
Ngày nay đầu tư ra nước ngoài ngày càng có vị trí quan trọng ,chiếm tỷ trọng
ngày càng lớn trong công tác đầu tư của nền kinh tế ,thể hiện một vai trò hết
sức lớn . Cụ thể vai trò của chúng được phân tích ở một số khía cạnh sau đây:
Thứ nhất : Tạo cơ hội nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực tài
chính .Đầu tư ra nước ngoài nó có lợi ích cho cả bên, bên nhận đầu tư và bên
đầu tư. Đầu tư ra nước ngoài là hình thức luân chuyển vốn dư thừa tương đối
trong nước ra nền kinh tế khác ở nước ngoài. Nó giải quyết được vấn đề sử
dụng số vốn thừa tương đối này sao cho có hiệu quả cao nhất…Việc mở
rộng và phát triển hoạt động đầu tư ra nước ngoài tạo điều kiện thuận lợi cho
việc di chuyển các nguồn lực ra khỏi phạm vi của một quốc gia, với một
phạm vi rộng hơn và môi trường khác hơn đó là trên bình diện quốc tế.
Trong môi trường đó các nhà đầu tư có thể lựa chọn môi trường và lĩnh vực
đầu tư ra nước ngoài có lợi nhuận cao hơn đầu ở trong nước .
Thứ hai : Đầu tư ra nước ngoài tạo cơ hội mở rộng thị trường kinh
doanh, tăng cường học hỏi kinh nghiệm kinh doanh, nâng vị thế hình ảnh
của nước chủ đầu tư trên thị trường quốc tế. Khi đầu tư ra nước ngoài thì sẽ
có cơ hội cung ứng sản phẩm sản xuất của doanh nghiệp mình tại nước sở tại
một cách hợp pháp, dễ dàng, không chịu các điều kiện ràng buộc ngặt nghèo
khi xuất khẩu hàng hóa trực tiếp phải chịu. Đây là điều kiện tốt để thâm
nhập sâu vào thị trường nội địa của nước sở tại, mở rộng thị trường tiêu thụ.
Khi đầu tư vào một nước phát triển, với cơ sở vật chất và điều kiện hiện đại,
Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam. Thực trạng và giải pháp
8
tác phong công nghiệp. Đây là cơ hội tốt để hoàn thiện phương cách quản lý
hiện đại của Doanh nghiệp mà trong nước không có điều kiện áp dụng, học
tập cơ chế quản lý hiện đại .
Thứ ba : Thúc đẩy các nền kinh tế quốc gia nhanh chóng hòa nhập vào
gia, các dân tộc trên toàn thế giới. Toàn cầu hóa là xu thế quốc tế hóa phát
triển ở giai đoạn cao. Toàn cầu hóa là xu thế hướng đi đến hình thành một
nền kinh tế thế giới thống nhất trên phạm vi toàn cầu, trong đó có sự tham
gia của các quốc gia trên thế giới. Dưới tác động qua lại lẫn nhau ảnh hưởng
phụ thuộc lẫn nhau, bổ sung cho nhau của các nền kinh tế ngày càng tăng,
các yếu tố cản trở nền sản xuất càng mất đi bởi sự tự do hóa nền kinh tế và
thương mại toàn cầu. Một đặc trưng cơ bản của toàn cầu hóa nền kinh tế thế
giới là sự phát triển nhanh chóng của quan hệ kinh tế - thương mại và quan
hệ chủ yếu hàng hóa dịch vụ ,vốn , lao động…trên phạm vi toàn thế giới.
Trong những mối quan hệ đó, các quốc gia liên kết chặt chẽ với nhau, phụ
thuộc lẫn nhau trong sự phân công và hợp tác kinh doanh – thương mại trên
phạm vi toàn cầu, có sự lưu thông hàng hóa dịch vụ, vốn, công nghệ, các
nguồn nhân lực trên phạm vi toàn cầu, chịu sự điều tiết của các qui tắc
chung toàn cầu. Chính vì vậy, hội nhập kinh tế quốc tế là tất yếu, quá trình
mỗi quốc gia tạo điều kiện tự do hóa và hỗ trợ (theo cam kết song phương
hoặc đa phương cấp chính phủ) cho hoạt động của các dòng vốn, hàng hóa,
dịch vụ lao động qua biên giới nước mình theo cả hai chiều: dòng vào và
dòng ra …Thực tiễn thế giới chứng tỏ rằng một nước mà dòng đầu tư ra
nước ngoài càng mạnh thì càng có nhiều khả năng mở rộng thị trường, tăng
cơ hội đầu tư kinh doanh, tăng việc làm và tăng động lực phát triển kinh tế
đất nước. Mỹ, Nhật -những nước có nền kinh tế đứng nhất nhì thế giới –
cũng đồng thời là những nước có dòng đầu tư ra nước ngoài lớn nhất thế
giới. Đặc biệt, chính phủ Nhật Bản là tấm gương điển hình về sự quan tâm
hỗ trợ các doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài. Những hiệp định đầu tư cấp
chính phủ được ký kết để mở lối và tạo khuôn khổ pháp lý thuận lợi, an toàn
cho doanh nhân Nhật Bản triển khai các hoạt động kinh doanh của mình ở
Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam. Thực trạng và giải pháp
10
nước ngoài. Ngay cả các điều kiện kèm theo những khoản ODA và viện trợ
khác ( thường là chỉ định nguồn cung cấp và chủ thầu…,cũng có mục tiêu
tiếp tục đối mặt với chế độ bảo hộ mậu dịch mà chủ yếu bằng các hàng rào
phi thuế quan ngày càng quyết liệt của các nước phát triển. Mặc dù sự ràng
buộc pháp luật của WTO đối với hàng rào thuế quan ngày càng được hoàn
thiện nhưng các nước phát triển vẫn lợi dụng những sơ hở trong “luật chơi”
để tiến hành bảo hộ mậu dịch.WTO với tư cách là tổ chức thương mại lớn
nhất toàn cầu cũng đã có những quy định rõ ràng về chính sách bảo hộ.Nếu
công nghiệp nội địa của một thành viên WTO do sự tăng vọt nhập khẩu sản
phẩm nào đó mà bị tổn hại hoặc đe dọa tổn hại ,thì nước đó có thể tạm thời
hạn chế nhập khẩu sản phẩm đó .Sự tổn hại trong trường hợp này phải
nghiêm trọng .Theo GATT ( điều 19 ) thì có thể áp dụng các biện pháp bảo
hộ .Nhưng không thể áp dụng thường xuyên Trong điều kiện cạnh tranh gay
gắt khi bước vào toàn cầu hoá, quyền lợi và mục đích khác nhau nên tranh
chấp lợi ích kinh tế thương mại là không thể tránh khỏi. Đặc biệt là tranh
chấp thương mại giữa các nước tư bản phát triển và các nước đang phát
triển. Đây là một xu thế có những nội dung mới đáng chú ý.
Vấn đề bức xúc nhất hiện nay đối với các nước đang phát triển là chủ
nghĩa bảo hộ mậu dịch của các nước công nghiệp phát triển đang cản trở nỗ
lực tự do hoá mậu dịch nông sản của các nước đang phát triển, cản trở công
cuộc xoá đói giảm nghèo ở các nước này. Ngân hàng Thế giới (WB) vừa
công bố nghiên cứu cho thấy nếu Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)
thành công trong việc dỡ bỏ các rào cản thương mại, các nước nghèo nhất
thế giới sẽ được hưởng lợi nhiều nhất. Theo ước tính của WB, việc xoá bỏ
thuế quan, trợ cấp và các chương trình hỗ trợ trong nước sẽ giúp nền kinh tế
thế giới có thêm 300 tỷ đôla vào năm 2015, trong đó có 2/3 là lợi nhuận thu
được từ nông nghiệp. Tính theo tỷ trọng GDP, lợi ích kinh tế mà các nước
Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam. Thực trạng và giải pháp
12
đang phát triển nhận được sẽ nhiều hơn 1/3 so với các nước giàu và lợi ích
kinh tế mà các nước châu Phi cận Xahara sẽ được hưởng nhiều nhất.
Tại Hội nghị Bộ trưởng của nhóm 20 nước đang phát triển ở Niu Đêli
phải có một chính sách mới để hạn chế tình trạng bảo hộ…gây thiệt hại đến
tình hình phát triển của doanh nghiệp , khả năng xuất khẩu ra nước ngòai
của các nước. Và đầu tư ra nước ngoài là một sự lựa chọn đúng đắn.
Một số rào cản thương mại
Ngoài rào cản truyền thống là sử dụng thuế quan, các nước phát triển có
xu hướng áp dụng một số rào cản thương mại thông dụng khác sau đây:
Rào cản phi thuế quan: Là rào cản không dùng thuế quan mà sử dụng các
biện pháp hành chính để phân biệt đối xử chống lại sự thâm nhập của hàng
hoá nước ngoài, bảo vệ hàng hoá trong nước. Các nước công nghiệp phát
triển thường đưa ra lý do là nhằm bảo vệ sự an toàn và lợi ích của người tiêu
dùng, bảo vệ môi trường trong nước đã áp dụng các biện pháp phi thuế quan
để giảm thiểu lượng hàng hoá nhập khẩu.
Nhật Bản quy định cấm nhập khẩu đậu lạc có chứa Apflatoxin, Pháp không
cho nhập khẩu thịt bò mà trong quá trình chăn nuôi có sử dụng chất tăng
trọng. Tháng 2/2002 EU loại Trung Quốc ra khỏi danh sách các nước được
phép xuất khẩu thuỷ sản vào khu vực do nước này không đáp ứng được yêu
cầu kiểm soát dư lượng kháng sinh Cloramphenicol.
Rào cản kỹ thuật TBT (Technological Barrier to Trade): Đây là hàng rào
quy định về hệ thống quản trị chất lượng, môi trường, đạo đức kinh doanh,
điểm kiểm soát tới hạn..., đối với các doanh nghiệp khi thâm nhập vào thị
trường. Hệ thống TBT gồm có:
Hệ thống quản trị chất lượng ISO 9001:2000
Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam. Thực trạng và giải pháp
14
Hệ thống này đã được trên 140 quốc gia áp dụng. ISO 9001:2000 đề cập chủ
yếu đến các lĩnh vực về chất lượng, theo Tổ chức Phát triển công nghiệp của
Liên hợp quốc (UNIDO) các doanh nghiệp áp dụng hệ thống này sẽ:
- Đáp ứng được yêu cầu của khách hàng trong và ngoài nước.
- Nâng cao tinh thần làm việc và đoàn kết của nhân viên trong doanh nghiệp.
- Vượt qua rào cản trong thương mại quốc tế.
cưỡng bức, phân biệt đối xử, bắt người lao động làm việ quá thời hạn cho
phép của Luật lao động.
Ngoài ra còn 1 số hệ thống khác như QS 9000: áp dụng cho các doanh
nghiệp sản xuất ôtô; Q-Base: áp dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
2.3 Phát triển không đồng đều giữa các ngành kinh tế
Giữa các ngành kinh tế trong một nước có sự phát triển không đồng đều
nhau .điều này có được do nhiều nguyên nhân ví dụ như: sự ưu tiên phát
triển giữa các vùng của chính phủ ; do nền tảng phát triển trước kia của nền
kinh tế đó;vị trí địa lý thuận lợi tạo môi trường thu hút vốn ;tất cả đều dẫn
đến sự phát triển không đồng đều .có ngành phát triển ở mức độ quá cao dẫn
đến có một tình trạng thừa tương đối các giá trị tư bản dẫn đến hiện tượng
chu chuyển tư bản giũa các vùng với nhau,với nhiều mục đích khác nhau.ví
dụ như lợi nhuận , sự thuận lợi hơn trong buôn bán hàng hóa , hay là một
mục đích chính trị nào đấy…
2.3.1 Trình độ sản xuất đạt mức độ nhất định
Trình độ phát triển của một nền sản xuất tác động mạnh mẽ đến xu
hướng đầu tư ra nước ngoài. Các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay thì theo
viện nghiên cứu quản lý TW (CIEM), trình độ máy móc thiết bị của các
Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam. Thực trạng và giải pháp
16
doanh nghiệp hiện nay đạt mức trung bình tiến tiến. Phần lớn các doanh
nghiệp đang sử dụng các dây chuyền công nghệ , máy móc thiết bị có mức
đồng bộ từ mức trung bình đến cao và thuộc thế hệ từ những năm 80 trở lại
đây. Số doanh nghiệp sử dụng dây chuyền công nghệ đồng bộ thấp và chắp
vá thuộc thế hệ từ những năm 70 còn không nhiều. Về mức độ làm chủ công
nghệ ,các doanh nghiệp vẫn còn phụ thuộc nhiều vào nguyên liêu nhập khẩu,
thiết bị công nghệ nhập khẩu ; phụ thuộc ít hơn vào bí quyết công nghệ và
chuyên gia nước ngoài. Nền tảng công nghệ trong nước phát triển tương đối
toàn diện những khoảng cách giữa các ngành có sự chênh lệch. Sự khác biệt
về trình độ công nghệ giữa các doanh nghiệp phân theo ngành là tương đối
Việt Nam còn ở châu Phi mà còn bởi vì những lĩnh vực hợp tác nông nghiệp
này vẫn tiếp tục được phát triển sau khi chuyên gia Việt Nam đã rời đi, vì
những bí quyết đó đã được chuyển giao cho người địa phương để họ có thể
tự mình đảm đương công việc. Nhận ra hiệu quả của chương trình này, FAO
đã đề nghị nhân rộng hình thức hợp tác này tới các nước đang phát triển ở
châu Phi và Đông Nam Á. Tính đến 5/2000, Việt Nam đã ký hợp đồng theo
hình thức 3 bên với 14 nước và có thể sẽ mở rộng ra 30 nước khác trên khắp
thế giới. Để làm được vịêc này, Việt Nam đã có kế hoạch gửi 14.000-18.000
chuyên gia tới những nước này. Thành công trong viêc chuyển giao công
nghệ này giúp khai thác tốt hơn năng lực đang còn dư thừa trong nước, tạo
công ăn việc làm .
- Không chỉ trong lĩnh vực nông nghiệp mà ngành công nghiệp như
khai thác dầu khí, công nghiệp xây dựng cơ bản, điện lực…là những thế
mạnh của Việt Nam cần tìm chỗ đứng không chỉ trong nước mà còn ra cả
thế giới.
Sự “ thừa tương đối về nhu cầu công nghệ ” do sự phát triển không đồng
đều, nó đòi hỏi tìm một nơi để có thể tận dụng ưu thế, vừa có điều kiện phát
triển chính nó _đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là một giải pháp hợp lý .
2.3.2 Mở rộng thị trường _xu hướng chung của các công ty lớn
Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam. Thực trạng và giải pháp
18
Các công ty không ngừng thực thi các chiến lược nhằm phát triển
luồng tiền mặt của mình và do đó nâng cao được giá trị cho các cổ đông. Có
một số chiến lược nhằm phát triển trong khu vực nội địa. Những chiến lược
này thường được thực thi không khó lắm vì thông tin về thị trường đã được
biết và việc kinh doanh không cần thiết phải thay đổi nhiều. Một số chiến
lược khác nhằm vào thị trường nước ngoài có thể rất khác so với thị trường
trong nước, chúng tạo ra cơ hội cho sự phát triển các lưồng tiền mặt của
công ty. Nhiều hàng rào ngăn cản việc thâm nhập thi trường các nước lẫn
nhau đã được tháo gỡ hoặc đã được giảm bớt trong những năm gần đây do
1989-1998; quy mô vốn đầu tư bình quân đạt 4,27 triệu USD/dự án, cao hơn
giai đoạn 1989-1998.
Từ năm 2006 khi ban hành Nghị định 78/2006/NĐ-CP ngày 09/9/2006 của
Chính phủ quy định về ĐTRNN của doanh nghiệp Việt Nam tới hết năm 2007
có 100 dự án ĐTRNN với tổng vốn đăng ký đạt trên 816,49 triệu USD; tuy
chỉ bằng 76% về số dự án, nhưng tăng 45% về và gấp 40 lần tổng vốn đầu tư
đăng ký so với giai đoạn 1999-2005; quy mô vốn đầu tư bình quân đạt 8,16
triệu USD/dự án, cao hơn thời kỳ 1999-2005.
Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài tăng dần theo các năm, trong những năm
gần đây đầu tư nước ngoài không những tăng về số dự án mà còn tăng lên cả
vốn đầu tư. Điều này được biểu hiện trong bảng dưới đây.
Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam. Thực trạng và giải pháp
20
Bảng biểu thị số dự án và số vốn trong các năm tư 1989 đến 2007
Năm Số dự án Vốn đăng ký
(USD)
Vốn bình quân /dự
án(USD)
1989 1 563.380 563.380
1990 1 - -
1991 3 4.000.000 1.333.333
1992 3 5.282.051 1.760.684
1993 5 690.831 138.166
1994 3 1.306.811 435.604
1998 2 1.850.000 925.000
1999 10 12.337.793 1.233.779
2000 15 6.865.370 457.691
2001 13 7.696.452 592.035
2002 15 171.959.576 11.463.972
2003 25 27.309.485 1.092.379
có 12 dự án, tổng vốn đầu tư là 78 triệu USD.
Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài phân theo đối tác nhận vốn đầu tư 1989-2006.
Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam. Thực trạng và giải pháp
22
Số dự
án
Vốn đăng ký (Triệu đô la Mỹ)
(*)
Tổng số
Trong đó: Vốn điều lệ
Tổng số
Chia ra
Nước
ngoài
góp
Việt
Nam
góp
TỔNG SỐ 190 969.7 681.0 324.5 356.5
Trong đó:
An-giê-ri 1 243.0 243.0 208.0 35.0
Cô-oét 1 1.0 1.0 1.0
Căm-pu-chia 16 57.1 52.2 13.1 12.1
Cộng hòa Séc 2 1.9 0.3 0.3
CHLB Đức 4 4.8 3.5 2.5 0.9
Hàn Quốc 3 1.3 1.3 0.2 1.0
Đặc khu hành chính
rủi ro ít. Tuy nhiên, năm 2008 các DN Việt Nam sẽ mở rộng thị trường đầu
tư hơn trước, đã tìm đến những thị trường khó tính như Trung Đông. Trong
năm 2008, thị trường ở khu vực Đông Âu, Bắc Phi, châu Mỹ La tinh, Trung
Đông, cũng đang là điểm đầu tư hấp dẫn của nhiều DN Việt Nam. Tại mỗi
khu vực trên các DN Việt Nam sẽ đầu tư vào một số lĩnh vực trọng tâm bao
gồm dầu khí (Đông Nam Á, châu Phi), điện lực (Lào, Trung Quốc), khai
thác khoáng sản (Lào), viễn thông (Lào, Campuchia, Hồng Kông,
Singapore, Hoa Kỳ), giao thông vận tải (Singapore, Hồng Kông, Nga), kinh
doanh xuất nhập khẩu, thương mại bán lẻ (Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản,
Singapore, Trung Quốc)...
1.3 Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài phân theo ngành đầu tư
Các dự án đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam tập trung
chủ yếu trong lĩnh vực công nghiệp với 100 dự án, tổng vốn đầu tư là 893,6
triệu USD, chiếm 40,16% về số dự án và 64,3% tổng vốn đăng ký đầu tư ra
nước ngoài. Trong đó, đáng chú ý có một số dự án quy mô vốn trên 100
triệu USD, như: dự án Thủy điện Xekaman 3 của Công ty cổ phần đầu tư và
phát triển điện Việt – Lào với tổng vốn đầu tư 273 triệu USD, dự án thăm dò
khai thác dầu khí tại Angiêri của Tập đoàn dầu khí Việt Nam với tổng vốn
đầu tư 243 triệu USD, 2 dự án thăm dò khai thác dầu khí của Công ty đầu tư
phát triển dầu khí tại Madagascar với tổng vốn đầu tư 117,36 triệu USD, tại
I Rắc tổng vốn đầu tư 100 triệu USD.
Tiếp theo là đầu tư ra nước ngoài trong lĩnh vực nông-lâm-ngư nghiệp với
53 dự án, tổng vốn đăng ký đầu tư ra nước ngoài là 286 triệu USD, chiếm
21,3% về số dự án và 20,57% tổng vốn đăng ký đầu tư ra nước ngoài. Trong
đó, phần lớn là dự án trong lĩnh vực trồng cao su, cây công nghiệp tại Lào
với một số dự án quy mô lớn như: (i) Công ty cổ phần cao su Dầu Tiếng
Việt – Lào, tổng vốn đầu tư 81,9 triệu USD, (ii) Công ty cao su Đắc Lắc,
Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam. Thực trạng và giải pháp
24
tổng vốn đầu tư 32,3 triệu USD, (iii) Công ty cổ phần cao su Việt – Lào,